1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên trường cao đẳng sư phạm thái bình hiện nay

117 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình hiện nay” hoàn toàn là kết quả nghiê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

-

HÀ KIM HOÀNH

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

-

HÀ KIM HOÀNH

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục

Mã số: 60140120

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN CÔNG KHANH

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình hiện nay” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố

trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Hà Nội, ngày 17tháng 07 năm 2015 Tác giả luận văn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Hà Kim Hoành

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và các cán bộ phụ trách tại Viện Nhân dịp này cho phép tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các thầy, cô giáo và các cán bộ của Viện Xin kính chúc tất cả quý thầy, cô sức khỏe, hạnh phúc và thành công

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Nguyễn Công Khanh hiện đang công tác tại Trung tâm Khảo khí và Đảm bảo chất lượng giáo dục

- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cám ơn BGH trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và các bạn sinh viên của nhà trường đã giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn và khóa học

Do thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhược điểm Tôi kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo và bổ xung những ý kiến của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Học viên

Hà Kim Hoành

Trang 5

4 Câu hỏi nghiên cứu/giả thuyết nghiên cứu 11

2.2.3 Đánh giá độ tin cậy và độ hiệu lực của câu hỏi 45

Trang 6

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56 3.1 Thực trạng lối sống của sinh viên trường CĐSP Thái Bình 56

3.2 Những yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên trường CĐSP

Thái Bình

73

3.2.1 Tác động của những yếu tố kinh tế thị trường và gia đình

đến lối sống sinh viên trường CĐSP Thái Bình

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa CNH, HĐH

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Độ tin cậy của phiếu hỏi đo thực trạng và những yếu tố tác

động trên mẫu SV

46

Bảng 2: Độ phù hợp của các item trên phiếu khảo sát 48

Bảng 4: Bảng phương sai trích khi phân tích các yếu tố 50 Bảng 5: Mô hình xử lý số liệu tương ứng với các biến quan sát sau khi

SV nữ

75 Bảng 3.16: So sánh mức độ tác động của các yếu tố đối với SV các khoa 76 Bảng 3.17: So sánh mức độ tác động của các yếu tố đối với SV năm thứ 76

Trang 9

2 và SV năm thứ 3 Bảng 3.18: So sánh mức độ tác động của các yếu tố đối với điều kiện

kinh tế gia đình của SV

Bảng 3.24: So sánh mức độ tác động của các yếu tố đối với điều kiện

kinh tế gia đình của SV

84

Trang 10

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 2: Biểu đồ mô tả mẫu phân theo giới tính 41 Biểu đồ 3: Biểu đồ mô tả mẫu phân theo năm học (năm thứ 2 và năm thứ 3) 41 Hình 3.1: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về tính tích cực, chủ động,

linh hoạt

58

Hình 3.2: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về giản dị, tiết kiệm , lành mạnh 61 Hình 3.3: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về đồng cảm, biết chia sẻ 63 Hình 3.4: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về tinh thần kỷ luật 66 Hình 3.5: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về tinh thần hợp tác 68 Hình 3.6: Biểu đồ tỉ lệ % nhận thức của SV về tình yêu, hôn nhân 71

Trang 11

MỞ DẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy mỗi thời đại, xã hội đều hình thành nên một lối sống phù hợp Lối sống vừa là một biểu hiện trình độ phát triển, đặc điểm của xã hội, vừa là yếu tố hợp thành tạo nên đời sống xã hội, vừa là một mặt văn hóa sinh động của xã hội

Lối sống thể hiện giá trị sống của dân tộc Từ lâu người Việt Nam với cách sống: Chí, nhân, trung, hiếu, nghĩa, tình…tạo nên sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc ta Lối sống của người Việt Nam mỗi thời đại chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử, nền văn hoá xã hội, sự phát triển khoa học công nghệ, sự phát triển của kinh tế, chính trị, pháp luật và những tác động đa dạng của các trào lưu văn hoá khác nhau trên thế giới

Khi xã hội có những chuyển biến lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học thì đồng thời cũng gây ra những thay đổi về lối sống Lúc đó dù muốn hay không, tự giác hay không tự giác trong lịch sử cũng dần dần hình thành nên một lối sống phù hợp với những thay đổi của xã hội Nó tác động đến nhận thức, thái độ và làm thay đổi hành vi cuộc sống của cá nhân và tạo lập cho mỗi cá nhân một nếp sống Chính vì vậy, các yếu tố (bên trong hoặc bên ngoài, chủ quan hoặc khách quan, tích cực hoặc tiêu cực về mọi mặt của đời sống cá nhân và xã hội) tác động đến con người; nó quy định thay đổi lối sống của họ

Đối với SV vào trường Đại học, Cao đẳng là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong quãng đời của họ và kể từ đây một biểu tượng về tương lai đã nẩy sinh Biểu tượng ấy ngày càng được phong phú và hiện thực hoá theo năm tháng sống trong nhà trường thậm chí là cả cuộc đời

Trong cuộc sống và học tập ở nhà trường, SV phải tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau như: học tập, nghiên cứu, lao động, tu dưỡng, rèn luyện, văn nghệ, thể dục thể thao Vì thế, vấn đề đặt ra cho mỗi SV cần phải xây dựng cho mình lối sống và học tập phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của bản thân, phù hợp với điều kiện hiện tại Đồng thời đáp ứng được những yêu cầu của nhà trường và xã hội

Trang 12

Lối sống văn hoá, lịch sự và văn minh là lối sống tích cực của cá nhân nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống, cho phép họ giải quyết các vấn đề xẩy ra trong cuộc sống một cách tự tin đảm bảo cho mình có cuộc sống

an toàn và hạnh phúc Khi SV xác định được những giá trị đích thực của cuộc sống

và có kỹ năng sống SV sẽ tự tin hơn trong cuộc sống của mình và tự định hướng đi cho mình trong tương lai, tự khẳng định vị trí của mình trong mọi lĩnh vực, biết tự đánh giá mình và không mặc cảm với bản thân Vì vậy các yếu tố tác động đến lối sống của SV là rất quan trọng và có tác động lớn, không thể thiếu trong giáo dục nghề nghiệp cho sinh viên

Mô tả rõ thực trạng lối sống và đánh giá đúng những nhân tố tác động đến lối sống của SV trong Nhà trường sẽ góp phần làm cho sự nghiệp đào tạo có chất lượng, thực hiện mục tiêu học tập là " Học để biết, Học để làm, , Học để chung sống, Học để làm người "[24] Chính vì vậy, việc tạo lập lối sống tự giác, tích cực chủ động, sáng tạo cần được SV quán triệt ngay từ những năm học đầu khi mới bước vào trường

Việc hình thành lối sống văn hoá tiến bộ ở trường CĐSP Thái Bình là một công việc hết sức phức tạp Nó đòi hỏi mỗi SV phải có tinh thần nỗ lực, quyết tâm cao và phải có quan điểm nhìn nhận và giải quyết các vấn đề của cuộc sống một cách biện chứng nó phải là một hệ thống ổn định trong lối sống, việc làm của mỗi

SV nhằm "Phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp"

Mỗi SV chỉ có thể đạt được những kết quả học tập, rèn luyện cao nhất, mỗi khi đã biến các yêu cầu trong nội dung, phương pháp đào tạo thành những việc làm, lối sống có tính hợp lý, khoa học thiết thực và sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm vụ được giao và có ý thức trong việc rèn luyện tư duy khoa học, phát huy cao độ sự nỗ lực của bản thân, kết hợp với sự giúp đỡ của bạn bè và tập thể

Hoạt động sống của SV trong trường CĐSP là một hoạt động phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố, điều kiện như: Nhân tố khách quan (tác động của kinh

tế thị trường, gia đình) và nhân tố chủ quan (mục đích, động cơ học tập, lựa chọn

Trang 13

ngành học, tính cách) Chính những nhân tố đó là điều kiện có tác dụng quyết định trực tiếp sự thành công trong quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo

Những tập thể SV trường CĐSP Thái Bình nói chung và cá nhân từng SV nói riêng phải chú trọng, hình thành, rèn luyện lối sống văn hoá sư phạm Vì đó là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng và củng cố, phát triển tập thể SVtrong trường nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người lao động, vừa

có tư tưởng cách làm khoa học, vừa có tình cảm đẹp và có ý thức làm chủ bản thân,

ra ngoài xã hội

Hôm nay là SV nhưng một ngày không xa nữa những SV này trở thành người cán bộ, giáo viên đảm nhiệm những công việc trong sự nghiệp trồng người góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Sự thành công đến mức độ nào trong sự nghiệp của mình trong tương lai, có phần tuỳ thuộc đáng kể vào lối sống, kết quả học tập và nghiên cứu ngày hôm nay khi đang ngồi trên ghế nhà trường của họ

