viii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CT CCT CB UNT CQT CBT DTPL DT DTPĐ ĐTNT GTGT GDP HĐND HĐTV HKD KVKTNQD MB NQD NSNN NNT QLT SXKD TNCN TNDN TTĐB TN UBND UNT Cục thuế Chi cục thuế Cán bộ ủy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Quyết định giao đề tài: Số 249/QĐ-ĐHNT ngày 24/03/2015
Quyết định thành lập hội đồng Số 1163/QĐ-ĐHNT-Ngày 29/12/2016
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Chi cục Thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp số liệu cho tôi để thực hiện luận văn này
Tác giả luận văn
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu luận văn 4
CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 5
1.1 Tổng quan về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 5
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò của thuế 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hộ kinh doanh cá thể 10
1.1.3 Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể 13
1.2 Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 18
1.2.1 Khái niệm quản lý thu thuế 18
1.2.2 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 18
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thu thuế 26
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 29
1.3.1 Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách 29
1.3.2 Nhân tố thuộc về cơ quan thuế 31
1.3.3 Nhân tố thuộc bản thân thành phần kinh tế cá thể 32
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC, .35
Trang 6vi
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.1.3 Tình hình hoạt động của HKD cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc 37
2.2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 38
2.2.1 Thực trạng công tác quản lý các thủ tục hành chính thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 38
2.2.2 Thực trạng giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế 44
2.2.3 Thực trạng quản lý quy trình thu thuế 47
2.3 Những hạn chế trong công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và nguyên nhân 60
2.3.1 Những hạn chế 60
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 62
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN 65
3.1 Căn cứ thiết lập giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 65
3.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội huyện Nghi Lộc đến năm 2020 65
3.1.2 Công cuộc cải cách hành chính thuế của ngành thuế 66
3.1.3 Quan điểm, định hướng về quả lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc 66
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 71
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các thủ tục hành chính thuế 71
3.2.2 Giải pháp tăng cường giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế 74
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý quy trình thu thuế 77
3.3 Một số kiến nghị 81
3.3.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách thuế đối với HKD cá thể 81
Trang 7vii
3.3.2 Sửa đổi, bổ sung chính sách thuế hiện hành 82
3.3.3 Sự quan tâm của Cục thuế, Chi cục thuế, các cấp chính quyền trong công tác quản lý hộ kinh doanh cá thể 82
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT CCT
CB UNT CQT CBT DTPL
DT DTPĐ ĐTNT GTGT GDP HĐND HĐTV HKD KVKTNQD
MB NQD NSNN NNT QLT SXKD TNCN TNDN TTĐB
TN UBND UNT
Cục thuế Chi cục thuế Cán bộ ủy nhiệm thu
Cơ quan thuế Cán bộ thuế
Dự toán pháp lệnh
Dự toán
Dự toán phấn đấu Đối tượng nộp thuế Giá trị gia tăng Tổng sản phẩm quốc nội Hội đồng nhân dân Hội đồng tư vấn
Hộ kinh doanh Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Môn bài
Ngoài quốc doanh Ngân sách nhà nước Người nộp thuế Quản lý thuế Sản xuất kinh doanh Thu nhập cá nhân Thu nhập doanh nghiệp Tiêu thụ đặc biệt Tài nguyên
Ủy ban nhân dân
Ủy nhiệm thu
Trang 9ix
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cá nhân đăng ký kinh doanh 2012-2015 37 Bảng 2.2 Doanh thu, mức thuế của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An năm 2015 40 Bảng 2.3 Lượt hộ kinh doanh tạm nghỉ hàng tháng từ năm 2012-2015 43 Bảng 2.4 Tình hình quản lý hộ kinh doanh cá thể 2012-2015 45 Bảng 2.5 Kết quả kiểm tra thuế hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2012 - 2015 của Chi cục thuế huyện Nghi Lộc 46 Bảng 2.6 Kết quả nhận dự toán thu thuế 2012-2015 tại Chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 48 Bảng 2.7 Kết quả thực hiện dự toán thuế năm 2012-2015 tại chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 49 Bảng 2.8 Kết quả thu thuế NQD giai đoạn 2012-2015 tại Chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 50 Bảng 2.9 Cơ cấu cán bộ của Chi cục thuế theo mô hình chức năng quản lý thuế năm
2015 53 Bảng 2.10 Tình hình nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2012-2015 56 Bảng 2.11 Thống kê mức độ hài lòng của HKD đối với CCT Nghi Lộc 58
Trang 10x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng thuế năm 2015 huyện Nghi Lộc theo ngành kinh tế 41 Biểu đồ 2.2 Miễn, giảm thuế hộ tạm nghỉ kinh doanh năm 2012-2015 43 Biểu đồ 2.3 Kết quả thực hiện dự toán thu NQD Chi cục thuế huyện Nghi Lộc giai đoạn 2012-2015 51 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu trình dộ cán bộ, công chức 54 Biểu đồ 2.5 Nợ thuế hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2012-2015 56
Trang 11xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là một trong những vấn
đề tương đối rộng, phức tạp Hộ kinh doanh thường xuyên thay đổi ngành nghề, quy
mô và địa điểm kinh doanh, các yếu tố khác như điều kiện kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, thói quen … cũng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của hộ
Vận dụng cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, đề tài
“Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” đã đạt được các mục tiêu đặt ra sau đây:
Thứ nhất, đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể, nội dung công tác quản lý thu thuế; vai trò của hộ kinh doanh; thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể, làm cơ sở giải quyết những nội dung nghiên cứu của đề tài
Thứ hai, đề tài đã phân tích thực trạng quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An qua các năm 2012-2015 về cơ bản
đã đạt kết quả nhất định, số thu từ hộ tăng qua các năm, năm sau tăng cao hơn năm trước, góp phần hoàn thành dự toán thu thuế của ngành thuế Nghệ An, đảm bảo một phần nhu cầu chi ngân sách Nhà nước của huyện Tuy nhiên, thông qua phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và đánh giá các mặt về quản
lý thuế thì công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể của Chi cục thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An còn bộc lộ những hạn chế từ nguồn lực của Chi cục thuế cũng như
từ công tác quản lý thu thuế
Thứ ba, trên cơ sở những hạn chế phát hiện được, đề tài đã đề xuất 3 nhóm giải
pháp cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại về công tác quản lý thu thuế tại địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giúp cho Chi cục thuế tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
Từ khóa: Hộ kinh doanh, quản lý thu thuế, Huyện Nghi Lộc
Trang 121
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thông qua nguồn thu này để Chính phủ chi tiêu cho các công trình công cộng, cải thiện hệ thống an sinh xã hội Vì vậy vấn đề quản lý thu thuế sao cho thu đúng, thu đủ luôn được đặt ra để tạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ đóng góp của người dân Trong thời gian qua, công tác thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách nhà nước với tỷ lệ tăng năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các hộ kinh doanh cá thể vẫn còn thấp, tình trạng vi phạm pháp luật thuế vẫn luôn xảy ra ở nhiều hình thức, với mức độ khác nhau, nợ thuế ngày càng tăng Đối với nguồn thu này còn nhiều tiềm năng khai thác bởi thực trạng quản lý thuế còn sót hộ, doanh thu tính thuế chưa tương xứng với với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ …Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải hoàn thiện chính sách và công cụ quản lý để nâng cao hiệu lực của công tác quản
lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc nhằm hướng tới hai mục tiêu cơ bản là:
- Về phía ngành thuế: Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước, đảm bảo nguồn thu ổn định và tăng thu qua các năm
- Về phía hộ kinh doanh cá thể: Nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của
hộ kinh doanh đối với ngân sách Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý giải quyết đầy đủ các quyền lợi của người nộp thuế
Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An là huyện thuộc địa bàn có nhiều xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (Quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ) có số thu từ thuế không nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng năm của huyện, nhưng nguồn thu thuế chủ yếu từ KVKTNQD, tỷ trọng số thuế từ khu vực này chiếm từ 80% đến 90%, trong đó từ hộ kinh doanh cá thể chỉ chiếm từ hơn 4% đến 5% trong tổng số thu từ KVKTNQD trên địa bàn huyện[17] Nhiều năm qua Chi cục thuế huyện hoàn thành dự toán pháp lệnh (DTPL) do Cục thuế tỉnh Nghệ An giao, nhưng tính chất đa dạng và phức tạp của hộ kinh doanh cá thể trên
Trang 132
địa bàn đòi hỏi Chi cục thuế cần khắc phục những tồn tại và các mặt hạn chế nhằm nuôi dưỡng nguồn thu, thu đúng, thu đủ tiền thuế theo quy định của pháp luật
Xuất phát từ những lý do trên, việc chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế và tạo được sự hài lòng của người nộp
thuế, Bộ Tài chính tiếp tục phê duyệt Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011
và các đề án triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn
2011-2020 nhằm đẩy mạnh công cuộc cải cách toàn bộ hệ thống thuế [15];
Qua nghiên cứu, tìm hiểu một số công trình khoa học đã được công bố trong lĩnh vực thuế điển hình như: “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương (2003) là một đề tài cấp Viện Khoa học Tài chính [1] Đề tài đã khái quát thực trạng công tác quản lý thu thuế ở Việt Nam ở trên hai góc độ là thực trạng công tác tổ chức bộ máy thu thuế và thực trạng công tác hành thu Đề tài đã rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu một số giải pháp quản lý thu thuế khá phù hợp với Việt Nam thông qua việc phân tích kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số nước trên thế giới và thực trạng của Việt Nam Tuy nhiên, nhận xét cải cách quản lý hành chính thuế ở một số nước trên thế giới được tác giả nêu ra khá phong phú nhưng các bài học cho Việt Nam còn chưa rõ, việc vận dụng vào thực tiễn quản lý thuế vào Việt Nam còn chưa phù hợp Đồng thời, nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở những năm 2003 nên một số giải pháp không còn phù hợp với tình hình hiện nay
Đối với công tác quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể, một số văn bản đã được hoàn thiện kịp thời để phù hợp với thực tiễn kinh doanh và tình hình kinh tế xã hội Ban hành quy trình quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay [13], [14]; Ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn chi tiết về thuế GTGT và thuế TNCN một cách rõ ràng, dễ hiểu và tạo được sự công bằng trong công tác thu thuế hộ kinh doanh cá thể [12] Một số bài báo mới đây đã đưa ra được những kết quả thành công nổi bật trong công tác quản lý thu thuế ở các huyện và những biện pháp tăng cường quản lý thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh của Chi cục Thuế Thành phố Thái Nguyên, Chi cục thuế Thành phố Hà Giang [37], [38] Những nghiên cứu gần
Trang 143
đây của các tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm chống thất thu thuế và nợ đọng thuế hộ kinh doanh cá thể, chẳng hạn như đề tài “Hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” của Đặng Thị Thùy Trang [35]; Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuê đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quảng Nam” của Trần Thị Thanh Thủy [36]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, trên nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Vì vậy, nghiên cứu của tác giả trong luận văn này có sự khác biệt về địa điểm nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Vận dụng cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể để phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Trên cơ sở này, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể: Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm:
- Phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản
lý thu thuế đối với hộ kinh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, bao gồm các vấn đề chủ yếu như: Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế, quá trình thực hiện quản lý thuế, kết quả lập bộ thuế và tổ chức thu, nộp thuế, kiểm tra thuế
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu phân tích thực trạng quản lý thu thuế
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012–
2015, bao gồm: Hộ nộp thuế theo phương pháp khoán và hộ nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế
Trang 154
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp
- Luận văn kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số tác giả
có công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể đã được công bố
Bên cạnh đó, các nội dung về quản lý thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế, các chính sách thuế được ban hành và đang áp dụng đến thời điểm năm 2016, làm cơ sở lý luận cho việc phân tích công tác quản lý thu thuế
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với hộ
kinh doanh cá thể tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Trang 165
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ
KINH DOANH CÁ THỂ
1.1 Tổng quan về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng, vai trò của thuế
Trên các sách báo kinh tế thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đủ bản chất chung nhất của phạm trù này Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được khái niệm rất đơn giản “Thuế khóa là cái vú sữa của Chính phủ”
Ph.Ăngghen cho rằng để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho nhà nước đó là thuế
Mác-Ăngghen cho rằng để thực hiện quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của các công dân cho nhà nước, khoản đóng góp đó gọi là thuế
Trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh là Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn sách Economics K.P makkohhell và C.L Bryu - Moscow (1993) của hai nhà kinh tế Mỹ là K.P Makkohhell và C.L Bryu – Moscow như sau: Thuế là một khoản chuyển giao bắt
buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các
Trang 176
hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà Tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”
Trong giáo trình thuế của Học viện tài chính (Nhà xuất bản Học viện Tài chính năm 2016) Theo đó, thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
1.1.1.2 Bản chất của thuế
Thuế là một công cụ tài chính của nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế thông qua những đặc điểm để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác, cụ thể:
- Một là, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự:
Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc gắn với quyền lực của nhà nước, hành động đóng thuế cho nhà nước là hành động thực hiện nghĩa vụ của công dân Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, giúp phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác của NSNN như phí, lệ phí hay hình thức phạt bằng tiền
Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa là việc đóng thuế cho nhà nước không phải là kết quả nảy sinh từ hành vi vi phạm pháp luật
mà là nghĩa vụ đóng góp được pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh
- Hai là, thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất, các yếu tố chính trị, xã hội …) trong thời kỳ nhất định:
Các yếu tố tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của ngân sách Nhà nước …Thông qua công cụ thuế của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát
Trang 187
triển thu hút sự đầu tư của các nhà sản xuất Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách Nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư hoạt động Các yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của nhà nước; tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa,
xã hội của dân tộc …
- Ba là, thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá,
nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho nhà nước;
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế hoàn trả không trực
tiếp, có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng cũng nhận được một phần các hàng hóa, dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp cho cả cộng đồng, giá trị phần hàng hóa, dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ nộp cho nhà nước (khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí)
Nhà nước thu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và chi phát triển cơ
sở hạ tầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng … Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu được thuế vào ngân sách Nhà nước
- Bốn là, thuế mang tính pháp lý cao: Hiến pháp nước ta năm 1992 (sửa đổi năm 2013), Điều 47 đã ghi rõ: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo Luật định”
Quốc hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng hệ thống Luật Những tiêu thức thường được xác định trước trong các Luật thuế là: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp và các chế tài khác mang tính cưỡng chế
- Năm là, các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của nhà nước đối với con người và tài sản
Trang 198
1.1.1.3 Chức năng của thuế
Thuế là phạm trù kinh tế, tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ kinh tế, tài chính Thuế có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ kinh tế, tài chính
Thuế thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều tiết nền kinh tế
1.1.1.4 Vai trò của thuế
- Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho nhà nước: Bất kỳ
một chế độ nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo cho mình một nền tài chính quốc gia vững chắc, mà trong đó nguồn tài chính chủ yếu được động viên từ thuế và phí từ nội bộ nền kinh tế quốc dân “Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước” Ở nước ta, từ khi Luật thuế ra đời, nguồn thu từ thuế ngày một tăng lên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách Nhà nước Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất, tỷ trọng các khoản thu
từ thuế thường chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách Đây là nguồn thu ổn định nhất, được kế hoạch hóa trên cơ sở tiềm năng và kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước Vai trò của thuế thực sự được nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý và điều tiết của nhà nước, thuế được áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt kinh tế nhà nước hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nó bao quát và điều tiết các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên nhiên cũng như mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội
Thuế tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nhưng nguồn thu đó được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao Đây là vấn đề luôn được quan tâm đúng mức trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức quản lý thu thuế
- Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Thuế là công cụ chủ yếu của nhà
nước dùng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Một chính sách thuế đặt
ra không chỉ đơn thuần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước , mà quan trọng hơn là
Trang 20+ Hạn chế hoặc thu hẹp một số ngành, nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng hoặc ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe cộng đồng (áp dụng mức thuế cao), áp thuế Tiêu thụ đặc biệt, kể cả thuế nhập khẩu Nhà nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả và mang lại lợi ích dân sinh
- Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối: Với học thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith nền kinh tế thị trường không
có sự điều chỉnh, can thiệp của nhà nước, thị trường tự điều chỉnh nền kinh tế Do vậy, một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là phân hóa giàu nghèo, tức
là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Tình trạng trên không chỉ liên quan đến vấn
đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo ra sự lũng đoạn và độc quyền, về lâu dài không thể ổn định cho nền kinh tế tăng trưởng
Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả từ sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia
sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng, sẽ tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lợp dân cư, gây ra bất ổn xã hội Chính vì vậy, nhà nước cần can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế
là công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng để tác dộng trực tiếp vào quá trình này Thông qua hệ thống các sắc thuế, nhà nước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân có trong xã hội, người có thu nhập cao phải đóng thuế cao và ngược lại (thể hiện qua hoạt động tiêu dùng chịu sự điều tiết của thuế gián thu và thuế TNCN) Tổ chức
Trang 21đề xuất chính sách thuế hoàn thiện, sao cho Thuế là công cụ kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của cả nền kinh tế, đảm bảo chức năng của Thuế đối với mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hộ kinh doanh cá thể
1.1.2.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
Theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh ngày 14/9/2015, khái
niệm pháp lý về hộ kinh doanh được sử dụng thống nhất hiện nay là: “Hộ kinh doanh
do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng
ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Điều 66)
Trong thực tế hộ kinh doanh hoạt động đa dạng, đôi khi không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh mà còn có sự hùn vốn giữa các cá nhân; do đặc thù ngành nghề nhiều
hộ kinh doanh sử dụng hơn 10 lao động như kinh doanh ăn uống, thủ công mỹ nghệ thu hút rất nhiều lao động … nhưng thực chất đặc điểm và quy mô kinh doanh vẫn mang tính chất của hộ kinh doanh; hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh thời vụ không có địa điểm kinh doanh cố định
Theo chế độ kế toán hộ kinh doanh ban hành kèm theo Quyết định số
169/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ Tài chính: “Hộ kinh doanh là tất cả các
hộ sản xuất kinh doanh chưa đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, vận tải, khai thác tài nguyên, nuôi trồng thủy
Trang 221.1.2.2 Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh cá thể là bộ phận kinh tế năng động, lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động Môi trường hoạt động và đặc điểm của hộ kinh doanh về quy mô, tính phức tạp trong giao dịch kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, mức độ hiểu biết về thuế, thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh… là những yếu tố quyết định biện pháp quản lý thuế Hộ kinh doanh cá thể có những đặc điểm sau:
- Đặc điểm về sở hữu: Hộ kinh doanh mang tính chất của một hộ gia đình,
hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của những người trong gia đình nên gắn kết chặt chẽ, có trách nhiệm cao với tài sản, vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh Hoạt động của hộ kinh doanh mang tính tự chủ cao, chủ hộ tự quyết định mọi việc Quan hệ mua bán ở khu vực này thường là thỏa thuận trực tiếp, trao tay trên cơ sở
“thuận mua vừa bán” không ký kết hợp đồng kinh tế, ít sử dụng hóa đơn, chứng từ Do
đó, việc quản lý thuế, xác định đúng doanh thu, lợi nhuận của hộ kinh doanh không đơn giản
- Về quy mô sản xuất kinh doanh, trình độ chuyên môn, quản lý: Hộ kinh
doanh có quy mô nhỏ, ít vốn nên dễ dàng thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh để ứng phó với những biến động thị trường Song hộ kinh doanh không có điều kiện trang
bị máy móc hiện đại, dự trữ nguyên vật liệu, hàng hóa với số lượng lớn cộng thêm trình độ chuyên môn, quản lý, tay nghề của người lao động thấp do đó năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, hạn chế về khả năng cạnh tranh trên thị trường Đây là thành phần kinh tế dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của môi trường kinh doanh Đặc điểm này đòi hỏi quản lý thuế phải có biện pháp và cách thức phù hợp Hộ kinh doanh hiểu biết về pháp luật nói chung và chính sách thuế có hạn chế, do vậy các chính sách, thủ tục về thuế cần đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện
- Số lượng hộ kinh doanh lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động: Hộ kinh doanh có số lượng rất lớn, có mặt ở khắp các
địa bàn, hoạt động ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực Thành phần tham gia kinh doanh
Trang 2312
phức tạp, có hộ kinh doanh chuyên nghiệp, có người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nông dân lúc nông nhàn, các đối tượng chính sách kinh doanh, thậm chí có cả cán bộ công chức nhà nước kinh doanh để cải thiện đời sống …Ngoài ra, hộ kinh doanh sản xuất, buôn bán thuần túy, có địa điểm cố định, còn có nhiều hoạt động khác như hộ buôn chuyến, kinh doanh thời vụ, vỉa hè, kinh doanh sáng tối, hộ tổ chức sản xuất, gia công ở các làng nghề, các trang trại …
- Về ý thức tuân thủ pháp luật thuế: Các hộ kinh doanh cá thể có mức độ tuân
thủ thuế khác nhau, đa số chấp hành nhưng chưa thực sự hài lòng và tích cực hợp tác với cơ quan thuế tùy theo mức độ nhận thức của họ Chuẩn mực xã hội, nghĩa vụ công dân, vai trò vị thế của hộ kinh doanh trong cộng đồng, nhận thức về sự công bằng trong nghĩa vụ thuế và sự đối xử của cơ quan thuế là những yếu tố tác động đến nhận thức và hành vi của hộ kinh doanh từ đó tác động đến ý thức tuân thủ thuế
1.1.2.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể
- Hộ kinh doanh góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lớn lao động, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo Trong điều kiện lực lượng lao động ngày
càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp cao, khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp hạn chế thì hộ kinh doanh giải quyết được nhiều việc làm tại địa phương Hộ kinh doanh quy mô vốn nhỏ, có khả năng thích nghi cao với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nông nhàn, trình độ thấp, đời sống nhân dân còn khó khăn Ở thành thị, hộ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp cũng tạo khá nhiều việc làm Theo thống kê, năm 2015 cả nước có khoản 3,1 triệu hộ kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 7 triệu lao động vốn có trình độ thấp, là nguồn thu nhập của nhiều hộ gia đình, tạo ra mạng lưới rộng khắp trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho xã hội , đóng góp 33 % GDP cả nước
- Hộ kinh doanh huy động được một khối lượng lớn vốn, khai thác tiềm năng, sức sáng tạo trong dân, thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy quy mô nhỏ nhưng số lượng
nhiều HKD có khả năng huy động nguồn vốn nằm rải rác trong dân Hộ kinh doanh còn đưa vào sản xuất kinh doanh một khối lượng lớn tài sản: đất đai, nhà cửa, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, bí quyết nghề nghiệp, tận dụng mọi thời gian và không gian để phát triển sản xuất kinh doanh Đây còn là môi trường phát huy khả năng sáng tạo, tính năng động, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh của người lao động
Trang 2413
- Hộ kinh doanh góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn HKD phát triển nhanh tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhiều
vùng nông thôn, góp phần tạo ra sự phát triển cân bằng giữa nông thôn và thành thị
Sự phát triển của HKD ở khu vực nông thôn đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế, thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng văn minh
- Hộ kinh doanh tạo ra mạng lưới phân phối lưu thông hàng hóa đa dạng, rộng khắp về tận những vùng sâu, vùng xa HKD là một bộ phận kinh tế quan trọng,
đáp ứng đầy đủ và kịp thời các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội Lượng sản xuất của từng hộ kinh doanh không nhiều nhưng với số lượng lớn, hộ kinh doanh tạo ra được một khối lượng hàng hóa lớn, đa dạng, phong phú HKD nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của dân cư, mang hàng hóa đến tận những vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần bình ổn giá cả, cân đối phát triển kinh
1.1.3 Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể
Thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là thuế đánh vào các thể nhân kinh doanh, trong đó có 6 sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh, cụ thể:
- Thuế môn bài (MB): Thuế môn bài là một sắc thuế gián thu và thường là
định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Thuế môn bài được thu hàng năm Mức thu phân theo bậc, dựa vào số vốn đăng ký hoặc doanh thu của năm kinh doanh hoặc giá trị gia tăng của năm kinh doanh tùy từng nước và từng địa phương
Trong hệ thống thuế nước ta, thuế môn bài động viên sự đóng góp của hộ kinh doanh tạo nguồn thu quan trọng cho nhu cầu chi tiêu của NSNN Sự động viên từ thuế môn bài được tính theo năm, mức thuế được áp dụng theo số tuyệt đối căn cứ vào quy
mô kinh doanh của hộ Mức thuế môn bài hiện nay được áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể gồm 6 mức, từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng/năm căn cứ vào mức thu nhập tháng của hộ kinh doanh, kể cả hộ có thu nhập thấp được miễn thuế[4]
Trang 2514
Tuy số thu hàng năm của thuế môn bài không nhiều so với số thu của các loại thuế khác nhưng đây lại là nguồn thu tương đối ổn định và thường tăng thu cho ngân sách nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều, do hộ ra kinh doanh mỗi năm một tăng Về chính sách thuế môn bài, hộ ra kinh doanh vào thời gian 6 tháng đầu năm thì nộp thuế môn bài cả năm, của 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế môn bài cả năm, hộ mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay trong tháng được cấp giấy phép kinh doanh và cấp mã số thuế, hộ đang kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng đầu của năm dương lịch
Một ưu điểm quan trọng nhất của thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho việc
áp dụng các sắc thuế khác như: thuế GTGT, thuế TNCN, thuế TTĐB, thuế tài nguyên Mọi cá nhân có hoạt động kinh doanh đều phải nộp thuế môn bài (kể cả có giấy phép kinh doanh hay chưa có giấy phép kinh doanh) Do đó, thuế môn bài có tác dụng thống
kê, kiểm soát các hộ kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc thu các loại thuế có số thu cao hơn, và vì thế, thuế môn bài không quy định chế độ miễn, giảm thuế
- Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu
đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
+ Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam, kể
cả hàng sản xuất trong nước hay hàng nhập khẩu hàng tiêu dùng nội bộ hoặc làm quà biếu, quà tặng (trừ hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế quy định tại Luật thuế GTGT)
+ Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các hộ có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế
+ Các hộ kinh doanh có thể lựa chọn và đăng ký với Chi cục thuế để được áp dụng phương pháp tính thuế GTGT phù hợp với quy mô, điều kiện kinh doanh thực tế của mình, cụ thể:
Theo phương pháp tính thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, có ba hình thức như sau:
* Đối với hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, lập hóa đơn, chứng từ khi mua bán hàng hóa, dịch vụ: Về nguyên tắc, những hộ loại này thường là những hộ
Trang 2615
kinh doanh nhỏ, bán lẻ hàng hóa và kinh doanh nhiều mặt hàng, hàng bán không lập hóa đơn, chứng từ mua, bán Những hộ này nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán như sau:
Thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ thuế GTGT
Ở Việt Nam, thuế GTGT được áp dụng từ ngày 01/01/1999 thay cho thuế doanh thu trước đây (sắc thuế này hiện đã có trên 120 quốc gia áp dụng) Theo đó, thuế suất thuế GTGT đối với hộ kinh doanh có 04 mức thuế đối với từng lĩnh vực ngành nghề: 1% áp dụng cho phân phối, cung cấp hàng hóa; 5% áp dụng đối với dịch
vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu; 3% áp dụng đối với sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu; 2% đối với hoạt động kinh doanh khác [8]
* Đối với hộ kinh doanh thực hiện chế độ kế toán, lập hóa đơn, chứng từ khi mua bán hàng hóa, dịch vụ: Những hộ kinh doanh này chủ yếu là những hộ kinh doanh
có mức doanh thu tương đối cao, có sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế để cấp cho người mua hàng hóa, dịch vụ Hộ kinh doanh có sử dụng hóa đơn được áp dụng phương pháp khoán thuế căn cứ trên doanh thu khoán như hộ khoán thông thường Bên cạnh đó, hộ sử dụng hóa đơn phải nộp thuế căn cứ trên doanh thu hóa đơn đã xuất cho người mua hàng hóa, dịch vụ
* Đối với cá nhân nộp thuế khoán có mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống được xác định là hộ thu nhập thấp và không phải nộp thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT tạo được nguồn thu lớn và tương ổn định cho NSNN Hiện nay số thu về thuế GTGT ở nước ta chiếm tỷ trọng khoảng 25-27% trong tổng thu ngân sách
nội địa (Nguồn của Tổng cục thuế)
- Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN): Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào
thu nhập của cá nhân kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế và các khoản thu nhập chịu thuế TNCN khác Thuế TNCN được đưa vào áp dụng lần đầu tiên vào năm 1799 ở Vương quốc Anh, được hoàn thiện và chính thức ban hành vào năm
1842 Sau đó, các nước tư bản phát triển khác trên thế giới cũng áp dụng loại thuế này: Nhật (1887); Mỹ (1913), Pháp (1914)
Trang 2716
Ở Việt Nam, thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên được ban hành dưới dạng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, khu vực kinh tế tư nhân không chịu sự điều chỉnh bởi sắc thuế này Từ năm 2009, với việc áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân được thông qua tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII ngày 21/11/2007, hộ kinh doanh cá thể chuyển từ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sang nộp thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập từ sản xuất kinh doanh của mình
+ Đối tượng nộp thuế TNCN là tất cả các cá nhân, nhóm cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN quy định tại Luật thuế TNCN áp dụng từ ngày 01/01/2009 trở đi
+ Đối tượng đánh thuế TNCN: là thu nhập của thể nhân phát sinh trong năm tính thuế Đối với hộ kinh doanh cá thể thì việc chuyển thu nhập tính thuế từ Luật thuế TNDN sang áp dụng Luật thuế TNCN có ý nghĩa hết sức quan trọng Thể hiện qua các điểm sau:
* Thuế TNDN (Thuế doanh nghiệp): điều chỉnh thu nhập chịu thuế của các tổ chức, thu nhập của hộ kinh doanh cá thể là thu nhập của thể nhân là phù hợp;
* Căn cứ tính thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán là doanh thu tính thuế và tỷ
lệ thuế tính trên doanh thu
+ Doanh thu tính thuế là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
+ Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề như sau: phân phối, cung cấp hàng hóa tỷ lệ thuế thu nhập
cá nhân là 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu tỷ lệ thuế thu nhập
cá nhân là 2%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%; hoạt động kinh doanh khác tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1% [11], [21]
+ Phương pháp tính thuế:
Thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế TNCN x Tỷ lệ thuế TNCN
Trang 2817
- Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Là sắc thuế đánh vào một số hàng hoá, dịch
vụ đặc biệt nằm trong danh mục do nhà nước quy định
Thuế TTĐB được sử dụng phổ biến trên thế giới với các tên gọi khác nhau (ở Pháp thuế - tiêu dùng đặc biệt, ở Thụy Điển - thuế đặc biệt, hay thuế hàng hoá ở các nước Đông Nam Á) Ở Việt Nam, Luật thuế TTĐB được Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, nhằm thay thế thuế hàng hoá trước đây, có hiệu lực từ ngày 01/01/1990, áp dụng thống nhất đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế
Thuế TTĐB là một loại thuế tiêu dùng, có khả năng tạo nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước Thuế TTĐB được coi là công cụ quan trọng định hướng sản xuất
và tiêu dùng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được coi là đặc biệt Trong việc thực hiện mục tiêu này, tư tưởng chung là hạn chế những hàng hoá, dịch vụ mà sản xuất, tiêu dùng không có lợi cho nền kinh tế quốc dân xét cả trên phương diện kinh tế, chính trị,
xã hội
+ Căn cứ tính thuế TTĐB: là giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB và thuế suất thuế TTĐB Giá tính thuế TTĐB là giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế TTĐB, thuế Bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế GTGT, được xác định cụ thể như sau:
Giá bán chưa có thuế GTGT - Thuế Bảo vệ môi trường (nếu có) Giá tính thuế
+ Đối tượng nộp thuế TTĐB: là cơ sở sản xuất hàng hoá, kinh doanh dịch vụ mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB
Hiện nay, một số hàng hoá, dịch vụ đang chịu thuế GTGT ở mức cao và một số hàng hoá, dịch vụ cần thiết để hướng dẫn tiêu dùng sẽ được bổ sung vào diện chịu thuế TTĐB Các mức thuế suất sẽ được thu gọn lại, đồng thời điều chỉnh tăng, giảm mức thuế suất thuế TTĐB phù hợp với việc đánh giá GTGT vào hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB
Cùng với thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNCN; thuế TTĐB đóng góp số thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước Trong những năm gần đây, số thu từ thuế TTĐB
ở nước ta luôn tăng qua các năm và thường chiếm tỷ trọng 7-10% trong tổng số thu từ
thuế và phí (Tổng cục thuế năm 2015)
Trang 2918
- Thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên là sắc thuế đánh vào tài nguyên thiên
nhiên khai thác Số thuế tài nguyên phải nộp = Số lượng tài nguyên thực tế khai thác (tài nguyên khai) x Giá tính thuế đơn vị tài nguyên x Thuế suất thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên không chỉ tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quản lý nhà nước nhằm bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Thuế tài nguyên là một khoản thu của ngân sách Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do nhà nước quan lý Thuế tài nguyên đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên, xét đến cùng người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên
Ngoài sắc thuế nêu trên, một số sắc thuế khác điều chỉnh đối với hộ kinh doanh
cá thể như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, … Tuy nhiên, các khoản thu này chiếm
tỷ trọng không lớn trong tổng số thu từ hộ kinh doanh cá thể
1.2 Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.2.1 Khái niệm quản lý thu thuế
Quản lý thu thuế là việc tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật Quản lý thu thuế được quy định bằng pháp luật, có mục tiêu và đảm bảo cho chính sách thuế được thực thi trong thực tiễn
Nhà nước là chủ thể quản lý thu thuế mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp Đối tượng quản lý thu thuế là người nộp thuế Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là hoạt động quản lý của nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật thuế đối với hộ kinh doanh, nhằm huy động nguồn thu vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
1.2.2 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Nội dung quản lý thuế là những hoạt động mà cơ quan thuế các cấp phải thực hiện trong quá trình quản lý thu thuế Nhằm đảm bảo tính pháp lý về quan lý thuế, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Quản lý thuế, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2007 Luật quản lý thuế tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế quản lý
Trang 3019
thuế tiên tiến, hiện đại theo đó người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế vào ngân sách Nhà nước; cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo chức năng dựa trên hệ thống thông tin về người nộp thuế
Quản lý thu thuế là một trong những nội dung cơ bản của quản ly thuế, gồm các nội dung cơ bản sau:
1.2.2.1 Quản lý các thủ tục hành chính về thuế
Quản lý các thủ tục hành chính thuế là hoạt động của cơ quan thuế tạo điều kiện cho người nộp thuế đăng ký thuế, kê khai thuế và thực hiện nộp thuế theo quy định Các thủ tục hành chính thuế gồm: Đăng ký thuế, kê khai thuế, ấn định thuế, nộp thuế, giải quyết hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế và xoá nợ thuế, xử phạt về thuế
(1) Đăng ký thuế: Là việc hộ kinh doanh thực hiện khai báo nghĩa vụ phải nộp
thuế của mình với cơ quan thuế Cơ quan thuế sẽ quản lý đăng ký thuế thông qua việc cấp mã số thuế cho hộ kinh doanh Quản lý đăng ký thuế bao gồm việc tiếp nhận và xử
lý hồ sơ đăng ký thuế mới, cấp mã số thuế; tiếp nhận hồ sơ và xử lý thông tin về thay đổi địa điểm kinh doanh, loại hình, vốn, ngành nghề kinh doanh và xử lý vi phạm về đăng ký thuế [5]
(2) Kê khai thuế: Cá nhân kinh doanh được cơ quan Thuế phát mẫu Tờ khai
thuế và Tờ rơi tuyên truyền, hướng dẫn về chính sách thuế, đồng thời được hướng dẫn khai doanh thu và tính thuế phải nộp của năm tính thuế Trường hợp cá nhân kinh doanh chưa được cấp mã số thuế thì cơ quan Thuế thực hiện cấp mã số thuế theo quy định về Đăng ký thuế dựa trên thông tin tại Hồ sơ khai thuế [7], [20]
Cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán có sử dụng hoá đơn quyển của cơ quan Thuế được cơ quan Thuế cung cấp mẫu Báo cáo sử dụng hoá đơn áp dụng đối với cá nhân kinh doanh theo mẫu quy định và hướng dẫn khai doanh thu, tính thuế phải nộp theo doanh thu phát sinh trên hoá đơn
Trường hợp cá nhân kinh doanh có yêu cầu khai thuế điện tử thì thực hiện theo hướng dẫn về khai thuế điện tử của Tổng cục Thuế
(3) Thu, nộp thuế: Thu, nộp thuế là khâu quan trọng trong công tác quản lý
thuế và được quy định tại các Luật thuế, Luật quản lý thuế Cá nhân kinh doanh nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước hoặc nộp tiền thuế qua tổ chức ủy nhiệm thu (nếu có) theo thông báo của cơ quan thuế
Trang 3120
Sau khi nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước, cá nhân kinh doanh được nhận chứng từ nộp thuế là Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước có xác nhận của Ngân hàng thương mại/Kho bạc Nhà nước hoặc chứng từ điện tử (nếu nộp thuế điện tử) để làm căn cứ xác định cá nhân kinh doanh đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế Trường hợp nộp qua tổ chức ủy nhiệm thu thì cán bộ ủy nhiệm thu cấp biên lai thuế cho cá nhân kinh doanh và chịu trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền thuế thu được vào Ngân sách Nhà nước
Thông qua công tác thu, nộp thuế đánh giá mức độ hoàn thành công tác quản lý thuế của cơ quan thuế; đồng thời đánh giá ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế
+ Đối với cơ quan thuế: Việc thu đủ tiền thuế trong thời hạn quy định, nộp tiền thuế kịp thời vào ngân sách nhà nước, nhận chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của người nộp thuế, theo dõi thanh toán thuế, thanh toán nợ, không những đánh giá hiệu quả quản lý thuế mà còn đảm bảo tính đúng số nợ thuế của người nộp thuế theo từng khoản thuế
+ Đối với người nộp thuế : Việc nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn thể hiện ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước Người nộp thuế thể hiện tính tuân thủ pháp luật thuế và công tác quản lý thuế giảm thiểu được rủi ro
(4) Giải quyết miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, xử phạt thuế: Đó
là các hoạt động tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thủ tục và giải quyết hồ sơ theo quy định; theo dõi số thuế được miễn, giảm, hoàn thuế, xoá nợ Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt đối với hộ kinh doanh cá thể trong trường hợp: Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt
1.2.2.2 Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế
(1) Quản lý thông tin về đối tượng nộp thuế
- Quản lý đối tượng nộp thuế: Là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cơ quan
thuế trong việc quản lý thu thuế Quản lý đối tượng nộp thuế thể hiện việc quản lý số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, được cấp mã số thuế Đó là quá trình cơ quan thuế thực hiện các bước công việc từ khâu quản lý đăng
ký thuế, nhập và xử lý dữ liệu khai ban đầu của người nộp thuế, thông tin người nộp thuế phục vụ cho công tác quản lý thu thuế theo quy định của Luật thuế, trên cơ sở đó
Trang 3221
cung cấp các thông tin về người nộp thuế cho các bộ phận chức năng khai thác và quản
lý kê khai nộp thuế
Cơ quan thuế muốn thu đúng, thu đủ tiền thuế trước hết phải quản lý hết đối tượng nộp thuế tại địa bàn, nắm bắt đầy đủ thông tin về người nộp thuế để tạo cơ sở cho việc xác định ngành nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh, làm căn cứ xác định doanh thu tính thuế và số thuế phải nộp Quản lý đối tượng nộp thuế không đầy đủ về
số lượng, cập nhật không chính xác các thông tin khai ban đầu và khai bổ sung của người nộp thuế sẽ làm giảm tính pháp lý trong quản lý thuế và thất thu thuế, gây bất bình đẳng giữa người nộp thuế với nhau
Quản lý đối tượng nộp thuế mang ý nghĩa quản lý nguồn thu, chống sót hộ và tạo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Quản lý đối tượng nộp thuế là khâu đầu tiên và quan trọng trong quá trình quản lý thu thuế
- Quản lý doanh thu tính thuế: Xác định doanh thu tính thuế của hộ kinh
doanh sát với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ có ý nghĩa quan trọng cho việc tính đầy đủ số thuế phải nộp, chống thất thu thuế, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
Doanh thu tính thuế là cơ sở quan trọng để xác định số thuế phải nộp của mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Yêu cầu xác định đúng doanh thu tính thuế vừa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động SXKD, tạo
sự đồng thuận, nâng cao ý thức tuân thủ Luật thuế của cộng đồng xã hội
(2) Kiếm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm đo lường, phát hiện những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động của người nộp thuế nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định của Luật thuế
Kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế hiện đại, đặc biệt trong điều kiện thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính thuế, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ thuế, thì kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan quản lý thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện các thủ tục hành chính thuế, chấp
Trang 33về thuế của người nộp thuế Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp cần thiết đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
+ Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế: Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ khai thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra sau kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
Khả năng bị phát hiện trốn thuế, bị cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ thuế và mức
xử phạt đối với các vi phạm về thuế là những yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ thuế của người nộp thuế nhất là hộ kinh doanh
1.2.2.3 Quản lý quy trình thu thuế
(1) Lập dự toán thu thuế
Dự toán thu thuế là bảng tổng hợp số thu dự kiến về thuế trong một thời kỳ nhất định, không tách rời dự toán ngân sách Nhà nước Dự toán thu ngân sách Nhà nước là chỉ tiêu pháp lệnh được Bộ tài chính, UBND tỉnh, HĐND, UBND huyện giao hàng năm, là cơ sở để phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong kỳ kế hoạch
Trang 3423
Lập dự toán thu thuế là hoạt động cơ bản nhất của cơ quan thuế Dự toán thu thuế nhằm xác định mục tiêu thu thuế bằng những con số cụ thể ở từng nguồn thu, từng lĩnh vực Dự toán thu thuế là động lực cho việc huy động các nguồn lực của cơ quan thuế để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, là một trong những cơ sở để đánh giá kết quả quản lý thuế
Lập dự toán thu thuế bao gồm các công việc sau: Tổng hợp đánh giá tình hình
dự toán năm trước; Phân tích biến động kinh tế, xã hội, sự thay đổi các chính sách thuế, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể; Phân tích khả năng nguồn lực có thể huy động cho hoạt động thu thuế; Phân tích hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh ; Xác định khả năng thu thực tế; Từ đó xác định mục tiêu thu thuế và hình thành các phương án thu thuế
(2) Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế
Tuyên truyền, hỗ trợ về thuế là các hoạt động của cơ quan thuế nhằm triển khai, phổ biến chính sách thuế, thông tin, hướng dẫn để hộ kinh doanh hiểu biết đầy đủ các quy định về chính sách thuế và các thủ tục hành chính thuế; tác động vào những hành
vi tâm lý xã hội của hộ kinh doanh nhằm nâng cao nhận thức, đạo đức kinh doanh, khuyến khích hộ kinh doanh chấp hành tốt chính sách thuế, giảm sai sót do thiếu hiểu biết từ đó giảm chi phí hành chính thuế, chi phí thanh tra, cưỡng chế thuế
- Hoạt động tuyên truyền gồm các nội dung:
+ Phát triển các chương trình tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế qua các phương tiện thông tin đại chúng Các hình thức cổ động trực quan nâng cao nhận thức
về nghĩa vụ thuế, cải cách thủ tục hành chính thuế, phong cách phục vụ, cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và hộ kinh doanh
+ Tôn vinh, khen thưởng hộ kinh doanh chấp hành tốt nghĩa vụ thuế qua đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế, tạo tác động lan tỏa đến các hộ kinh doanh khác
+ Thu thập thông tin từ hộ kinh doanh về nhu cầu hỗ trợ về thuế, vướng mắc trong thực hiện chính sách thuế tạo điều kiện cải thiện ý thức chấp hành
- Hoạt động hỗ trợ gồm các nội dung:
Trang 35+ Giải đáp các thắc mắc của hộ kinh doanh trong quá trình thực hiện các chính sách thuế
Tuyên truyền hỗ trợ về thuế là hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong toàn
bộ quá trình quản lý thuế Khâu này làm tốt, hiệu quả sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc và chi phí quản lý thuế Cơ quan thuế kết hợp nhiều hình thức tuyên truyền
hỗ trợ về thuế như trao đổi trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế, giải đáp vướng mắc qua điện thoại, trả lời bằng văn bản, tuyên truyền hỗ trợ gián tiếp qua các ấn phẩm, qua hệ thống mạng thông tin thuế, tổ chức các Hội nghị tuyên dương khen thưởng, Hội nghị đối thoại …
(3) Tổ chức bộ máy thu thuế
Đây là khâu quan trọng trong quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp và phân bổ đội ngũ cán bộ công chức một cách hợp
lý đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế
Cùng với tổ chức bộ máy khoa học, phương pháp làm việc tiên tiến, cần phát triển nguồn nhân lực thu thuế và quản lý thu thuế có trình độ chuyên môn, nắm vững các quy định pháp luật về thuế, có phẩm chất đạo đức tốt, kết hợp với các trang thiết bị phương tiện làm việc hiện đại sẽ cho kết quả quản lý thuế có hiệu quả cao
(4) Quản lý nợ thuế
- Theo dõi, phân tích số thuế nợ của người nộp thuế theo từng loại thuế, mức
nợ, tuổi nợ, phân theo nhóm nợ: (1) Nợ khó thu: là các khoản tiền nợ thuế của người nộp thuế gặp khó khăn, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước (2) Nợ chờ xử lý: là các khoản nợ thuế của người nộp thuế phải nộp ngân sách Nhà nước nhưng đã có văn bản gửi đến cơ quan thuế đề nghị xử lý miễn, giảm, xóa
nợ, gia hạn nộp thuế, xử lý bù trừ các khoản nộp ngân sách Nhà nước (3) Nợ có khả năng thu: là số tiền nợ thuế của người nộp thuế được xác định phải nộp vào ngân sách
Trang 3625
Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào ngân sách Nhà nước và không thuộc các trường hợp nợ thuộc hai nhóm nợ khó thu, nợ chờ xử lý nêu trên
- Kết hợp phân tích nợ với phân tích thông tin về sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của người nộp thuế để xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức thu nợ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế phù hợp
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền nợ thuế của người nộp thuế Có biện pháp kịp thời đôn đốc, xử phạt nợ thuế, theo quy định của luật thuế
- Cưỡng chế nợ thuế: Việc cưỡng chế nợ thuế xuất phát từ việc người nộp thuế
có nợ thuế thuộc diện phải cưỡng chế thuế nhưng chưa nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước Người nộp thuế nợ thuế trên 90 ngày, cơ quan thuế đã phát hành thông báo
nợ thuế, lập các thủ tục về quản lý nợ thuế những nợ thuế trên 90 ngày chưa nộp vào ngân sách Nhà nước, cơ quan thuế ban hành Quyết định cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật quản lý thuế làm cơ sở tổ chức cưỡng chế nợ thuế
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (Điều 93-Luật QLT) bao gồm:
+ Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong tỏa tài khoản;
+ Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;
+ Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu
đủ tiền thuế, tiền phạt;
+ Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;
+ Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu;
+ Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hóa đơn;
+ Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
Trang 3726
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thu thuế
Trong quá trình cải cách, hiện đại hóa hệ thống thuế, ngành thuế luôn xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế; đồng thời phải luôn tiến hành đánh giá, bổ sung, điều chỉnh phù hợp nhằm củng cố các hoạt động của mình Các chỉ tiêu này hướng theo các nội dung quản lý thuế, đảm bảo tính tiên tiến, có khả năng đánh giá toàn diện hoạt động của hệ thống quản lý thu thuế Kết quả quản lý thu thuế thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau:
1.2.3.1 Kết quả thực hiện dự toán thu thuế
