1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại cát bà hải phòng

86 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THANH TÙNG

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ NUÔI LỒNG BÈ MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ

TẠI CÁT BÀ - HẢI PHÕNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÕA, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THANH TÙNG

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ NUÔI LỒNG BÈ MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ

TẠI CÁT BÀ - HẢI PHÕNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ thuật và

đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà - Hải Phòng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 10 tháng 01 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Minh Hoàng người đã tận tình hướng dẫn, động viên và dìu dắt tôi trong suốt quá trình định hướng nghiên cứu, thực hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự động viên, khích lệ và giúp đỡ của các Thầy, Cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang; các lãnh đạo, đồng nghiệp của tôi tại cơ quan hiện tại - Trung tâm Tư vấn Quy hoạch và Phát triển Thủy sản - Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; và cơ quan cũ - Trường Cao đẳng Thủy sản - Từ Sơn - Bắc Ninh đã tạo điều kiện thời gian cho tôi tham gia và hoàn thành chương trình cao học

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Đức Tuấn - Trưởng phòng Cá biển - Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản miền Bắc (Cát Bà - Hải Phòng), anh Phạm Vĩnh Toàn - Phó phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn - Thị trấn Cát Bà - Hải Phòng đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc tiếp cận thực địa, điều tra thu mẫu, cung cấp số liệu thứ cấp, góp ý và chỉnh sửa luận văn Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong lớp cao học đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ và đóng góp ý kiến hữu ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU x

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Đặc điểm sinh học của cá biển 1

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 1

1.1.2 Đặc điểm phân bố 1

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 2

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 2

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 4

1.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Ở Việt Nam 7

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề nuôi cá biển 8

1.3.1 Kỹ thuật và công nghệ nuôi 8

1.3.2 Thị trường 9

1.3.3 Cơ chế, chính sách hỗ trợ 9

1.3.4 Quy hoạch 10

1.3.5 Môi trường và dịch bệnh 10

1.3.6 Đào tạo và khuyến ngư 11

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cát Hải 11

1.4.1 Vị trí địa lý 11

1.4.2 Địa hình, thổ nhưỡng 12

Trang 6

vi

1.4.3 Khí hậu, thủy văn 13

1.4.4 Tài nguyên thiên nhiên 14

1.4.5 Chất lượng môi trường nước 15

1.4.6 Đánh giá chung về tiềm năng nuôi cá biển 16

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18

2.2.2 Phương pháp tích và xử lý số liệu 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Hiện trạng nghề nuôi cá biển trong lồng bè tại Cát Bà 23

3.1.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của hộ nuôi cá biển trong lồng bè 23

3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá lồng bè 28

3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi cá lồng 40

3.3 Giải pháp phát triển nghề nuôi cá lồng bè tại Cát Bà 42

3.3.1 Phân tích ma trận SWOT về nghề nuôi cá lồng bè ở Cát Bà 42

3.3.2 Một số nhóm giải pháp triển bền vững nghề nuôi cá lồng bè ở Cát Bà 48

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

4.1 Kết luận 56

4.2 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 7

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Cấu trúc tuổi của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) 23

Bảng 3.2 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) 24

Bảng 3.3 Thông tin về một số đối tượng cá biển nuôi tại Cát Bà 31

Bảng 3.4 Tương quan giữa mật độ và kích cỡ cá nuôi tại Cát Bà 32

Bảng 3.5.Chế độ cho ăn trong nuôi cá biển tại Cát Bà 33

Bảng 3.6 Phương pháp phòng trị bệnh trong nuôi cá biển ở Cát Bà 38

Bảng 3.7 Một số thông tin về kết quả nuôi cá biển tại Cát Bà 40

Bảng 3.8 Cơ cấu chi phí nuôi cá lồng biển ở Cát Bà 41

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nghề nuôi cá biển tại Cát Bà 41