Thực tế việc hình thành, rèn luyện lối sống cho SV đã và đang được đặt ra đối với trường CĐSP Thái Bình Đây không phải là vấn đề mới song vấn đề này cần được đi sâu tổ chức nghiên cứu thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống của SV là một việc làm rất cần thiết, ý nghĩa để xây dựng các giải pháp một cách cụ thể, thiết thực, khoa học hơn nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục lối sống cho

SV Bên cạnh đó, thực tiễn những thay đổi nhanh chóng trong xã hội hiện nay có tác động lớn đến SV Bên cạnh những yếu tố tích cực, những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường, sự du nhập của lối sống thực dụng lại càng tạo ra áp lực, cám

dỗ, lôi kéo SV vào những hành động liều lĩnh, trở thành nạn nhân của tình trạng lạm dụng hay bạo lực, căng thẳng, mất lòng tin, mặc cảm Thái Bình là tỉnh thuần nông, nhân dân có tinh thần hiếu học, cần cù, chịu khó Đa số SV Nhà trường sống phụ thuộc, thụ động và thiếu kinh nghiệm, kỹ năng sống nên có thể ứng phó chưa tốt trước các áp lực trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệu là các áp lực tiêu cực dễ sa vào các tệ nạn xã hội

Trang 14

Mặt khác, nghiên cứu những yếu tố tác động đến lối sống của SV không phải

là vấn đề mới Ở các nước châu Âu, Hoa Kỳ và một số nước khác trên thế giới hoạt động nghiên cứu này cũng đã có từ lâu và diễn ra thường xuyên Ở Việt Nam trong những năm gần đây và trước đó đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về đặc điểm, thực trạng lối sống của thanh niên, học sinh, SV như: Lê Như Hoa, Mạc Văn Trang, PGS.TS Nguyễn Công Khanh(2003), PGS.TS Nguyễn Quý Thanh(2009)…Nhưng cho đến thời điểm này chưa có một tài liệu nào nghiên cứu về những yếu tố tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

Xuất phát từ những vấn đề trên và thực tiễn trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường đã gợi ý cho người viết ý tưởng lựa chọn nghiên cứu đề

tài: "Thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình hiện nay" làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu thực trạng lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao việc giáo dục lối sống cho SV trường CĐSP Thái Bình

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu thực trạng lối sống SV trường CĐSP Thái Bình

- Nghiên cứu những yếu tố tác động đến lối sống của SVNhà trường

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

SV06 khoa: Khoa tự nhiên, Khoa xã hội, Khoa năng khiếu, Khoa tiểu học, Khoa mầm non và Khoa ngoại ngữ

Trang 15

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng và một số yếu tố tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình hiện nay

4 Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1:Thực trạng lối sống hiện nay của SV trường CĐSP Thái Bình biểu

hiện như thế nào?

Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến lối sống của SV trường CĐSP

Thái Bình?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu:

H1: Đa số SV trường CĐSP Thái Bình có lối sống không lành mạnh, thực dụng coi trọng vật chất, đồng tiền

H2: Đa số SV trường CĐSP Thái Bình thiếu tinh thần hợp tác, ý thức kỷ luật kém, quan niệm về tình yêu hôn nhân không rõ ràng

H3: Yếu tố kinh tế thị trường và gia đình có tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

H4: Yếu tố mục đích, động cơ học tập; lựa chọn ngành học; tính các bạn bè; lối sống cá nhân có có tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong qua trình tiến hành, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp hồi cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp xử lý thông tin (sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và QUESTđể phân tích, xử lý số liệu)

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào mô tả thực trạng và phát hiện, đánh giá 02 nhóm nhân tố (khách quan, chủ quan) tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

Trang 16

7 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu 3 phần:

Mở đầu

Nội dung:

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết

Chương 2:Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng lối sống của SV trường CĐSP Thái Bình

Chương 4: Những yếu tố tác động đến lối sống của SV trường CĐSP Thái bình

Tài liệu tham khảo và các phụ lục

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Thuật ngữ “lối sống” lần đầu tiên được nhà xã hội học người Đức, Max Weber (1864-1920) sử dụng như một khái niệm khoa học trong công trình nghiên cứu Xã hội học Sự phân tầng của xã hội được Weber mô tả như hình tam giác: phần đỉnh của tam giác là tầng lớp trên- những người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, phần giữa là tầng lớp trung lưu và phần đáy là tầng lớp người nghèo không của cải Mỗi tầng lớp lại chia thành những nhóm nhỏ dựa trên địa vị, cơ may, thu nhập và tiện nghi sinh hoạt khác với những “lối sống” và “mức sống” khác nhau Chính lối sống, kiểu sống của các nhóm này nói lên sự phân tầng của xã hội khi được ông mô

tả bằng số liệu thống kê xã hội học [14]

Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, các nhà xã hội học và triết học đã phát triển mạnh mẽ lý thuyết “Lối sống xã hội chủ nghĩa” hay “lối sống xã hội chủ nghĩa

Xô Viết” với hàng trăm tác phẩm đã đề cập đến bản chất, cấu trúc và chức năng xã hội của lối sống, chẳng hạn N.M Kêgiêrov với “Vấn đề lối sống trong chiến dịch tuyên truyền tư sản hiện nay”, V.I.Daxêpin với tác phẩm “Lối sống xã hội chủ nghĩa

và sự phát triển về mặt tinh thần của con người”, X.X.Visnhicôxki “ Lối sống Xô Viết hôm nay và ngày mai”

Buđapét(1975), hội thảo quốc tế chuyên bàn về vấn đề lối sống: tác giả đã đề

cập tới vấn đề lối sống dựa vào khái niệm "hoạt động" cũng có tác giả nêu lên khái niệm lối sống theo nghĩa rộng, tức là bao hàm cả sinh hoạt hàng ngày Các tác giả

đã làm rõ lối sống là những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người, những hình thức ấy nói lên những đặc điểm về sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động xã hội-chính trị sinh hoạt và giải trí[23]

Tuy có nhiều quan điểm và cách hiểu bản chất của lối sống khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu các tác phẩm đều nhất trí với nhau rằng: khái niệm lối sốngđược

Trang 18

đặc trưng cho một hiện thực xã hội, nó là bản chất của một HTKTXH nhất định được thể hiện trong đời sống hàng ngày của các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác nhau trong hoạt động sống của cá nhân Lối sống được mô tả như một tập hợp những yếu tố của đời sống vật chất, xã hội và tinh thần của mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội và của nhóm người hay từng người trong xã hội, hoặc được xem xét như một phương thức hoạt động sống của cả một xã hội

Về nghiên cứu biểu hiện của lối sống, giáo dục lối sống từ sau những năm 90 của thế kỷ XX phải kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Trung tâm Canh tân và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (1992): Giá trị trong hành động.Tài liệu đã trình bày một cách tỉ

mỉ về vấn đề giáo dục lối sống trong nhà trường và vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng các nước Inđônêxia, Philiphin, Malaysia và Thái Lan[13]

Beginning teaching and beyond- Social Sclence Press – australia(2002): các tác giả đã trình bày một cách công phu, tỉ mỉ về quá trình giảng dạy trong các trường học ở Úc, nêu lên những vấn đề về lý luận giáo dục kỹ năng sống cho SV Bên cạnh đó tác giả còn nêu lên những biểu hiện về lối sống của SV…[36]

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Vấn đề lối sống được đề cập đến một cách phong phú Từ năm 1980, nhiều vấn đề lý luận về lối sống đã được một số tác giả tập trung nghiên cứu:

- Tác giả Vũ Khiêu với: “lối sống là gì”, bên cạnh đó tác giả Hà Xuân Trường với bài báo: “Từng bước xây dựng nền văn hóa mới” đã đề cập đến nếp sống văn hóa và những mặt biểu hiện của nó[27]

- Tác giả Lê Như Hoa đề cập tới khi “Bàn về lối sống, nếp sống xã hội chủ nghĩa”[5] Đây là một công trình nghiên cứu lý luận và trình bày một cách hệ thống các khái niệm, các mặt cần nghiên cứu lối sống ở Việt Nam theo mô hình CNXH bao cấp (trước năm 1986)

Những công trình này cho thấy các tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận của lối sống theo những quan điểm khác nhau về mặt lý thuyết và phương pháp luận cho việc nghiên cứu và xây dựng lối sống XHCN chống lại lối sống TBCN

Trang 19

Những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi đất nước đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có nhiều công trình nghiên cứu lối sống, đặc biệt là lối sống SV

ở các khía cạnh khác nhau, từ đó đã phác họa được bức tranh sinh động về lối sống của HS, SV và đã đề ra những giải pháp giáo dục lối sống cho giới trẻ Một số công trình tiêu biểu như:

- Đề tài khoa học cấp nhà nước (2001): Một số vấn đề về lối sống, đạo đức,

chuẩn giá trị xã hội Trong đó các tác giả chỉ rõ xu hướng chuyển đổi của lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH Sau khi phân tích thực trạng lối sống, đạo đức Các tác giả cũng đưa ra phương hướng, giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới[17];

