1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại nguyễn ngọc hùng lương sơn thái nguyên

70 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG SƠN, THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG SƠN, THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K45 - CNTY - N04

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013- 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Ngọc Dương

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập trại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể và cá nhân

Trước hết, em gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, các Thầy giáo, Cô giáo đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

TS.Dương Ngọc Dương đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành

báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

Đồng thời em xin chân thành cảm ơn chủ trại lợn nái Ông Nguyễn Ngọc Hùng, các anh kỹ sư và toàn bộ công nhân viên trong trang trại đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt công việc trong quá trình thực tập của mình

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người thân yêu luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp này

Thái Nguyên, ngày tháng06năm 2017

Sinh viên

Hà Quang Tráng

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Quy trình tiêm phòng cho đàn lợn của trại 7

Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 21

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 40

Bảng 4.2 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 41

Bảng 4.3 Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 42

Bảng 4.4 Lịch phòng bệnh bằng thuốc cho đàn lợn 43

Bảng 4.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 48

Bảng 4.6 Kết quả sản xuất của trại qua các năm 49

Bảng 4.7 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 50

Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 51

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 52

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 53

Trang 5

DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT

E.coli: Escherichia coli

Nxb: Nhà xuất bản STT: Số thứ tự

VĐSD: Viêm đường sinh dục LMLM: Bệnh lở mồm long móng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4

2.1.3 Thuận lợi, khó khăn 6

2.1.4 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập 6

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái 8

2.2.2 Một số bệnh ở lợn nái 19

2.2.3 Phòng bệnh sinh sản lợn nái 28

2.2.4 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng chữa bệnh 30

2.3 Những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến chuyên đề 31

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 31

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 33

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

Trang 7

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 37

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

3.3 Nội dung nghiên cứu 37

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 37

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 37

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 38

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39

4.1.1 Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng bệnh cho đàn lợn 39

4.1.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 44

4.1.3 Công tác khác 47

4.1.4 Kết quả sản xuất của trại qua các năm 49

4.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 49

4.3 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 51

4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 52

4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 52

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 53

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo hướng trang trại và hộ gia đình Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Nó đã góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nông thôn nước ta Không chỉ để phục vụ cho tiêu dùng, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn phải tiến tới xuất khẩu với số lượng lớn Là nguồn cung cấp thực phẩm với tỉ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và

là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ, cho ngành công nghiệp chế biến

Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả to lớn như: Tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ

lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kĩ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng

Trong đó, công tác thú y đã được đặc biệt chú ý đến

Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đối với lợn nái nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp cho nên

tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn

Trang 9

lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém Mặt khác trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt đây là các loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai…nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần năng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả của điều trị bệnh, tiết kiệm chi phí nái nuôi tại trại Nguyễn Ngọc Hùng – Lương Sơn – Thái Nguyên

Từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Ngọc Hùng, Lương Sơn, Thái Nguyên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

-Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Trại lợn gia đình nhà ông Nguyễn Ngọc Hùng được xây dựng trên khu đất đồi tại xóm Sau, xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Toàn bộ trang trại có tổng diện tích 6ha

* Đất đai:

Xã Lương Sơn là một xã miền núi trung du nên sản xuất nông nghiệp

là chính, cây trồng chủ yếu là cây lúa nên chăn nuôi phát triển góp phần nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong trại nói riêng và trong toàn vùng nói chung

Toàn bộ trại có diện tích 6.ha trong đó:

Trang 11

4 tới tháng 9: nhiệt độ trung bình (21oC - 29oC) Mùa lạnh, mưa ít từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau: nhiệt độ trung bình (13,5oC - 24,8oC) Tổng số giờ nắng trong năm 1.600 giờ - 1.800 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.400mm - 1.800mm, độ ẩm tương đối trung bình 85 - 90%

Với điều kiện khí hậu như vậy nhìn chung thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, vẫn có những giai đoạn khí hậu thay đổi thất thường như lũ lụt, hạn hán cũng ảnh hưởng xấu đến chăn nuôi cũng như trồng trọt

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Cơ cấu tổ chức của trại:

Trại có đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề, đã có kinh nghiệm trong nghề Đặc biệt trại có đội ngũ kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình, có năng lực

Toàn trại có 08 người với cơ cấu tổ chức như sau:

- Công nhân chia làm 3 tổ:

+ Tổ ca ngày: 4 người gồm 4 công nhân

+ Tổ ca đêm: 1 người

+ Tổ bảo vệ: 1 người

- Cơ sở vật chất kỹ thuật:

+ Hệ thống chuồng trại:

Khu sản xuất của trại được đặt trên một khu đất cao ráo, dễ thoát nước

và tách với khu hành chính, hộ gia đình Chuồng trại được xây dựng theo

Trang 12

hướng Đông Nam, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Xung quanh trại có tường rào bao bọc, cổng ra vào trại và các nơi sản xuất

có hố sát trùng riêng

Khu vực dành cho chăn nuôi 2.000m2 và được bố trí như sau:

Khu chuồng phối và chuồng bầu: 1 dãy chuồng

Khu chuồng đẻ: 1 dãy chuồng

Khu chuồng thịt: 3 dãy chuồng

Ngoài ra, trại còn có phòng trực, văn phòng Hệ thống chuồng trại ở đây được xây dựng theo thiết kế đảm bảo yêu cầu khép kín kết hợp hầm Biogas tận dụng chất thải trong chăn nuôi để chăm sóc vườn cây trong trang trại Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái và sàn nhựa cho lợn con, hệ thống cung cấp nước uống tự động Hệ thống che chắn kín đáo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hệ thống máng ăn công nghiệp Trại có tường rào bao quanh nhằm ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu chăn nuôi Hệ thống nước sạch được lấy từ giếng nước khoan để tắm cho lợn và rửa chuồng hàng ngày

+ Các công trình phụ trợ:

Ngay cạnh khu vực sản xuất có một phòng kỹ thuật, một kho cám, một phòng thuốc và một phòng trực của cán bộ công nhân viên, một nhà để máy phát điện

Trong đó phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ như: xi lanh, panh, dao mổ, kìm bấm tai, kìm cắt đuôi, cân, bình phun thuốc sát trùng, kính hiển vi, tủ lạnh, nồi để nấu nước cất…

Phòng thuốc là nơi để thuốc thú y và các loai vaccxine

Nhà kho là nơi để cám cho lợn, trại có 2 bể nước, 4 giếng khoan và

7 máy bơm nước phục vụ cho việc cung cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt

Trang 13

2.1.3 Thuận lợi, khó khăn

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.1.4 Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập

- Đối với chăn nuôi: năm 2010 trại bắt đầu đi vào hoạt động với quy mô

80 nái, 1 lợn đực giống với hệ thống chuồng trại hiện đại và khá hoàn chỉnh

Kết quả sản xuất lợn con trong 3 năm trở lại đây như sau:

Trang 14

pháp tình thế khi có dịch xảy ra, việc phòng bệnh được tiến hành thường xuyên, định kỳ theo nội dung cụ thể sau:

+ Thực hiện triệt để công tác vệ sinh phòng bệnh bằng phương pháp sinh học như trồng cây xanh xung quanh trại để cải thiện môi trường, có hố vôi sát trùng, phát cỏ xung quanh chuồng…

+ Định kỳ tiêm phòng cho đàn lợn bằng vaccine theo quy định tiêm phòng như sau:

Bảng 2.1 Quy trình tiêm phòng cho đàn lợn của trại

STT Loại lợn Loại vaccine

Liều lƣợng (ml/con)

Thời điểm tiêm phòng

phối Tai xanh, Giả dại, Tẩy

Trang 15

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái

2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ phận sinh dục của lợn nái

Theo Đặng Quang Nam (2002) [16], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:

- Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5-2,5cm), khối lượng

3-5 gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3-4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên

Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng

Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết

ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc

tính thứ cấp của con cái)

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc

nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung

Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ 2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển

của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái

Trang 16

Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30-50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng

tử cung Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau

Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn

- Âm đạo (Vagina): Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm

hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh

Cấu tạo: Lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo Lớp giữa là lớp cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết bọc ngoài Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong

đó có nhiều chất nhờn Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi

ra của thai

- Âm hộ (Vulva): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau

âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn

có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và khí quan cương cứng gọi là âm vật (Clitoris)

Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau bởi 2 mép Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong Mép trên hơi nhọn,

Trang 17

mép dưới rộng bao quanh âm vật Mép trên và dưới được bao bởi lớp da mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông

Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:

+ Màng trinh (Hymen): Ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ

+ Lỗ đái là đường thông ra của niệu đạo con cái Lỗ đái nằm ở thành dưới âm môn ngay sau dưới màng trinh hình một cái khe có van trùm lên, cánh van hướng về sau Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền đình Đôi tuyến này tiết ra dịch nhờn làm ẩm ướt cửa vào âm đạo phía trong

âm hộ và có thành phần sát khuẩn

+ Âm vật (Clitoris): Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh

nên tính cảm giác tập trung ở đây cao

Cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau: Lớp da mỏng mịn có nhiều sắc tố, lớp cơ gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, lớp niêm mạc trong cùng có nhiều tuyến tiết dịch nhờn