Bảng 3.10 Tóm tắt ma trận SWOT về nghề nuôi cá biển ở Cát Bà 42

Trang 8

viii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Cát Hải 12

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

Hình 3.1 Tỷ lệ giới tính của chủ hộ nuôi cá biển 24

Hình 3.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) 25

Hình 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) 26

Hình 3.4 Quy mô của hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) 27

Hình 3.5 Số lượng bè nuôi và ô lồng ở vịnh Cát Bà giai đoạn 2009 - 2014 28

Hình 3.6 Lồng bè nuôi cá biển tại Cát Bà 29

Hình 3.7 Tỷ lệ các đối tượng cá biển nuôi chính 30

Hình 3.8 Các hoạt động cho cá ăn thức ăn là cá tạp 34

Hình 3.9 Tần suất vệ sinh, bảo dưỡng lồng nuôi 36

Hình 3.10 Phân cỡ, san thưa mật độ, chuyển lồng nuôi 36

Hình 3.11 Một số loại bệnh thường gặp trong nuôi cá biển ở Cát Bà 37

Hình 3.12 Cá song bị bệnh lở loét 38

Hình 3.13 Tắm cá phòng trị bệnh 39

Trang 9

ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu được thực hiện với nội dung "Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh

giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà

- Hải Phòng" Mục tiêu của đề tài là cung cấp những dẫn liệu khoa học và thực tiễn về

hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà - Hải Phòng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi theo hướng hiệu quả và bền vững Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2014

- 2015 tại vịnh Cát Bà Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý tại địa phương Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (RRA) và phương pháp điều tra qua phiếu (QS) Nghiên cứu thực hiện điều tra 170/490 hộ nuôi thuộc bốn vùng nuôi (Vịnh Cát Bà 14/16 hộ, vịnh Bến Bèo 57/309

hộ, vịnh Lan Hạ 24/134 hộ, vùng Gia Luận - Trà Báu 24/31 hộ) Những thông tin chính được thu thập gồm hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá lồng

bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết chủ

hộ nuôi là nam giới, tuổi trung bình là 47,6; đa số chủ hộ nuôi có trình độ văn hóa thấp

và không có trình độ chuyên môn (76,4% và 75,3%); quy mô sản xuất của hộ nuôi chủ yếu là quy mô nhỏ; số bè nuôi từ 450 - 550 bè (4.000 - 6.000 ô lồng); các đối tượng nuôi chính là cá song, cá giò, cá vược, cá hồng mỹ; thời gian nuôi khoảng 8 - 16 tháng; các hộ sử dụng hệ thống lồng nuôi gỗ đơn giản; con giống nhân tạo nhập từ ngoài tỉnh; thức ăn hoàn toàn là cá tạp; trong quá trình nuôi, cá thường mắc bệnh lở loét (75,8%)

và mù mắt (58,2%); các biện pháp trị bệnh thường đơn giản và hiệu quả thấp Tính cho

100 m3, năng suất trung bình đạt 3.945 kg, chi phí sản xuất 393 triệu đồng, doanh thu đạt 474 triệu đồng, lợi nhuận đạt 81 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận 20,5% Để phát triển nghề nuôi cá biển ở Cát Bà theo hướng hiệu quả, bền vững cần tiến hành nhiều giải pháp gồm khoa học công nghệ, phát triển thị trường, thể chế chính sách, quy hoạch vùng nuôi, quản lý môi trường, dịch bệnh, đào tạo và khuyến ngư

Từ khóa: cá biển, Cát Bà, hiệu quả kinh tế, hiện trạng kỹ thuật, lồng bè, phát

triển bền vững

Trang 10

x

MỞ ĐẦU

Vùng biển Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng có tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi cá lồng bè và các đối tượng hải sản khác, với hơn 366 hòn đảo lớn nhỏ và khoảng 29.000 ha diện tích mặt nước biển có khả năng phát triển nuôi trồng hải sản [40].Đảo Cát Bà nằm trong quần thể đảo vịnh Hạ Long và ở vị trí trung tâm vịnh Bắc Bộ nên đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm chế độ hải văn gắn liền với những đặc điểm chung của vịnh Bắc Bộ Xung quanh đảo Cát Bà có nhiều dãy núi, đảo nhỏ che chắn đã tạo ra các eo, vũng, vịnh ít chịu ảnh hưởng của sóng gió Địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng, chất đáy chủ yếu là cát bùn; quanh đảo có các rạn san

hô, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật biển cư trú, sinh sống và phát triển Đây chính là điều kiện thích hợp cho việc phát triển nghề nuôi trồng hải sản với nhiều đối tượng có giá trị kinh tế cao