- Đề tài khoa học cấp nhà nước (2003):Điều tra thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị và lối sống của thanh niên học sinh, sinh viên hiên nay Tập thể tác giả đã phát hiện, mô tả thực trạng(chất lượng) đạo đức, tư tưởng chính trị và lối sống của thanh niên HS,SV Từ đó dự báo xu hướng, đánh giá ba mặt: đạo đức, chính trị tư tưởng và lối sống của thanh niên HS, SV ở ba bình diện: Nhận thức, thái độ, hành vi trên để làm cơ sở cho những giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên HS, SV trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH[18].Ngoài ra, đề tài còn đưa ra các chỉ số cơ bản để đánh giá về các mặt đạo đức, tư tưởng chính trị và lối sống của HS, SV ở 13 trường Trung học phổ thông, 13 trường Đại học ở 3 vùng đó là TP.Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng Đặc biệt là các chỉ báo cơ bản cần đánh giá trong lối sống như: Tích cực, chủ động, linh hoạt; Giản dị, tiết kiệm, lành mạnh; Tính có kế hoạch,

có mục đích; Sự đồng cảm, chia sẻ; Khả năng thích ứng; Tinh thần kỷ luật; Tinh thần hợp tác; Tín ngưỡng; Tình yêu, hôn nhân

- Tác giả Văn Hùng cùng với bài viết: “Thanh niên với lối sống thời mở

cửa”[29], đã phản ánh tình hình thay đổi lối sống của thanh niên trong thời kỳ mở cửa ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu về lối sống thanh niên trong điều kiện mới

Trang 20

- Tác giả Mạc Văn Trang với công trình; “Đặc điểm lối sống của SV hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho SV” [25], đã xác định LSSV và nêu ra một hệ thống những đặc điểm cơ bản của LSSV được biểu hiện qua một loạt các hoạt động Đặc biệt công trình đã tiến hành khảo sát, thống kê các số liệu để đưa ra những mặt tích cực và tiêu cực trong LSSV và đề xuất nhưng biện pháp giáo dục LSSV Như vây, tác giả tránh chỉ đề cập đến lý luận về LSSV mà đã tiếp cận LSSV bằng những phương pháp cụ thể, mô tả các biểu hiện cụ thể của LSSV trong cuộc sống hiện thực của họ

- Tác giả Nguyễn Ánh Hồng: “Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của SV Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”[20]; Tác giả Đặng Quang Thành: “Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[21]; Tác giả Võ Đang Khoa:

"Tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang" [22];Tác giả Phạm Khắc Hùng, Phạm Hồng Quang với đề tài: “Thực trạng lối sống của SV Đại học Sư phạm Thái Nguyên”[32] Các tác giả đã làm phong phú thêm việc nghiên cứu LSSV và trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay của các nhà trường đã đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục đạo đức cho HS, SV, thực hiện mục tiêu đào tạo của từng nhà trường

- Trần Thị Minh Đức với công trình “Ảnh hưởng của môi trường ký túc xá

SV với LSSV nội trú”[30], đã đưa ra thực trạng lối sống của SV cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực tại môi trường ký túc xá và đưa ra những kiến nghị nhằm cải tạo điều kiện sống ở ký túc xá cho SV cũng như đưa ra những biện pháp giáo dục lối sống văn hóa cho SV nội trú

- Tác giả Huỳnh Khái Vinh: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị

xã hội [10]; tác giả Nguyễn Hồng Hà: Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống và con người việt nam [8]; tác giả Võ Văn Thắng: Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay [9]; Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đối với việc xây dựng lối sống ở nước ta hiện nay [34]; Báo nhân dân: Lối sống có văn hóa và thiếu văn hóa

Trang 21

[35] Các tác giả đã đề cập đến vấn đề chuẩn giá trị, về môi trường văn hóa xây dựng lối sống, về những yếu tố tác động đến lối sống Đặc biệt là bài báo “lối sống

có văn hóa và thiếu văn hóa”sau khi đưa ra thực trạng, nguyên nhân những vụ tự tử

ở Việt Nam hiện nay đã đề xuất giải pháp giáo dục hiện tượng "lối sống thiếu văn hóa" là "gia đình và đoàn thể phải dang tay đón họ vào cuộc sống, vào hoạt động lành mạnh, trong sáng…nâng cao kiến thức để họ hiểu giá trị đích thực của chân-thiện-mĩ…", xây dựng gia đình văn hóa mới

- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cùng với các cộng sự đã điều tra, phân tích các

số liệu thực tế và chỉ ra những mặt ưu và khuyết trong lối sống của SV sư phạm qua

đề tài: “xây dựng lối sống đạo đức mới cho SV Đại học Sư phạm phục vụ CNH, HĐH đất nước”[26] Công trình đã nêu lên những biểu hiện về lối sống và đạo đức của sinh viên sư phạm khá cụ thể và sinh động, qua đó đề xuất những phương hướng

và biện pháp giáo dục lối sống đạo đức lành mạnh cho SV Giống như tác giả Mạc Văn Trang, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng đã tiếp cận LSSV Sư phạm trên một số hoạt động tiêu biểu như:

- Biểu hiện của LSSV trong hoạt động học tập

- Biểu hiện của LSSV trong quan hệ giao tiếp, ứng xử

- Biểu hiện của LSSV trong sinh hoạt tập thể và cá nhân

- Biểu hiện của LSSV trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi

Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên của các tác giả chủ yếu mô tả khái quát về đời sống SV, chưa đi sâu vào một hoạt động cơ bản tiêu biểu nào đặc trưng cho lối sống của SV và những yếu tố tác động đến lối sống của SV Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm lối sống và các thuật ngữ có liên quan

* Quan niệm lối sống

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về lối sống: Lối sống là một trong

những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Lối sống được hình thành

Trang 22

trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, phù hợp với một HTKTXH nhất định Lối sống bị quyết định bởi các điều kiện sinh hoạt khách quan, đồng thời cũng phụ thuộc cả vào các nhân

tố chủ quan Lối sống có mang tính giai cấp

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu

tiên đưa ra vấn đề xây dựng đời sống mới Trong nhiều bài nói, bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy cán bộ và nhân dân ta ra sức thực hành đời sống mới Tư tưởng đó của người được tập trung chủ yếu trong hai tác phẩm “Đời sống mới” và

“Sửa đổi lối làm việc”

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính Đời sống mới bắt đầu từ muôn mặt của đời sống hàng ngày, có liên quan tới mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội Xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ dân, hết lòng vì dân Để xây dựng đời sống mới phải đào tạo ra những người kiểu mẫu, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên tạo ra những nhân tố mới để

từ đó nhân ra, phát triển lên

- Khái niệm lối sống

Tác giả V.I.Tolstykh đã định nghĩa khái niệm lối sống theo quan điểm triết học: “Lối sống là những hình thức cố định, điển hình đối với những quan hệ xã hội lịch sử cụ thể của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người, những hình thức ấy nói lên những đặc điểm về sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động lĩnh vực xã hội – chính trị, sinh hoạt và giải trí”[11, tr 6]

Theo định nghĩa của V.I.Tolstykh, lối sống là phạm trù rất rộng mang tính phổ biến Nó vừa bao hàm các khía cạnh kinh tế lẫn khía cạnh tâm lý, xã hội có liên quan đến những đặc điểm hành vi và giao tiếp của cá nhân và của các tập đoàn xã hội Như vậy, lối sống ở đây được coi như là một hiện tượng xã hội chỉnh thể Ông không chấp nhận quan niệm lối sống chỉ bao gồm mặt ngoài của hoạt động sống mà

đề cập tới bản chất của nó bởi vì lối sống theo ông là “phòng thí nghiệm” thường xuyên hoạt động để con người tái sản xuất bản chất của mình trong quá trình lao

Trang 23

động, hoạt động xã hội, sinh hoạt và vui chơi giải trí Nó cho phép khám phá bản chất bên trong của hiện thực xã hội, tuy nhiên không vì vậy mà tách rời biểu hiện sinh động và phong phú của nó

Có thể nói lối sống theo tác giả V.I.Tolstykh trước hết là một kiểu sống nhất định được hình thành một cách khách quan trong một xã hội, một giai cấp hay một tập đoàn Nhưng khi muốn nói lên một “cái chung” nào đó đối với đa số người, khái niệm lối sống vẫn mang tính linh hoạt và cơ động vì nó liên quan chặt chẽ đến hoạt động sống của mỗi cá nhân Bất cứ cá nhân nào đều có những đặc điểm tâm lý “cá biệt” của cái riêng nhưng vẫn có cái “điển hình” của cái chung Do vậy mà khái niệm lối sống phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất của quá trình phát triển của một chế độ xã hội

Theo tác giả N.I.Kapustin: “Lối sống là những khía cạnh xã hội như sự hài lòng về lao động, không khí tâm lý trong các tập thể sản xuất, hành vi con người trong các tập thể sản xuất, trong sinh hoạt ở gia đình và tất nhiên cả thái độ đối với

xã hội, đối với tổ quốc, những lý tưởng sống mà các thành viên xã hội tự chọn lấy cũng như những phương pháp đạt tới những lý tưởng ấy, đời sống tinh thần của con người”[15,tr 9]