- Tuyến vú (Mamma): Lợn là động vật đa thai có từ 6-8 đôi vú xếp 2

hàng từ vùng ngực đến vùn bụng bẹn Tuyến này chỉ phát triển khi con cái đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc còn non Vú gồm có bầu vú và núm vú

+ Bầu vú: Bầu to đó là nơi sản sinh và chứa sữa Ngoài cùng có lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có 2 phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong như tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú làm nhiều thùy nhỏ trong đó

có nhiều sợi đàn hồi

Trang 18

Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo 3 loại ống dẫn: Nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra ở đỉnh đầu vú

Để hình thành một lít sữa phải có 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc

+ Núm vú: Một bầu vú có một núm vú cấu tạo bởi da - tổ chức liên kết

- cơ - ống dẫn sữa Ống dẫn sữa gồm 2-3 ống thông nối từ xoang sữa (bể sữa)

ra đầu núm vú Ở đầu núm vú, sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa

Những núm vú có 1 ống dẫn cho ít sữa hơn núm vú có 3 ống dẫn và ở lợn nái

đẻ lứa đầu, tỉ lệ núm vú 1 ống dẫn nhiều hơn so với lợn đã đẻ nhiều lứa Gia súc còn non thì tuyến vú của con đực và con cái đều giống nhau, khi gia súc cái sinh trưởng và phát dục thì các mô liên kết và mô mỡ tuyến vú tăng dần làm cho thể tích tuyến vú tăng lên, đến khi gia súc đến giai đoạn thành thục về tính thì tuyến vú của con cái phát triển: Các ống dẫn, sinh trưởng nhanh và phát triển nhiều nhánh nhỏ phức tạp, đồng thời thể tích bầu vú và đầu vú cũng

đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh

Trang 19

dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng

+ Giống

Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thì thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [5], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg

Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50-55kg Lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65- 80 kg Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4

- 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp

Theo John Nichl (1992) [11], chỉ rõ lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi)

và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi)

Trang 20

+ Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu

bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con nái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane R.(2000) [8], mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đ ảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [5], cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

Trang 21

* Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Theo Nguyễn Đức Hùng và cs.(2003) [9], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình

và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Đối với lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 – 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 – 50 kg, đối với lợn nái ngoại lúc 8 – 9 tháng tuổi khi khối lượng đạt 115 – 120 kg thì mới nên cho phối giống

* Chu kỳ động dục

Lợn nái sau khi thành thục về tính thì cứ mỗi khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng và động dục Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs.(1995) [20], chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày, thời gian động dục tùy thuộc vào các giống lợn Lợn nái nuôi con sau đẻ 3 – 4 ngày thường có hiện tượng động dục trở lại nhưng không cho phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều

Sau cai sữa 3 – 5 ngày lợn nái động dục trở lại, cho phối lúc này lợn

sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao (Hội chăn nuôi Việt Nam,

2006 ) [10]

Một chu kỳ động dục của lợn nái thường được chia làm 4 giai đoạn, đó

là giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh

+ Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục, thường kéo dài 1 – 2 ngày và được tính từ khi thể vàng của lần động dục trước tiêu biến đến lần

Trang 22

động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp

nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh Dưới ảnh hưởng của estrogen cơ

quan sinh dục có nhiều biến đổi như: tế bào vách ống dẫn trứng phát triển

có nhiều nhung mao để chuẩn bị đón trứng rụng Màng nhầy tử cung âm đạo tăng sinh, được cung cấp nhiều máu Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi

có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30 giờ

Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

+ Giai đoạn sau động dục

Đây là giai đoạn kéo dài từ ngày thứ 3 – 4 tiếp theo của giai đoạn động dục, lúc này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn nái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn

+ Giai đoạn yên tĩnh

Giai đoạn này thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến ( khoảng 14 – 15 ngày kể từ lúc rụng trứng) Đây là giai đoạn dài nhất trong cả chu kỳ sinh dục, con vật

Trang 23

không có biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn

bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

* Thời điểm phối giống thích hợp

Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [25] trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48 giờ Như vậy, phải cho lợn cái phối giống 10 -12 giờ trước lúc rụng trứng tức là 20 – 30 giờ sau khi bắt đầu chịu đực

Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3

do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn

* Cơ chế động dục

Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Luteinizing Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao

noãn tiết ra estrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng

hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu

hiện động dục Đồng thời dưới tác động của estrogen cơ quan sinh dục biến

đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung

và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này

Cuối chu kỳ động dục thì estrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm

Trang 24

tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ

ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục

* Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái

+ Tuổi động dục lần đầu

Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu cần bỏ qua 1 – 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống

Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa ( Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]

Theo Lê Xuân Thọ, Lê Xuân Cương (1979) [26], đối với lợn nái hậu bị

và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục

+ Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn cái vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu

kỳ thứ 2 hoặc thứ 3

Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời

Trang 25

điểm phối giống lần đầu

+ Tuổi đẻ lứa đầu

Sau khi thụ thai, lợn chửa trung bình là 114 ngày(113 ngày-116 ngày) Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Lợn cái nội ( Ỉ, Móng Cái ) trong sản xuất tuổi đẻ lứa đầu thường 11 – 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 – 13 tháng tuổi ( Phạm Hữu Doanh và Lưu

Kỷ, 2003) [5]

 Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs.(2002) [7] gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh – thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường

Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 – 30 % so với bình thường ( người ta gọi là hiện tượng sụt lưng ), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 – 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung

mở, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 – 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh – thể dịch Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không

Trang 26

còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra rốn thai tự đứt, lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10 – 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 – 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay

2.2.2 Một số bệnh ở lợn nái

2.2.2.1 Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [27])

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs.(2002) [7], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs.(2002) [12], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật

Trang 27

hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và Lê Th ị Tài (2002) [6] cho biết, nguyên nhân

gây viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,

Klebriella, E.coli…

Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [17] cho rằng , có rất nhiều nguyên nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như : do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh

lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để v i khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và

do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử

Trang 28

cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

* Triệu chứng:

Bệnh được chia làm 3 thể viêm chính gồm: Viêm nội mạc tử cung (thể nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể nặng) với các biểu hiện cụ thể được trình bày trong bảng 2.2

Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung

Chỉ tiêu

phân biệt

Thể viêm Viêm nội mạc tử

Phản ứng

Bỏ ăn

Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều

Trang 29

ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs.(2002) [7], Trần Thị Dân (2004) [4], khi

lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng

Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ

mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn

Trang 30

sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự

phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn

Trang 31

nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

2.2.2.2 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

- Theo Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi

không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi

khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú

hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

Trang 32

+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, (2000) [13])

+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu

vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

* Triệu chứng

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 -

7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42o

C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [15] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi

đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể

Trang 33

thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con

bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh

hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

2.2.2.3 Bệnh sót nhau

Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra

* Nguyên nhân: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010) [23]: Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn

nở quá mức

+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh

truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu

tạo của nhau

Trang 34

- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại: + Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn

+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ

Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [27]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm

số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không

- Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010) [23]

2.2.2.4 Bệnh bại liệt

* Nguyên nhân

Bại liệt sau khi sinh xảy ra trên nái đẻ 2-3 ngày đến trên 1 tháng hoặc sau khi xảy thai Ngoài các nguyên nhân trước khi sinh còn do nguyên nhân dùng tay can thiệp khi đẻ khó làm tổn thương dây thần kinh hông lớn của heo

* Triệu chứng

Hai chân sau yếu, khi đứng thấy run run, cơ bắp co giật, té bất thường, đứng không được lâu, đi lại khó khăn và hay nằm 1 chỗ Nếu bại liệt xảy ra trong 1-2 ngày thì thường do tổn thương dây thần kinh tọa, nếu xảy ra sau 15-

30 ngày thường do thiếu canxi, photpho

Trang 35

Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chƣ̃a bệnh’’‚ nên khâu phòng b ệnh

được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể h ạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường , mầm b ệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [18] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs.(1993) [24]: vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn t ại trong môi trường , đường tiêu hoá của vât ̣ chủ Khi môi trường quá ô nhi ễm do vê ̣sinh chuồng tr ại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhi ễm

vi khuẩn, điều ki ện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì v ậy mà khâu vê ̣sinh , chăm sóc có môt ̣ ý nghiã

to lớn trong phòng b ệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đú ng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ t ạo ra những gia súc

Ngày đăng: 20/11/2017, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan (1998), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 29 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc gia
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
4. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp, tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
6. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Dwane R (2000), Quản lý lợn đực và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả trong cuốn Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn đực và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả" trong cuốn "Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp
Tác giả: Dwane R
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Hội chăn nuôi Việt Nam (2006), Cẩm nang chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 35 – 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
11. John Nichl (1992), Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: John Nichl
Năm: 1992
12. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Đặng Quang Nam (2002), Giáo trình Giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
18. Nguyễn Ngọc Phụng (2005), Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn, Nxb lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2005
19. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
20. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w