Trong những năm qua, được sự quan tâm của chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương, nghề nuôi cá lồng bè ở vịnh Cát Bà đã không ngừng được đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng [8]

Các đối tượng nuôi chính gồm cá song, cá giò, cá hồng Mỹ, cá vược, cá chim vây vàng, cá tráp, cá hồng bạc [47], [48] Từ năm 2001 - 2009, nghề nuôi cá lồng bè tại

vịnh Cát Bà đã cung cấp cho nhu cầu thị trường 3.200 - 3.500 tấn cá/năm Nghề đã góp phần giải quyết việc làm cho 2.000 - 2.500 lao động, gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều ngư dân địa phương [41], [46] Số lượng lồng bè cũng có sự gia tăng đáng kể từ 900 lồng nuôi năm 2001 lên tới 11.650 lồng nuôi năm 2009 [41] Sản lượng cũng có sự gia tăng mạnh từ 243 tấn lên 3.670 tấn Năng suất trung bình đạt hơn 300 kg/ô lồng/năm [45], [46]

Những kết quả thu được đã khẳng định việc phát triển nuôi trồng hải sản trên biển là đúng hướng, góp phần quan trọng cho sự phát triển của ngành Thủy sản nói riêng và phát triển kinh tế xã hội của Hải Phòng nói chung Tuy nhiên, do chạy đua theo lợi nhuận, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch nên nghề nuôi cá bằng lồng trên biển ở Cát Bà hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn liên quan đến các vấn đề như ô nhiễm môi trường, bùng phát dịch bệnh, con giống kém chất lượng, kỹ thuật nuôi đơn giản, thiếu vốn sản xuất Ngoài ra, sự cạnh tranh về lợi ích kinh tế giữa các ngành nghề

Trang 11

xi

khác như du lịch, vận tải biển, khai thác hải sản, cũng đang tạo ra những thách thức không nhỏ cho việc phát triển bền vững nghề nuôi cá biển tại Cát Bà [51], [2], [8]

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ

thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh

tế tại Cát Bà - Hải Phòng” Đề tài được thực hiện góp phần cung cấp những thông tin

làm tiền đề cho việc xây dựng các giải pháp về quy hoạch, quản lý, định hướng phát triển nghề nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà nói riêng và Hải Phòng nói chung theo hướng hiệu quả, bền vững

Mục tiêu của đề tài là cung cấp những dẫn liệu khoa học và thực tiễn về hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà - Hải Phòng làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển nghề nuôi theo hướng hiệu quả và bền vững

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung vào hai nội dung chính sau:

1) Hiện trạng nghề nuôi cá biển trong lồng bè tại một số vùng trọng điểm của Cát Bà - Hải Phòng

2) Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá biển trong lồng bè tại Cát Bà - Hải Phòng

Trang 12

1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài cá biển nuôi tại Cát Bà

Các loài cá biển nuôi ở Cát Bà - Hải Phòng hiện nay chủ yếu gồm cá song (hay

còn gọi là cá mú, Epinephelus spp.), cá giò (hay còn gọi là cá bớp, Rachycentron

canadum), cá vược (hay còn gọi là cá chẽm, Lates calcarifer), cá chim vây vàng

(Trachinotus blochii), cá hồng Mỹ (hay còn gọi là cá đù đỏ Sciaenops ocellatus), cá tráp (Pagrus spp.), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus), cá dìa (Siganus sp.), cá cam (Seriola sp.), cá chép biển (hay còn gọi là cá gáy, Lethrinus sp.) Trong đó, cá

song, cá giò, cá vược là những đối tượng nuôi phổ biến [37]