Khái niệm lối sống theo quan niệm của tác giả N.I.Kapustin xét đến cùng thì

do phương thức sản xuất quyết định Cho dù chịu sự tác động mang tính quyết định của phương thức sản xuất nhưng lối sống không phải là kết quả thụ động của ảnh hưởng ấy mà đến lượt mình lối sống tác động lại một cách tích cực đối với sự phát triển của phương thức sản xuất Do đó mà các quan hệ xã hội đối với lực lượng sản xuất luôn được thực hiện qua lối sống của con người

Nhà tâm lý học Xô Viết E.V.Sôrôkhôva đã quan niệm: “Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sống tiêu biểu xuất hiện trong những quan hệ kinh tế -

xã hội nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi xã hội - chính trị và riêng tư thường ngày trong những mối quan hệ qua lại của mọi người và trong đời sống cá nhân”[15, tr 16]

Trang 24

Nghiên cứu lối sống theo tác giả chính là nghiên cứu đời sống thực của con người bởi vì lối sống là phương thức hoạt động đã được xác định

V.I.Daxêphin quan niệm: “Lối sống là tập hợp những hình thức hoạt động của con người trong một tổng thể thống nhất với môi trường hoạt động của xã hội

và cá nhân”[33]

Daxêphin còn đưa ra "5 dạng hoạt động của lối sống là:

- Hoạt động cải tạo

Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, khái niệm phong hóa và phong tục được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ nói và viết Cuộc cải biến phong hóa dân tộc ở nước ta được mở đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX và phát triển mạnh thành phong trào đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ năm

1946 Từ những năm 70 của thế kỷ XX, một hội đồng nghiên cứu về lối sống XHCN được thành lập và Việt Nam là một thành viên tích cực Cho đến nay chủ đề lối sống đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta

Theo Trần Văn Bính: "Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một HTKTXH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời

Trang 25

sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa"[2]

Theo nhóm tác giả Trần Kiều, Hà Nhật Thăng, Vũ Trọng Rỹ và Lưu Thu Thủy: "Lối sống là những cách suy nghĩ, kỹ năng ứng xử (cách nghĩ, nếp sinh hoạt, thói quen, phong cách học tập, làm việc, giao tiếp, xử sự…) tạo nên cái riêng của mỗi cá nhân hay một nhóm người nào đó"[6]

Hay theo Nguyễn Trần Bạt: “Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hóa, đặc trưng văn hóa của một con người hay một cộng đồng" Tác giả còn giải thích thêm: "Lối sống bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh…; Các phong tục tập quán; Cách thức giao tiếp, ứng xử với nhau; Quan niệm đạo đức và nhân cách".[28]

Theo Lê Đức Phúc: "Lối sống là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những hình thức hoạt động mang tính ổn định, đặc trưng cho cá nhân hay nhóm Những hình thức này được quy định bởi trình độ nhận thức bởi lẽ sống cũng như điều kiện thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến giá trị văn hóa"[12]

Tất cả các định nghĩa được dẫn ra trên đây, dù hoàn toàn chưa đủ tính đại diện cao cho hàng trăm định nghĩa về lối sống từng được nêu ra nhưng cũng phần nào phản ánh được tính chất phức tạp của nó Mỗi định nghĩa về "lối sống" dường như đã chỉ ra được một hoặc một số đặc tính quan trọng nào đó của cái cần được định nghĩa Song nhìn chung, các khái niệm về lối sống đều gặp nhau ở những điểm

sau: Một là, xem lối sống là một dạng hoạt động sống của con người; Hai là, hoạt

động sống này phụ thuộc chặt chẽ vào phương thức sản xuất và hoạt động sống của

con người; Ba là, nó thể hiện đặc trưng riêng của từng cộng đồng người

Từ việc tìm hiểu và phân tích của các tác giả trên Kế thừa và phát huy khái niệm dựa trên những định nghĩa đó cũng như làm phong phú thêm khái niệm lối

sống Chúng tôi tạo lập cho mình một khái niệm về lối sống như sau: Lối sống là phương thức hoạt động đã xác định của con người, bao gồm tất cả những dạng

Trang 26

hoạt động sống mà con người đã lựa chọn trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định

* Một số thuật ngữ có liên quan

Để hiểu rõ hơn khái niệm lối sống, ta có thể tìm hiểu thêm mối quan hệ giữa lối sống với các khái niệm có liên quan như: nếp sống, lẽ sống, cách sống, mức sống

- Khái niệm nếp sống

Ở Việt Nam theo cách nói thông thường, hai thuật ngữ “lối sống” và “nếp sống” thường được dùng như một Tuy nhiên, xét về mặt khoa học hai khái niệm này không

hoàn toàn là một

Theo từ điển Tiếng Việt đề cập đến ý nghĩa của “lối” và “nếp” như sau:

Lối: là hình thức diễn ra của hoạt động đã trở thành ổn định và mang đặc điểm riêng như: lối sống giản dị, lối châm biến kín đáo[16, tr 561]

Nếp: cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen như: nếp sống văn minh, thay đổi nếp suy nghĩ[16, tr 644]

Theo A.P.Bunchencô cho rằng: “Nếp sống không phải là một phần mà là một trong những biểu hiện của lối sống”[26, tr 17]

Tác giả Thanh Lê cho rằng: “lối sống” được hiểu rộng hơn bao hàm trong đó có

“nếp sống” Nếp sống đó là hoạt động hàng ngày Mỗi cá nhân có thể có thể có thói quen, nếp sống riêng của mình như: thức dạy đúng giờ, tập thể dục…Nếp sống là phương thức ứng xử trong một tình thế nhất định nào đó, nếp sống cũng được hiểu như một phong cách, một tác phong Nếp sống còn là phương thức xử sự được quy định với các giá trị đạo đức (tôn kính người trên, giữ gìn trật tự xã hội…) Như vậy “Nếp sống là những quy ước lặp đi, lặp lại trở thành thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán, hành vi đạo đức Nếp sống là một mặt của lối sống ở đây muốn nói đến cách xử sự của con người”[7, tr 111]

Theo tác giả Mạc Văn Trang “Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những đặc điểm biểu hiện của lối sống đã được hình thành nề nếp, thói quen của cá nhân (nét tính cách), của gia đình (nếp nhà), của xã hội (phong tục, tập quán, truyền thống) Lối

Trang 27

sốngđược nẩy sinh, hình thành, phát triển và đến một mức độ được củng cố, định hình thành nếp sống Lối sống và nếp sống không tách rời nhau”[25, tr 20]

Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những đặc điểm biểu hiện của lối

sống đã được định hình thành nếp, thói quen của cá nhân, gia đình và xã hội

Như vậy, có thể hiểu: Nếp sống là những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người được lặp đi, lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen , phong tục được cá nhân và cộng đồng xã hội thừa nhận Nếp sống lâu đời sẽ trở

Mức sống có quan hệ trực tiếp đến lối sống, mức sống phụ thuộc vào những

điều kiện trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của lối sống

Theo từ điển Tiếng Việt: “Mức sống là mức đạt được của các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần”[16, tr 631]

Tác giả Huỳnh Khái Vinh cho rằng: “Mức sống là thuật ngữ kinh tế - xã hội để đánh giá các nhu cầu về vật chất và tinh thần đã được thỏa mãn và có thể đo lường trực tiếp bằng số lượng”[10, tr 35].Còn theo tác giả Thanh Lê thì mức sống nói lên

trình độ vật chất và văn hóa mà con người hưởng thụ

Như vậy, mức sống có liên quan đến mức thu nhập cá nhân và mức hưởng thụ phúc lợi xã hội của cá nhân Các tiêu chuẩn của mức sống là: ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, sinh hoạt văn hóa, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm xã hội.Mức sống là mặt khách quan của lối sống Thực tế cho thấy mức sống có quan hệ với lối sống, là điều kiện quan trọng nhất cho mọi hoạt động sống của con người Tuy nhiên, mức sống không trực tiếp quyết định lối sống Ở một số người hay nhóm người có mức sống

có thể rất cao nhưng lối sống, nếp sống của họ có thể thực dụng, bệnh hoạn Ngược lại rất nhiều người, nhóm người có mức sống chưa cao nhưng lại có lối sống nghĩa tình, có trách nhiệm Mức sống cao có thể là phương tiện làm cho con người phát

Trang 28

triển tốt hơn (mức sống nói lên trình độ phát triển của xã hội), nhưng con người cũng có thể trở thành nô lệ của vật chất và những biến tướng của lối sống vật chất

sẽ khỏe mạnh, có phương tiện để phát huy cá nhân một cách hài hòa, toàn diện nhưng không quyết định ở chỗ con người có những tiện nghi vật chất không tất yếu dẫn đến những tình cảm đẹp, lối sống đẹp