Nhiệm vụ chính trị của cơ quan thuế là hoàn thành dự toán thu ngân sách Nhà nước Số thuế thu được hàng năm chính là “sản phẩm” của cơ quan thuế trong hoạt động quản lý thuế tại địa bàn Hoàn thành dự toán thu thuế là chỉ tiêu quan trọng nhất
để đánh giá kết quả quản lý thu thuế của đơn vị thu thuế
Cùng với việc hoàn thành dự toán thu thuế, kết quả thu thuế còn được đánh giá
ở chỉ tiêu mức tăng trưởng số thu so với thực hiện của các năm trước và tỷ lệ huy động thuế trên GDP Trong kế hoạch cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế giai đoạn 2011-
2015, đảm bảo tỷ lệ động viên về thuế và phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt từ 23-24% GDP và tốc độ tăng trưởng số thu bình quân từ 16-18% năm [15]
1.2.3.2 Quản lý đối tượng nộp thuế, doanh thu tính thuế
- Quản lý đối tượng nộp thuế: Chỉ tiêu quản lý đối tượng nộp thuế phản ánh việc quản lý thuế của cơ quan thuế một cách đầy đủ, đúng quy định của Luật quản lý thuế, các Luật thuế Yêu cầu của cơ quan quản lý thuế là quản lý tất cả đối tượng nộp thuế trên địa bàn, đưa vào lập bộ thuế, quản lý thu thuế theo quy định Việc quản lý
đối tượng nộp thuế không đầy đủ thể hiện công tác quản lý thuế kém hiệu quả
- Doanh thu tính thuế: là chỉ tiêu phản ánh doanh thu thực tế kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế của người nộp thuế trong kỳ tính thuế
Doanh thu của hộ kinh doanh cá thể là chỉ tiêu tài chính phản ánh tổng giá trị được tính bằng tiền của hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ(bán ra, tiêu dùng nội bộ) trong một thời gian nhất định Doanh thu của hộ kinh doanh cá thể gồm doanh thu của hoạt động mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ Qua công tác nắm địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh và các thông tin kê khai đăng ký thuế của người nộp thuế, các Đội
Trang 3827
thuế tiến hành sắp xếp phân loại các hộ kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, quy mô kinh doanh và theo phương pháp tính thuế
1.2.3.3 Chỉ tiêu quản lý nợ đọng thuế
Chỉ tiêu nợ đọng thuế đánh giá việc thu, nộp thuế chưa kịp thời Mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế là xử lý người nộp thuế dây dưa, chây ỳ tiền thuế, tiền phạt nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế
Chỉ tiêu nợ đọng thuế được Bộ Tài chính sử dụng để đánh giá công tác quản lý
nợ thuế là tỷ lệ (%) nợ đọng thuế trên tổng số tiền thuế thu nộp ngân sách Nhà nước trong năm Ngành Thuế đặt chỉ tiêu tổng số nợ thuế không vượt quá 5%, so với tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm (không bao gồm nợ không còn đối tượng để thu, nợ phát sinh từ các khoản thu không giao trong doanh thu và tiền thuế đã nộp vào ngân sách Nhà nước đang chờ điều chỉnh); giảm 100% nợ chờ điều chỉnh; giảm 50% nợ chờ
xử lý; thu trên 80% các khoản tiền thuế nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày (không bao gồm nhóm nợ khó thu, nợ chờ xử lý, chờ điều chỉnh)1 Việc quản lý nợ thuế, giảm tỷ lệ
nợ hàng năm đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế của ngành Thuế nói chung và của từng đơn vị thu thuế nói riêng
1.2.3.4 Chỉ tiêu thanh tra, kiểm tra thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật thuế đã xảy ra hoặc có thể xảy ra Để tăng hiệu quả quản lý thuế và giảm mức độ vi phạm về thuế, ngành Thuế cần xây dựng và áp dụng phương pháp quản lý rủi ro Mục tiêu của ngành Thuế là phải thanh tra tối thiểu 3% tổng số người nộp thuế; tỷ lệ kiểm tra phải đạt tối thiểu 25% Số vụ vi phạm về thuế bị phát hiện, số thuế truy thu và phạt về thuế nhiều hay ít vừa là chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thu thuế của ngành Thuế, vừa là yếu tố tác động đến ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế
Quyết định số 2162/QĐ-BTC ngày 08/9/2011 của Bộ Tài chính về việc phê duyệt Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 và các đề án triển khai Chiến lược cải cách hệ thống thuế 2011 - 2020 Theo đó, một trong những nội dung quan
1 Nguồn Tổng cục thuế năm 2015
Trang 39Giai đoạn 2012 - 2015 tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước khoản 23-24% GDP; trong đó thu từ phí, lệ phí khoản 22-23% GDP; tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí, lệ phí bình quân hàng năm 16-18%/năm [14]
Với chính cách thuế minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, người nộp thuế
có ý thức tuân thủ chính sách thuế thì số vụ vi phạm về thuế giảm đi, mức độ tập trung vào ngân sách Nhà nước từ thuế sẽ kịp thời và đầy đủ Trên cơ sở đó, ngành thuế giảm đáng kể chi phí và nhân lực quản lý khu vực này nhưng vẫn đảm bảo chất lượng xử lý công việc, tập trung đầu tư vào công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật thuế nhiều hơn bởi: Khả năng bị phát hiện trốn thuế, mức xử phạt đối với các vi phạm
về thuế là những yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ thuế của hộ kinh doanh Cơ quan thuế cần tính toán mức độ tập trung nguồn lực, tần suất thanh tra, kiểm tra thuế, mức độ xử lý vi phạm để hạn chế tác động của yếu tố này Thông thường hộ kinh doanh có khuynh hướng đánh giá cao xác suất bị phát hiện hành vi trốn thuế nên sẽ không trốn thuế nếu có xử phạt của cơ quan thuế Khả năng bị phát hiện trốn thuế, mức xử phạt đối với các vi phạm về thuế còn là yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ thuế của hộ
1.2.3.5 Chỉ tiêu về sự hài lòng của người nộp thuế
Mục tiêu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ là đến năm
2015 trở thành một trong năm nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ thuận lợi về thuế, 70% số người nộp thuế hài lòng với dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp; đến năm 2020 trở thành một trong bốn nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á về mức
độ thuận lợi về thuế, 80% số người nộp thuế hài lòng với dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp2 Để đạt được mục tiêu này, ngành Thuế tiếp tục thực hiện Kế hoạch cải cách
hệ thống thuế đến giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
2
Nguồn Tổng cục thuế năm 2015
Trang 40cơ bản như sau:
- Mục tiêu kinh tế: Từ thói quen thực hiện lâu dài chế độ tập trung, bao cấp
chúng ta còn đánh giá quá cao vai trò của thuế qua chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh
tế trong cơ chế thị trường Do đó một số sắc thuế được xây dựng quá nhiều mức thuế suất khác nhau, quá phức tạp, vừa phân biệt theo ngành nghề, theo công dụng, vừa theo tính chất lý, hóa của mặt hàng; với mức thuế suất chênh lệch nhau đến 5, 7 lần nhưng lại chưa có những tiêu chuẩn đầy đủ, rõ ràng, thiếu phương tiện để kiểm hóa để xác định đúng thuế, dẫn đến tình trạng hiểu như thế nào cũng được, tạo sự áp dụng tùy tiện, tiêu cực
Nhiều thuế suất xây dựng quá cao nhằm hạn chế sản xuất, tiêu dùng trong nước nhưng thực tế lại dễ thúc đẩy việc trốn, lậu thuế, dẫn đến tình trạng: dân phản ánh thuế cao, nhà nước phê phán thất thu thuế Trong Luật thuế còn quy định nhiều trường hợp miễn, giảm thuế, ưu đãi đầu tư tạo tâm lý phổ biến của người nộp thuế cố tìm vài khía cạnh để có thể đủ điều kiện được ưu đãi, miễn, giảm thuế nhưng thực tế đó chỉ là cái
“hợp lý hóa” để hưởng một số quyền lợi không đáng có Kết quả ưu đãi, miễn, giảm thuế tràn lan, gây tiêu cực và thất thu cho ngân sách Nhà nước
Quan điểm bảo hộ sản xuất nội bộ kéo dài, một chiều qua thuế suất thuế nhập khẩu và thuế GTGT, vừa gây thiệt hại cho nhân dân là phải tiêu dùng hàng kém chất lượng, giá cao, vừa không thúc đẩy các nhà sản xuất quan tâm cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, giá bán để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị trường nội địa và hội nhập quốc tế
- Mục tiêu tài chính: Về cơ bản chính sách thuế thường xuyên được xem xét
sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động của tình hình kinh tế - xã hội của