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

Ngành: Chordata

Lớp: Osteichthyes

Bộ: Perciformes Các loài cá biển nuôi ở nước ta hiện nay chủ yếu là các loài thuộc bộ cá vược (Perciformes) Bộ cá vược gồm khoảng 40% các loài cá xương và là bộ lớn nhất trong

số các bộ của động vật có xương sống Chúng thuộc về lớp cá vây tia (Actinopterygii) bao gồm trên 7.000 loài khác nhau, có kích thước và hình thái đa dạng, được tìm thấy gần như trong mọi môi trường nước Các loài thuộc bộ cá vược thông thường có các vây lưng và vây hậu môn được phân chia thành các gai ở phần trước và các tia vây mềm ở phần sau, chúng có thể tách biệt một phần hay toàn phần Chúng thường cũng

có các tia vây ngực với một gai và năm tia vây mềm Vảy thường có rìa thô ráp mặc dù đôi khi có rìa nhẵn hay biến đổi khác Các đặc trưng khác, mang tính chuyên ngành hơn được xác định cho từng nhóm là khác nhau có ý nghĩa hơn trong phân loại [14]

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Đa số các loài cá biển được nuôi phổ biến hiện nay là các loài phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và những nơi nước ấm của vùng ôn đới trên thế giới như vùng biển Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương Chúng gồm các loài di cư và số lượng của chúng khác nhau theo mùa Trong những tháng mùa thu và

Trang 13

2

mùa đông, chúng di cư về phía nam và ngoài khơi vùng nước ấm Đầu mùa xuân, cá di

cư về phía bắc, dọc vùng biển Ấn Độ Dương [96]

Ở Việt Nam chúng phân bố từ bắc vào nam, ở cả vùng biển ven bờ và ngoài khơi [93] Đa số chúng là loài cá nổi, sống ở vùng biển ấm, có khả năng thích ứng rộng với sự thay đổi của độ mặn (từ 3 - 33‰), nhiệt độ (từ 22 - 30oC), oxy hòa tan trên 2,5 mg/l [5], [8], [77] nên rất thích hợp cho việc phát triển nuôi trong các môi trường khác nhau [87]

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng

Các loài cá biển được nuôi hiện nay đều có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, kích thước tương đối lớn như cá hồng bạc kích thước thường từ 40 - 80 cm, tối đa có thể đạt 150 cm chiều dài, khối lượng cơ thể lớn nhất đã công bố là 8,7 kg/con và độ tuổi lớn nhất là 31 tuổi [60], cá chim vây vàng nuôi thương phẩm bằng lồng trên biển, cá giống cỡ 19 - 26 g/con cho ăn bằng thức ăn có hàm lượng protein 43% sau 5 tháng nuôi cá đạt khối tượng từ 600 g/con [79] Cá giò có thể đạt 6 - 8 kg/con trong năm đầu,

từ 15 kg/con trong năm tiếp theo và sau đó tốc độ tăng trưởng có khuynh hướng chậm lại [66] Trong điều kiện tự nhiên, cá giò thường có kích cỡ trung bình là 23 kg/con, chiều dài 50 - 120 cm, cá biệt có con dài tới 2 m, khối lượng tới 68 kg/con [96]

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Đa số các loài cá biển nuôi hiện nay đều ăn tạp thiên về động vật, bắt mồi chủ động Thức ăn của cá trưởng thành ngoài tự nhiên là mực, giáp xác, cá nhỏ Giai đoạn nhỏ thức ăn chủ yếu là động vật phù du như luân trùng, Copepoda; cá lớn hơn ăn các loài tôm, cá nhỏ và các mảnh vụn hữu cơ Trong điều kiện nuôi, thức ăn cho cá con là luân trùng và nauplius Artemia, sau giai đoạn này, cá được tập chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn tổng hợp Giai đoạn nuôi thương phẩm cá sử dụng tốt các loại thức