Mức sống và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau, việc nâng cao dần mức sống là để góp phần hoàn thiện lối sống Ngược lại, xây dựng lối sống mới cũng là

để nâng cao mức sống

- Khái niệm lẽ sống

Lẽ sống là thuật ngữ được Đạo đức học, Triết học và cả Tâm lý học cùng quan tâm.Theo tác giả Mạc Văn Trang: “Lẽ sống là mặt ý thức của lối sống Nó đề cập đến mục đích, ý nghĩa lý tưởng của cuộc sống, là ý chí, khát vọng của con người Nó giải đáp câu hỏi con người sống để làm gì Nó phản ánh tính mục đích của một lối sống”[10, tr 35]

Tác giả Huỳnh Khái Vinh lại cho rằng: “Lẽ sống là mặt ý thức của lối sống

có vai trò dẫn dắt, định hướng và định tính làm cho lối sống ổn định Lẽ sống dựa vào lý tưởng và các giá trị xã hội phản ánh tính chủ thể của lối sống” [10, tr 35] Lẽ sống là mặt ý thức của lối sống, là ý nghĩa cuộc sống mà con người tự nhận thức, tự hành động vì lý tưởng cao đẹp, vì lợi ích của xã hội - cộng đồng

Lẽ sống là sựđịnh hướng cho lối sống, một con người không có lẽ sống giống như một con tàu không có kim chỉ nam, lênh đênh, bơ vơ giữa biển cả

Trang 29

Sống để làm gì? Sống như thế nào? Sống cho cá nhân hay cho xã hội?Đây

chính là vấn đề cơ bản của lẽ sống Lẽ sống của một con người thường gắn liền với nhân sinh quan và gắn liền với lý tưởng xã hội của con người đó Rộng hơn là biểu hiện trình độ văn hóa, nhận thức của con người

Như vậy, lẽ sống là quan niệm sống của con người, là sự tự nhận thức, tự giác hành động vì một lý tưởng, một mục tiêu cao cả Lẽ sống định hướng cho lối sống.Điều cơ bản trong lẽ sống chính là ý nghĩa xã hội, giá trị xã hội của nó Con người có lẽ sống thôi chưa đủ mà quan trọng là phải có lẽ sống đúng đắn, phù hợp với sự tiến bộ của xã hội Có như vậy mới tạo ra sự hài hòa giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Lẽ sống chân chính của con người được biểu hiện

ở hoạt động sáng tạo, tích cực cống hiến cho sự tiến bộ của xã hội

- Khái niệm cách sống, kiểu sống

Có thể hiểu kiểu sống, cách sống có nghĩa hẹp, cụ thể và là nét riêng của lối sống, nếp sống trong mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi địa phương.Cách sống nói về nét riêng của lối sống cá nhân, gia đình, địa phương hay một nhóm người trong

cộng đồng xã hội (chẳng hạn như: kiểu sống nghệ sĩ, thầy đồ hay thị dân…)

Cách sống, kiểu sống phụ thuộc vào lối sống, nếp sống, cơ cấu hoạt động của con người, các nhu cầu và phương thức đặc thù của sự thỏa mãn những nhu cầu đó Kiểu sống là những nét riêng, độc đáo trong lối sống, nếp sống ở cấp độ cá nhân hay xã hội Các kiểu sống khác nhau là cho lối sống trở nên đa dạng, phong phú,

sinh động trong đời sống

Như vậy, cách sống đẹp, đúng hay không không phụ thuộc vào nếp sống, lối sống Cơ cấu hoạt động, nhu cầu của mỗi con người đều phụ thuộc vào sự thỏa mãn những nhu cầu đó Hay nói cách khác hệ thống động cơ - mục tiêu của con người và hành động mà con người tiến hành đều do phương thức sản xuất, cơ cấu xã hội và nhân tố văn hóa Nhưng cơ cấu đó luôn luôn có nét riêng và nét riêng của lối sống con người chính là cách sống của họ

1.2.1.2 Khái niệm lối sống sinh viên

* Khái niệm sinh viên

Trang 30

- Vị trí vai trò của sinh viên

Sinh viên là lớp người đang phát triển về nhiều mặt Tâm, sinh lý của SV có những nét đặc thù so với những đối tượng khác Đây là lứa tuổi trẻ trung và sôi nổi, ham học hỏi, ôm ấp nhiều khát vọng và hoài bão, sẵn sàng cống hiến cả sức lực và nhiệt huyết Họ có mặt ở nhiều nơi với phong trào tình nguyện đã đóng vai trò xung

kích trong mọi hoạt động xã hội

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, SV nói chung và SV ở các trường sư phạm nói riêng đã, đang chứng tỏ mình ngày càng xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, nhà nước và nhân dân Với phong trào SV tình nguyện và các hoạt đông khác họ đã đi khắp mọi nơi của đất nước đóng góp sức lực của mình cùng

với mọi tầng lớp trong xã hội để phát triển đất nước

- Khái niệm sinh viên

Ở cấp độ xã hội, SV là một nhóm đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Họ là những người đang chuẩn bị gia nhập vào đội ngũ tri thức của xã hội Họ là một bộ phận của thanh niên đang

theo học ở các trường Đại học và Cao đẳng

Ở cấp độ cá nhân, SV là những người đang trưởng thành về mặt xã hội, hoàn thiện về thể lực, định hình về nhân cách, học tập để tiếp thu những tri thức, kỹ năng-kỹ xảo của một lĩnh vực nghề nghiệp SV đại học, cao đẳng chủ yếu từ lứa tuổi từ 17,18 trở lên

SV là lực lượng kế tiếp, bổ xung cho đội ngũ tri thức trong tương lai Họ là lớp người có văn hóa cao và có điều kiện để thu thập các thông tin về mọi lĩnh vực trong cuộc sống V.I.Lênin đã từng đánh giá: “SV là bộ phận nhậy cảm nhất của giới tri thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên Song bên cạnh đó SV còn thiếu kinh nghiệm sống, cần được bổ sung bằng lớp kinh nghiệm của chiến sĩ già” [Dẫn theo X.M.Lêphêkhin(1978)].SV có sự phát triển về ý thức tự lập, tự chủ Điều này thể hiện trong cuộc sống, học tập của họ.Bên cạnh đó,

SV là những người trẻ tuổi, chưa độc lập về kinh tế, còn thiếu kinh nghiệm sống nên khi gặp những khó khăn thử thách hay những cạm bẫy cám dỗ, họ bị dao động,

Trang 31

bị lôi cuốn vào lối sống tự do, chuộng vật chất và dễ bước vào con đường tệ nạn xã hội

Từ những phân tích trên tựu chung lại, có thể rút ra một số nội dung tổng

quát về quan niệm SV như sau:Thứ nhất, SV với tư cách là một con người cá thể từ

17, 18 tuổi trở lên đã trưởng thành, có sự phát triển trí tuệ và nhân cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển về thể chất và tâm lý Họ đang theo học ở các trường Đại học,

Cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.Thứ hai, SV là một nhóm xã

hội - dân cư bao gồm tất cả các thành viên trong một xã hội học tập cụ thể đang ở trong độ tuổi từ 17,18 trở lên

Như vậy, có thể định nghĩa SV như sau: Sinh viên là một nhóm xã hội- dân

cư thường có độ tuổi từ 17, 18 tuổi trở lên thuộc mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, họ đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, có vai trò to lớn trong xã hội hiện tại và giữ vai trò quyết định

sự phát triển trong tương lai của xã hội

- Các hoạt động cơ bản của sinh viên

+Hoạt động học tập: đây là hoạt động mang những nét đặc thù khác xa với các bậc học khác Cùng với sự tự ý thức và nỗ lực của bản thân để tiếp thu trí thức,

kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn của giảng viên Bên cạnh đó, họ phải tự hoàn thiện nhân cách để trở thành người cán bộ tri thức trong tương lai.Hoạt động học tập diễn ra có tổ chức, kế hoạch với các phương tiện học tập được trang bị

như: sách vở, đồ dùng học tập, thư viện, phòng thí nghiệm…Bên cạnh đó, do tính

chất của đào tạo đại học, cao đẳng mà còn có thêm hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một hoạt động song song với hoạt động học tập của SV và ngày càng chiếm một vị trí cao Có thể dựa trên hoạt động nghiên cứu khoa học để phân biệt sự khác nhau giữa phương pháp học đại học, cao đẳng với cách học của học sinh phổ thông Chính qua nghiên cứu khoa học mà chúng ta nhận thấy sự chủ động,

tích cựu, say mê, tìm tòi và muốn khám phá những điều mới lạ của họ

+Hoạt động giao tiếp- ứng xử: là hoạt động cơ bản của SV nói riêng và của

xã hội loài người nói chung Thông qua các mối quan hệ giao tiếp mà SV tạo dựng

Trang 32

được cho mình hàng loạt mối quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa cá nhân