ăn tổng hợp (thức ăn công nghiệp, thức ăn viên) hoặc cá tạp [31], [77] Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu như các axít amin, axít béo không no, vitamin, chất kích thích miễn dịch… cho cá biển giai đoạn ấu trùng, người ta thường sử dụng kỹ thuật làm giàu hay cường hóa (enrichmemt) để bổ sung thêm một số thành phần dinh dưỡng thông qua các sinh vật sống làm thức ăn cho ấu trùng như luân trùng và Artemia

Trang 14

3

Trong sản xuất giống cá biển nhân tạo, luân trùng và Artemia đến nay vẫn là thức ăn sống sử dụng chủ yếu tuy nhiên cả hai loại thức ăn này đều thiếu các a xít béo không no họ n-3 HUFA Vì vậy, việc làm giàu thức ăn sống là cần thiết trong ương ấu trùng cá biển [52], [54] Kỹ thuật làm giàu đã được sử dụng từ đầu những năm 1980, các loại dầu cá biển giàu n-3 HUFA đã được chú ý sử dụng để làm tăng hàm lượng DHA và EPA trong các loại thức ăn sống như luân trùng và Artemia [84] Những năm đầu thập kỷ 90, nhiều nỗ lực nghiên cứu về dinh dưỡng ở ấu trùng cá biển đều tập trung xác định hàm lượng tối ưu của n-3 HUFA bổ sung vào thức ăn sống, bao gồm cả việc xác định tỉ lệ tối ưu của DHA và EPA [95]

Với Artemia, hầu hết các dòng Artemia sử dụng trong nuôi trồng thủy sản đều

có EPA nhưng thiếu DHA [68], [72] Hơn nữa, trong thành phần lipid của nauplius Artemia có đến 60% triacylglyceride và chỉ khoảng 20% lipid phân cực [84] Vì vậy, việc làm giàu Artemia bên cạnh mục đích nhằm làm tăng DHA, tăng tỉ lệ DHA : EPA còn nhằm làm tăng tỉ lệ lipid phân cực Nghiên cứu của Kanazawa et al (1983) cho thấy thành phần lipid phân cực trong thức ăn có thể cải thiện sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá hanh đỏ [84], [85] Teshima et al (1987) [68] cho rằng có thể lipid phân cực đẩy nhanh quá trình tiêu hóa triacylglyceride trong đường tiêu hóa nguyên thủy của ấu trùng cá biển, hoặc bản thân ấu trùng có khả năng rất hạn chế trong việc tổng hợp các lipid phân cực, thành phần quan trọng trong việc vận chuyển lipid Koven et al (1993) [84] chứng minh lecithin làm tăng sự liên kết của axít oleic trong lipid ở mô, nhất là trong thành phần lipid phân cực Các tác giả cho rằng ở ấu trùng cá biển khi mà hàm lượng muối mật chưa đủ, lipid phân cực có vai trò nhũ hóa

Với luân trùng, thành phần axít béo có trong phospholipid của luân trùng phụ thuộc nhiều vào thức ăn chúng ăn vào Luân trùng có khả năng tổng hợp các PUFA như 18:2 và 20:2 từ 18:1 Tuy nhiên, khi được nuôi bằng men bánh mì, loại thức ăn thường được sử dụng nuôi luân trùng chứa chủ yếu là các loại axít béo 16:1 và 18:1 nhưng thiếu 18:3 và các axít béo no hoặc chưa no mạch dài hơn, luân trùng có hàm lượng tương đối lớn các axít béo 18:1 và 16:1, có hàm lượng đáng kể các axít béo 18:2

và 20:2 nhưng có hàm lượng rất thấp các axít béo C20 và C22 [81] Để bổ sung n-3 HUFA cho ấu trùng cá biển, luân trùng thường được làm giàu bằng các chất giàu n-3

Trang 15

ăn sớm, còn có ý nghĩa trong việc giảm đi sự phụ thuộc vào thức ăn sống, nguồn thức

ăn vốn gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị, chi phí sản xuất cao, tính chủ động thấp, nhất là khi cá đạt đến giai đoạn giống cần tiêu thụ rất nhiều thức ăn [59], [98] Các loại thức ăn sử dụng trong quá trình chuyển đổi cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa hấp thu, kích thích cá bắt mồi

Với nghề nuôi cá biển ở nước ta, thức ăn sử dụng cho nuôi thương phẩm vẫn chủ yếu là cá tạp chiếm khoảng 85%, đặc biệt là nuôi ở quy mô nhỏ Một số nơi sử dụng thức ăn chế biến nhưng tỷ lệ thấp, chỉ dưới 10% Một số trại nuôi nhập thức ăn công nghiệp nhưng chủ yếu chỉ sử dụng khi nguồn cung cá tạp khan hiếm, nhất là vào mùa mưa bão [9]

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Sự thành thục sinh dục của cá biển nói chung phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nhiệt độ nước, ánh sáng, chế độ dinh dưỡng, dòng chảy… [53], [108] Đối với các loài cá di cư sinh sản, sự thành thục còn chịu ảnh hưởng của độ mặn Các yếu tố sinh thái thường tác động đến các hoạt động sinh lý diễn ra trong cơ thể cá, qua đó, ảnh hưởng đến quá trình thành thục sinh dục Hoạt động sinh sản của cá thường diễn ra khi điều kiện thời tiết, khí hậu, môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng và cá con [86], [99] Vào các thời điểm giao mùa, một số yếu tố môi trường thay đổi đột ngột (nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng) có tác dụng kích thích các hoạt động trao đổi chất, chuyển hóa dinh dưỡng từ dạng tích lũy sang sản phẩm sinh dục tạo điều kiện cho quá trình thành thục sinh dục của cá diễn ra nhanh hơn [86]

Trang 16

5

Hoạt động sinh sản của cá rất đa dạng nhằm thích ứng với điều kiện môi trường sống Ví dụ, cá hồi chỉ sinh sản một lần trong đời trước khi chết, trong khi nhiều loài

cá khác lại có thể lặp lại chu kỳ sinh sản nhiều lần trong đời Các loài cá sống ở vùng

ôn đới thường sinh sản theo mùa trong khi những loài cá nhiệt đới lại có thể đẻ liên tục quanh năm [65] Chu kỳ sinh sản ở cá nói chung là một loạt các quá trình phát triển, từ

tế bào sinh dục chưa trưởng thành đến giai đoạn trưởng thành, cuối cùng là đẻ trứng và thụ tinh Sự phát triển tế bào sinh dục không giống nhau ở các loài cá, nhất là nhóm cá

đẻ trứng một lần trong năm so với nhóm đẻ nhiều lần trong năm [86]

Mục đích của việc sinh sản là để duy trì nòi giống nên phải đảm bảo sự sống sót cao nhất cho thế hệ sau, trong đó tính sẵn có của thức ăn và điều kiện môi trường đóng vai trò quyết định [106] Ánh sáng và nhiệt độ là hai yếu tố sinh thái có ảnh hưởng lớn đến sự thành thục sinh dục ở nhiều loài cá biển [58], [86], [103] Ngoài ra, chu kỳ trăng, thủy triều, lượng mưa, dòng chảy và áp lực nước cũng được báo cáo là có ảnh hưởng đến hoạt động sinh sản ở một số loài cá biển Do đó, trong sinh sản nhân tạo, người ta có thể kích thích cá đẻ tự nhiên (thay đổi môi trường) hoặc nhân tạo (chất kích thích sinh sản) tùy thuộc vào điều kiện nuôi vỗ, cho đẻ, đặc điểm của loài [86]