SV với gia đình, với thầy cô, cộng đồng với bạn bè cùng lứa tuổi, cùng giới, khác giới Tất cả góp phần quan trọng cho sự phát triển đời sống tâm lý và sự trưởng thành về nhân cách, lối sống của SV.Thông qua giao tiếp - ứng xử, SV cũng thể hiện lối sống lành mạnh, có văn hóa Quan hệ giữa người với người là quan hệ nhân

ái, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau, không ích kỷ, hẹp hòi, thờ ơ lạnh nhạt

+ Hoạt động chính trị - xã hội: đây là một hoạt động thể hiện ý thức, quan điểm chính trị, thái độ và trách nhiệm của SV đối với tập thể và cộng đồng xã hội Thái độ và tính tích cực trong hoạt động này của SV thể hiện rõ sự trưởng thành về nhân cách của họ.Hoạt động chính trị - xã hội của SV được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú Khi tham gia vào hoạt động này, SV có cơ hội hiểu sâu sắc hơn những tri thức lý luận đã tiếp thu từ sách vở, giảng đường và quan trọng hơn cả là đem áp dụng chúng vào thực tiễn đời sống để kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn Bên cạnh đó các hình thức đa dạng và phong phú của hoạt động chính trị - xã hội phát huy khả năng quan sát tinh vi, nhạy bén, tò mò khoa học, năng lực hoạt động thực tiễn và đặc biệt là tình cảm, nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm xã hội, ý thức công dân và quan niệm sống cũng được biểu hiện, hình thành

và phát triển

+ Sinh hoạt cá nhân: được xét trên nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu của cá nhân như: sử dụng thời gian rảnh rỗi, lựa chọn hình thức giải trí hay lựa chọn cuộc sống vật chất Nó thể hiện tính cách, ý chí của cá nhân SV trong việc điều tiết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

* Khái niệm lối sống sinh viên

Như đã phân tích, khái niệm lối sống rất đa dạng Trong nghiên cứu này, LSSV được nhấn mạnh ở khía cạnh tâm lý học nhân cách Tiếp cận LSSV là gắn lối sống với những biểu hiện của SV Vậy LSSV chính là những biểu hiện trong các hoạt động đặc thù của họ

Thông qua khái niệm lối sống nói chung, khi tiếp cậnLSSV, người viết cho

rằng: LSSV là phương thức hoạt động đã xác định của họ; bao gồm tất cả những

Trang 33

hoạt động sống đặc trưng mà họ đã lựa chọn trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định

Có thể nói, lối sống là tổng hòa các hoạt động sống của con người, mỗi hoạt động thể hiện một cách sinh động từng khía cạnh đời sống của từng cá nhân và hoạt động cơ bản, quan trọng nhất trong lối sống của sinh viên trường CĐSP Thái Bình chính là hoạt động học tập, thông qua hoạt động này SV hoàn thiện kiến thức, nhân cách và hình thành lối sống của cá nhân họ Bên cạnh đó cái đóng vai trò quan trọng trong lối sống đó chính là những yếu tố tác động vào từng cá nhân SV, trên cơ sở đó

SV có những biểu hiện trong hoạt động sống của mình Như vậy, nghiên cứu thực trạng và những yếu tố tác động đến lối sống để từ đó phản ánh xu hướng lối sống của SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Những biểu hiện của lối sống sinh viên

1.2.2.1 Lối sống sinh viên biểu hiện trong định hướng giá trị

Định hướng giá trị là sự hướng vào và lựa chon chủ quan của cá nhân đối với giá trị khách quan của xã hội Nó thể hiện xu hướng của lối sống: Người ta mong muốn, hướng tới cái gì, sống và hoạt động vì giá trị gì?

Định hướng giá trị của SV hiện nay có những biến đổi sâu sắc, họ thích nghi nhanh với chuyển đổi của nền kinh tế và xã hội nước ta SV nhạy cảm nắm bắt cái mới và hướng hoạt động sống của mình về tương lai một cách tích cực Định hướng giá trị của SV nhằm vào mưu cầu hạnh phúc, thăng tiến, làm giàu cho cá nhân đồng thời làm giàu cho gia đình, cộng đồng, xã hội Mặt khác, ở SV cũng xuất hiện những mặt tiêu cực, lệch lạc trong định hướng giá trị như:Những giá trị lợi ích cá nhân, gia đình vượt xa hơn so với giá trị tập thể, cộng đồng; Những giá trị kinh tế trội hơn giá trị tinh thần; Những giá trị trước mặt trội hơn giá trị trong tương lai; Những giá trị hiện đại lấn át giá trị truyền thống; Xu hướng đòi hỏi mức tiêu dùng ngày càng cao[19]

1.2.2.2 Lối sống sinh viên biểu hiện trong học tập

Học tập được coi là nhiệm vụ trung tâm quan trọng nhất của SV trong giáo dục đại học Hoạt động của SV không thuộc lĩnh vực trực tiếp sản xuất ra vật chất

Trang 34

mà điều cơ bản trong hoạt động của SV là học tập, việc tham gia các hoạt động khác đều nhằm vào mục đích học tập là chính và chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai.Nhìn vào hoạt động của SV có thể bao gồm các dạng cơ bản:Hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học (hoạt động chủ đạo nhất); Hoạt động nghề nghiệp; Hoạt động xã hội, chính trị

Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo nhất làm phát triển nhân cách SV Trong hoạt động này các động cơ nghề nghiệp trong việc tự bồi dưỡng và

tự giáo dục ngày càng tăng Chính vì vậy vấn đề lối sống của SV biểu hiện trong hoạt động học tập ở những mặt sau:Thái độ của SV đối vời nghề nghiệp đang học; Thái độ đối với nhiệm vụ học tập (thể hiện cả tính tích cực hay tiêu cực trong học tập); Mức độ hài lòng (thỏa mãn, không thỏa mãn) trong học tập[19]

1.2.2.3 Lối sống sinh viên biểu hiện trong sinh hoạt văn hóa

Nhu cầu sinh hoạt văn hóa là những đòi hỏi về thưởng thức, tham gia, sáng tạo các giá trị văn hóa của SV Nhu cầu sinh hoạt văn hóa biểu hiện những mong muốn, khát vọng, sở thích thị hiếu của SV trong các hoạt động văn hóa

LSSV biểu hiện trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa ở mặt tích cực hiện rõ ở nhu cầu phát triển nhanh, phong phú, đa dạng, đòi hỏi trình độ cao trong thưởng thức, sáng tạo văn hóa nghệ thuật Nhiều loại hình văn hóa nẩy sinh từ phong trào SV và lan nhanh thành sinh hoạt văn hóa rộng rãi trong xã hội Những trào lưu sinh hoạt văn hóa khởi xướng từ SV đã lan nhanh đến các tầng lớp thanh niên và trong xã hội như: khiêu

vũ, lửa trại, câu lạc bộ SV, thời trang…Bên cạnh đó những mặt tiêu cực trong sinh hoạt văn hóa của SV cũng được thể hiện rõ ở những xu hướng như: dành thời gian rỗi cho đánh bài, ngồi quán nước, xa rời văn hóa truyền thống, thích phim tình dục, bạo lực, kinh dị, những cách sống đua đòi ăn chơi…[19]

1.2.2.4 Lối sống sinh viên biểu hiện trong hoạt động xã hội chính trị

Hoạt động xã hội của SV có phạm vi rộng lớn, SV đã tham gia vào các hoạt động đoàn thể như: Đoàn thanh niên, hội sinh viên, hội nghề nghiệp…Mặt khác, những hoạt động xã hội vượt ra khỏi phạm vi nhà trường hòa nhập với những sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hóa chung của cộng đồng xã hội rộng lớn Cho nên SV có

Trang 35

vai trò rất lớn trong việc phản ánh thông tin, dư luận xã hội, điều chỉnh định hướng

dư luận xã hội và quan hệ xã hội nhất là trong thanh niên, trong hoạt động xã hội

SV giữ vai trò khá quan trọng trong mọi lĩnh vực Những biểu hiện của LSSV trong hoạt động xã hội được thể hiện ở:Niềm tin chính trị - xã hội của SV; Thái độ đối với các hiện tượng xã hội: hiện tượng tiêu cực của xã hội, hiện tượng di tản trong xã hội, hiện tượng mê tín, dị đoan và thái độ đối với quá trình CNH, HĐH đất nước; Thái độ sẵn sàng nhận nhiệm vụ; Thái độ đối với việc phấn đấu vào Đảng, Đoàn của SV[19]

1.2.2.5 Lối sống sinh viên thể hiện trong quan hệ xã hội, giao tiếp ứng xử

Giao tiếp, ứng xử trong các quan hệ xã hội thể hiện rõ đặc điểm lối sống của con người Đồng thời qua những quan hệ, ứng xử thực tế trong đời sống xã hội của

SV thì lối sống cũng được hình thành, củng cố và ngày càng phát triển theo các chiều hướng khác nhau