1.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo báo cáo của FAO (2016) [63], tổng sản lượng thủy sản từ khai thác và nuôi trên thế giới năm 2014 vào khoảng 167,2 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đóng góp 73,8 triệu tấn chiếm 44,1% tổng sản lượng Tính từ 2005 - 2014, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành nuôi trồng thủy sản là 5,8%/năm Trong đó, nuôi thủy sản mặn, lợ tăng mạnh và được xem như một ngành công nghiệp thu lợi nhuận cao Nuôi thủy sản biển đóng góp tới 30% sản lượng và 29,2% giá trị thủy sản nuôi; nuôi thủy sản nước lợ chiếm 7,9% sản lượng và 12,8% giá trị chủ yếu là nhóm giáp xác và cá biển có giá trị kinh tế cao [61]

Các đối tượng cá biển nuôi chính gồm cá hồi, cá tráp, cá vược, cá cam, cá đù,

cá măng, cá song, cá hồng, cá đối, cá bơn, cá giò, cá chim, cá tuyết, cá ngừ Trong đó chỉ tính riêng nhóm cá hồi đã chiếm 1,9 triệu tấn Các nước có sản lượng nuôi lớn gồm

Trang 17

6

Trung Quốc, Na Uy, Chi Lê, Nhật Bản, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Việt Nam, Australia… [62], [64], [69], [73], [74], [97] Ở Na Uy, nuôi trồng thủy sản bắt đầu phát triển vào những năm 1970 Đối tượng nuôi chính là cá hồi

Đại Tây Dương (Salmo salar), chiếm 80% tổng sản lượng Nauy áp dụng nhiều cơ chế

hiệu quả nhằm hướng tới một ngành công nghiệp nuôi cá biển hiệu quả, bền vững thông qua cấp phép hoạt động, thay đổi địa điểm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, dịch bệnh Do đó, nghề nuôi cá hồi ở Nauy hoàn toàn chủ động về con giống, công nghệ nuôi tiên tiến nên năng suất rất cao từ 800 - 4.000 tấn/trại/vụ [73], [74] Nghề nuôi cá hồi ở Nauy rất nổi tiếng về công nghệ nuôi trong lồng tròn hiện đại, dung tích lớn, chịu sóng gió mạnh Đồng thời, công nghệ vắc xin giúp phòng bệnh hiệu quả giảm thiểu sử dụng hóa chất, kháng sinh gia tăng tính bền vững của nghề nuôi Nauy là cường quốc

về nuôi cá biển trong hai thập kỷ qua, là nước xuất khẩu cá biển nuôi số một thế giới

Các quốc gia thuộc vùng biển Địa Trung Hải như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Pháp,… có nghề nuôi cá biển cũng phát triển rất mạnh với hai đối tượng chủ lực là cá vược châu Âu và cá tráp [64], [73] Ở Mỹ, cá biển được nuôi ở nhiều hình thức khác nhau, thâm canh với các loài cá đối, cá măng biển, cá bơn, bán thâm canh với các loài

cá hồng, cá đù đỏ, cá song [80] Nuôi cá biển ở châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, trung bình 10%/năm trong 10 năm qua Các nước có sản lượng lớn phải kể đến như Trung Quốc, Nhật Bản [94], [107] Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 và phát triển mạnh vào những năm 1980 Trung Quốc đã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc

24 họ cá biển với số lượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm, khoảng 10 tỷ con giống cá biển mỗi năm Các đối tượng nuôi chính gồm cá song, cá đù vàng, cá hồng, cá vược, cá bơn, cá đù đỏ, cá tráp đỏ, cá đối, cá măng biển [75] Số lượng lồng nuôi cá biển ở Trung Quốc không ngừng gia tăng tuy nhiên hệ thống lồng nuôi truyền thống, đơn giản, kích cỡ nhỏ vẫn chiếm tỷ lệ lớn (98%), kiểu lồng Nauy chiếm

tỷ lệ thấp (2%) Nhật Bản là một trong những quốc gia có nghề nuôi cá biển lâu đời ở châu Á với hai đối tượng nuôi chính là cá cam và cá tráp đỏ Gần đây, quốc gia này đang tập trung nghiên cứu nuôi cá ngừ vây xanh trên quy mô lớn [67], [100] Ngành công nghiệp nuôi cá biển của Đài Loan mới phát triển khoảng hơn 40 năm nhưng nguồn giống không chỉ thỏa mãn nhu cầu nuôi trong nước mà còn xuất khẩu sang