Trong xem xét lối sống của SV, tác giả xin tập trung vào ba mối quan hệ chủ yếu đó là: Giao tiếp xã hội nói chung, tình bạn và tình yêu

- Trong giao tiếp xã hội của SV nhà trường hiện nay đã thể hiện sự năng động, phong phú, chủ động, tích cực Hiện nay SV có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với các tầng lớp xã hội, giao lưu giữa SV các trường Với phương tiện thông tin rộng rãi, tiện lợi đã tạo điều kiện cho SV tham gia vào các hoạt động xã hội, hỏi, đáp, trả lời… từ đó SV đã có sự hòa nhập một cách nhanh chóng, táo bạo trong các quan hệ xã hội phức tạp Song không ít SV tham gia vào các quan hệ xã hội tiêu cực làm những việc vi phạm đạo đức, pháp luật [19]

- Quan hệ thầy trò của SV hiện nay đã có sự chủ động, thiết thực[19]

- Quan hệ tình bạn, tình yêu của SV rõ ràng là đa đạng, sinh động, phong phú

và thực tế hơn SV tự do thể hiện lối sống của mình trong những quan hệ phức tạp

đó và tự trải nghiệm, tự trưởng thành Trong SV đã xuất hiện những tình bạn, tình yêu cảm động chia sẻ, cùng giúp đỡ nhau vượt quan những khó khăn, những cám dỗ

để giữ gìn tình bạn, tình yêu đẹp Nhưng ngược lại, trong tình bạn, tình yêu của SV nhà trường hiện nay cũng biểu hiện nhiều hiện tượng đáng lo ngại Tình bạn của

Trang 36

SVđã có sự phân hóa giữa SV giàu và SV nghèo, SV nội trú- ngoại trú…Do đó, quan hệ bạn bè cũng đã có khoảng cách, họ sẵn sàng xử lý mâu thuẫn, va chạm thông qua bạo lực thậm chí đôi khi còn rất tàn nhẫn, thô bạo[19]

1.2.2.6 Lối sống sinh viên thể hiện trong sinh hoạt cá nhân

Sinh hoạt cá nhân giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách SV và biểu hiện rõ nét lối sống của SV hiện nay Ngoài những hoạt động như: Hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động giao tiếp thì sinh hoạt cá nhân bao gồm các hình thức như: tự học, giải trí, rèn luyện thân thể, ăn uống, chăm

lo chỗ ở, vui chơi…được thể hiện hàng ngày trong cuộc sống của SV Sinh hoạt cá nhân được coi như một đặc trưng của nếp sống, nó được thể hiện trong từng cá nhân, mỗi thành viên trong nhóm, trong tập thể và trong xã hội Sinh hoạt cá nhân mang tính cá nhân rõ rệt nhưng không tách khỏi sinh hoạt cộng đồng Sinh hoạt cá nhân cũng rất phức tạp, phong phú không dễ kiểm soát, nó phản ánh phong cách sống của từng SV Sinh hoạt cá nhân được coi là nếp sống cá nhân, được thể hiện ở việc sử dụng quỹ thời gian rỗi Những nhu cầu hứng thú tham gia vào các loại hình sinh hoạt hiện nay sẽ ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội, chính vì thế sinh viên phải luôn đấu tranh, lựa chọn trong quá trình sử dụng quỹ thời gian rỗi của mình

Sinh hoạt cá nhân thực chất là thuộc về quyền sử dụng quỹ thời gian rỗi của mỗi SV trong cuộc sống hàng ngày bao gồm các hình thức sinh hoạt đời thường Việc

sử dụng quỹ thời gian sinh hoạt của mỗi SV như thế nào sẽ có tác dụng quan trọng trong sự phát triển cân đối, hài hòa nhân cách và thể hiện rõ nét lối sống của SV

Lối sống của SV biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân được thể hiện trong việc

sử dụng thời gian rỗi và các loại hình sinh hoạt cá nhân

Thời gian rỗi của SV được thể hiện ở các hình thức như: xem ti vi, đọc truyện, đọc sách, nghỉ nghơi, làm nghề phụ giúp gia đình, chơi thể thao…Đối với các loại hình sinh hoạt cá nhân của SV cũng rất phong phú, đa dạng nhưng có hai khuynh hướng thể hiện đó là khuynh hướng tích cực (sử dụng thời gian rỗi vào những sinh hoạt lành mạnh, hữu ích, có hiệu quả vàcó xếp xắp khoa học) và khuynh

Trang 37

hướng tiêu cực (sử dụng thời gian rỗi vào sinh hoạt cá nhân tùy tiện, kém hiệu quả thậm chí còn gây ra những hậu quả xấu) [19].

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến lối sống sinh viên

1.2.3.1 Gia đình

Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt không giống với bất cứ một nhóm xã hội đặc biệt nào Gia đình gồm nhiều yếu tố phức tạp hơn như: huyết thống, tâm lý, văn hóa, kinh tế và thông qua đó mỗi cá nhân có sự liên hệ với gia đình Gia đình có ảnh hưởng đặc biệt tới sự hình thành lối sống cá nhân Đó là nơi con người được sinh ra và lớn lên, là nơi con người được giúp đỡ có khi trong suốt cả cuộc đời Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của con người, giúp con người ngay từ khi còn nhỏ đã tiếp nhận những chuẩn mực đúng đắn để hội nhập vào cuộc sống xã hội Những giá trị được tiếp nhận từ tuổi thơ trong gia đình luôn là hành trang cần thiết cho con người mang theo để làm phương châm “đối nhân xử thế” Gia đình có văn hóa, sống có tôn ti trật tự, giản dị, lành mạnh, biết giữ phẩm giá gia phong, mọi người biết yêu thương đùm bọc nhau, đồng thời ông bà, cha mẹ là tấm gương cho con cái là gia đình biết giữ gìn và phát huy truyền thống của gia đình Việt Nam

Truyền thống gia đình được hiểu là: “sự ổn định trong tổ chức sinh hoạt gia đình, thái độ và hành vi ứng xử của nhiều thế hệ”[4, tr 26]và thể hiện ở nhiều phương diện: nghề nghiệp, học hành, giáo dục con cái, tổ chức sinh hoạt

Nề nếp và thói quen của gia đình trong cách tổ chức sinh hoạt, hành vi ứng

xử, kính trên nhường dưới, đói cho sạch rách cho thơm có ý nghĩa quyết định phương hướng phát triển toàn bộ cuộc đời của mỗi người và đặc biệt nó chi phối đến lối sống của cá nhân

1.2.3.2 Nhà trường

Nhà trường là một tổ chức xã hội với mục đích giáo dục đào tạo, hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người theo yêu cầu của xã hội Nhà trường gắn bó với con người từ khi họ cắp sách đến trường Nhà trường có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo về chuyên môn và được trao đồi phẩm chất đạo đức, là những tấm

Trang 38

gương cho lớp trẻ noi theo Nhà trường chủ động tác động đến con người một cách có

hệ thống, có mục đích, có nội dung, phương pháp rõ ràng và cụ thể

Nhà trường cũng chính là một xã hội thu nhỏ qua đó nhân cách sống và lối sống của con người được hình thành, phát triển và bộc lộ Cuộc sống của SV gắn bó chặt chẽ với nhà trường Hầu hết các hoạt động của SV được diễn ra trong nhà trường, đặc biệt hoạt động học tập và giao tiếp Trong nhà trường ngoài việc truyền đạt những tri thức cơ bản cho người học, còn phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, lối sống cho SV

Ảnh hưởng từ nhà trường đến lối sống của mỗi cá nhân khá phong phú, trong

đó có những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất chính là việc tổ chức học tập và các hoạt động vui chơi giải trí cho người học ra sao Qua đó sẽ thể hiện quy chế, nề nếp, kỷ cương của nhà trường có chặt chẽ hay không Nhà trường còn diễn ra các mối quan

hệ với thầy cô và bạn bè Một nhà trường có kỷ cương nề nếp tốt đẹp, thầy cô giỏi chuyên môn, gương mẫu, tập thể bạn bè biết yêu thương, đùm bọc, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau sẽ là một môi trường có tác động mạnh mẽ đến lối sống của SV Nhà trường là môi trường có văn hóa và được giáo dục luôn được xem là “pháo đài” vững chắc để giúp thế hệ trẻ phòng ngừa và tránh xa các biểu hiện lối sống không lành mạnh cũng như các tệ nạn xã hội

1.2.3.3 Xã hội

Ngoài gia đình và nhà trường, xã hội cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá mạnh đến sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như lối sống của SV Con người chịu ảnh hưởng từ xã hội theo cơ chế xã hội hóa cá nhân Các tổ chức xã hội luôn cùng với gia đình và nhà trường giáo dục thế hệ trẻ

SV nhà trường tham gia vào các tổ chức xã hội trước hết thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân và cũng là để thể hiện bản lĩnh, sức mạnh của tuổi trẻ Các tổ chức xã hội cũng dựa trên đó mà tổ chức các hoạt động đa dạng có sức cuốn hút SV như: chiến dịch mùa hè xanh, các hoạt động tình nguyện, từ thiện, chương trình đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động tư vấn trợ giúp, các diễn dàn phòng

Trang 39

chống tệ nạn xã hội Như vậy, các tổ chức xã hội vừa tuyên truyền, vừa giáo dục con người bằng thực tiễn

Xã hội còn tác động đến mỗi cá nhân thông qua dư luận xã hội Dư luận xã hội có tác dụng xây dựng và uốn nắn hành vi của con người, giúp con người có lối sống, cách ứng xử sao cho hài hòa và phù hợp với mọi người trong xã hội để sống cho đúng nghĩa là một con người

Tuy nhiên, xã hội luôn tác động đến mỗi cá nhân bằng nhiều con đường và trong nhiều hoàn cảnh phức tạp khác nhau Cùng một tác động có thể có ý nghĩa đối với người này - làm thay đổi, cũng thể không có ý nghĩa đối với người khác bởi vì xã hội tác động đến con người không mang tính bắt buộc như ở gia đình và nhà trường

1.2.3.4 Văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mà nhiều ngành khoa học xã hội quan tâm Văn hóa theo cách hiểu trong đề tài này là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, lưu giữ, tích lũy và phát triển thông qua các hoạt động cải biến và ứng xử với thiên nhiên, xã hội, bản thân và được thể hiện dưới các thể thức ngày càng sâu sắc, đa dạng, để tôn vinh và phát triển toàn diện con người, nhằm làm cho thế giới có tình người[10, tr 71]

Với chức năng nhận thức, giáo dục, điều tiết các quan hệ, giao tiếp và dự báo, văn hóa giúp con người nhận thức về thế giới, giáo dục con người theo các khuân mẫu ứng xử của xã hội, tổ chức đời sống xã hội và cá nhân, giúp con người hiểu biết

về nhau và hướng con người vào các giá trị ổn định hoặc đang và sẽ hình thành[10, tr 76-77]

Văn hóa luôn gắn với con người và hoạt động sống của con người Một khi văn hóa được hình thành, nó chính là điều kiện, môi trường bảo tồn và tôn vinh các giá trị làm người Tất cả các hoạt động văn hóa đều nhằm phát triển các năng lực của con người để con người tổng hòa được các thuộc tính sinh vật - xã hội và tính chất xã hội - văn hóa để phát triển toàn diện như một nhân cách có văn hóa Như vậy, mọi hoạt động sống của con người luôn có dấu ấn văn hóa Cá nhân sống trong nền văn hóa nào thì xu hướng nhân cách và lối sống của họ cũng như thế ấy

Trang 40

Văn hóa Việt Nam, về bản chất được kết tinh hình thành và tôi luyện trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, luôn mang mầu sắc tình nghĩa, giàu lòng thương yêu, nhân hậu, nhân ái đã góp phần vào quá trình hình thành nhân cách

và lối sống mang đậm dấu ấn con người Việt Nam

Ở thời điểm hiện nay với đặc trưng là sự giao lưu kinh tế và văn hóa, vì vậy việc tiếp cận thông tin với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới của mỗi người được mở rộng và tự do hơn Tuy nhiên, trong sự giao lưu ấy ngoài những mặt tích cực chúng ta phải chấp nhận những mặt tiêu cực của các văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thiếu lành mạnh, thực dụng và hưởng thụ Những mặt tiêu cực này có tác động không nhỏ đến lối sống SV - những người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm và dễ bị dao động

1.2.3.5 Sự tự giáo dục của mỗi cá nhân

Lối sống của con người bị chi phối bởi nhiều yếu tố, ngoài những yếu tố đã chỉ ra ở trên, sự tự giáo dục của bản thân đóng vai trò hết sức quan trọng Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách hoạt động của cá nhân đóng vai trò quyết định Những kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người, nền văn hóa xã hội được cá nhân tiếp thu và lĩnh hội thông qua hoạt động, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, yếu tố cá nhân đóng vai trò quyết định trong đó có sự tự giáo dục của mỗi cá nhân.“Tự giáo dục là một hiện tượng có tính quy luật của việc phát triển cá nhân: do ảnh hưởng của hoàn cảnh sống và của giáo dục, trong quá trình hoạt động ý thức và

tự ý thức của con người đã được hình thành Con người đối chiếu hứng thú và nhu cầu của bản thân với hoàn cảnh và yêu cầu của xã hội và lựa chọn những phương tiện cần thiết của lối sống và cách cư xử”[5, tr 144]

Như vậy, đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách, lối sống có thể nhận thấy sự tự giáo dục có vai trò quan trọng giúp cho cá nhân nhận ra những ưu điểm và hạn chế khuyết điểm để phấn đấu nhằm đạt đến sự hoàn thiện nhất Mỗi cá nhân có sự phát triển về tự ý thức, tự đánh giá biết định hướng và điều chỉnh bản thân như thế nào cho có ý nghĩa, họ biết lựa chọn những gì là đúng đắn, phù hợp với chính bản thân và với xã hội Con người là một thực thể xã hội luôn hoạt động tích cực Sức mạnh của con người thể hiện ở chỗ bản thân nó có thể uốn nắn mình,

Ngày đăng: 20/11/2017, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (1998): Tâm lý học nhân cách, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Trần văn Bính (1997): Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Trần văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
3. Võ Thị Cúc (1997): Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ
Tác giả: Võ Thị Cúc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
4. Covaliop A.G (1971): Tâm lý học cá nhân, Tập 1, 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Trần Độ (chủ biên), Quang Đạm, Lê Nhƣ Hoa, Nguyễn Văn Hùng, Lê Anh Trà, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Vinh (1983): Bàn về lối sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân", Tập 1, 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Trần Độ (chủ biên), Quang Đạm, Lê Nhƣ Hoa, Nguyễn Văn Hùng, Lê Anh Trà, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Vinh (1983): "Bàn về lối sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Covaliop A.G (1971): Tâm lý học cá nhân, Tập 1, 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Trần Độ (chủ biên), Quang Đạm, Lê Nhƣ Hoa, Nguyễn Văn Hùng, Lê Anh Trà, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Vinh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
7. Thanh Lê (2000): Văn hóa và lối sống, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lối sống
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
8. Nguyễn Hồng Hà (2005): Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống và con người việt nam. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống và con người việt nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
9. Võ Văn Thắng (2006): Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay. Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Võ Văn Thắng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
10. Huỳnh Khánh Vinh (2001): Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn mực giá trị xã hội. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn mực giá trị xã hội
Tác giả: Huỳnh Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Nxb Tri thức (1997): Lối sống XHCN và sự phát triển về mặt tinh thần của con người, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống XHCN và sự phát triển về mặt tinh thần của con người
Tác giả: Nxb Tri thức
Nhà XB: Nxb Tri thức (1997): "Lối sống XHCN và sự phát triển về mặt tinh thần của con người"
Năm: 1997
12. Lê Đức Phúc(2006): Đề cương bài giảng môn tâm lý học văn hóa, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng môn tâm lý học văn hóa
Tác giả: Lê Đức Phúc
Năm: 2006
14. Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Tones, Michelle, Staiworth, Ken Sheard Andrew Welster (1993): Nhập môn xã hội học, Viện Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Tác giả: Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Tones, Michelle, Staiworth, Ken Sheard Andrew Welster
Năm: 1993
15. Viện thông tin khoa học xã hội, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (1978): Sưu tầm chuyên đề lối sống xã hội chủ nghĩa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tầm chuyên đề lối sống xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Viện thông tin khoa học xã hội, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 1978
16. Viện ngôn ngữ học – Trung tâm từ điểm học(1998): Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội-Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học – Trung tâm từ điểm học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
19. Mạc Văn Trang (chủ biên) (1995): Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống sinh viên, Đề tài Nghiên cứu khoa học, Mã số B94-38-32, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống sinh viên
Tác giả: Mạc Văn Trang (chủ biên)
Năm: 1995
22. Võ Đang Khoa (2008): Tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang
Tác giả: Võ Đang Khoa
Năm: 2008
25. Mạc Văn Trang (1995): Đạo đức lối sống sinh viên hiên nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên, Báo cáo kết quả đề tài B94-38-32, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức lối sống sinh viên hiên nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên
Tác giả: Mạc Văn Trang
Năm: 1995
26. Nguyễn Quang Uẩn (1998): Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên sư phạm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Báo cáo tổng hợp đề tài mã số QG/96/08, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên sư phạm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Năm: 1998
27. Vũ Khiêu (1983), Lối sống là gì, Tạp chí Xã hội học, (số 7), tr 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1983
28. Nguyễn Văn Bạt (2007), Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Tạp chí khoa học, Số 23, tr 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Bạt
Năm: 2007
29. Bùi Vân Anh (2006), Bước đầu tìm hiểu thái độ của nữ sinh viên về sống thử, Tạp chí Tâm lý học, Số 2, tr 60 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Bùi Vân Anh
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w