Trang 18

7

nhiều nước trong khu vực Các đối tượng chủ lực gồm cá song, cá hồng, cá đù đỏ, cá tráp, cá vược, cá giò và cá măng biển [82], [105]

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế xã hội của đất nước Năm 2014, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 3.411.400 tấn, chủ yếu là cá nước ngọt và tôm nước lợ Trong đó, sản lượng cá biển chỉ chiếm một phần rất nhỏ với 208.500 tấn [63] Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, cùng với thành công của nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá biển có giá trị kinh tế Với tiềm năng như vậy, Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2020 đạt 260.000 tấn cá biển Nhu cầu con giống cá biển các loại đến năm 2020 là 150 triệu con [36]

Nghề nuôi cá biển nước ta bắt đầu vào những năm 1990, đối tượng nuôi chính

là cá song, cá vược, cá giò, cá hồng… Cá biển thường được nuôi ở quy mô nhỏ trong lồng bè và ao đất ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hoà,… Hiện nay, bên cạnh lồng nuôi quy mô nhỏ, một số doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đầu

tư nuôi cá biển trên quy mô công nghiệp bằng lồng nổi Nauy cỡ lớn có thể tích hàng ngàn mét khối, có thể chịu được sóng gió cấp 9, cấp 10 Công nghệ nuôi này đã mở ra nhiều triển vọng cho việc phát triển nghề nuôi cá biển trên quy mô công nghiệp ở nước

ta [39], [102] Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu thành công về sản xuất giống

và nuôi thương phẩm một số loài cá biển như: cá vược [6], [28], cá đù đỏ [17], cá giò,

cá song [12], [21], cá vược mõm nhọn [19], [20], cá chim vây vàng [5], [8],… giúp nghề nuôi cá biển nước ta từng bước chủ động được con giống nhân tạo, hạn chế phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên và nhập khẩu

Từ năm 1996 - 1997, Viện nghiên cứu Hải sản đã bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống cá giò nhưng không thành công Năm 1998, với sự hỗ trợ của các đối tác nước ngoài (Đan Mạch và Nauy), Viện đã xây dựng thành công quy trình ương cá giò theo hình thức quảng canh Đến năm 2001, Viện đã nghiên cứu thành công quy trình ương thâm canh cá giò trong hệ thống tuần hoàn với tỷ lệ sống đạt 2 - 4% Kỹ thuật sản xuất giống cá giò ngày càng được hoàn thiện, từng bước chủ động cung cấp giống cho người nuôi Năm 2002, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã nghiên cứu sản xuất

Trang 19

cá biển hàng đầu cả nước, theo thống kê của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Khánh Hòa, năm 2012 toàn tỉnh có 3.695 lồng và 294 ha nuôi cá biển, sản lượng đạt 5.575 tấn Đến năm 2014, sản lượng còn 4.922 tấn, trong đó chủ yếu là cá vược, cá giò và cá chim Về sản xuất giống, năm 2013, Khánh Hòa đã sản xuất được 23,8 triệu con, cá vược chiếm khoảng 22 triệu, cá giò 0,4 triệu con, cá chim 1,1 triệu, còn lại là một số loài cá khác như cá song, cá hồng, cá bè… Số lượng cá giống tạo ra không chỉ thỏa mãn nhu cầu nuôi trong tỉnh mà còn cung cấp cho nhu cầu nuôi ở nhiều địa phương trên cả nước (Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Khánh Hòa, 2012, 2013, 2014)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề nuôi cá biển

1.3.1 Kỹ thuật và công nghệ nuôi

Chất lượng cá giống là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công nói chung của nghề nuôi cá biển Nguồn cá giống được sản xuất từ đàn cá bố mẹ được quản lý tốt

về chất lượng, đa dạng về di truyền, đáp dứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng, sạch bệnh

sẽ đảm bảo cho sự thành công của quá trình nuôi Ngoài ra, kỹ thuật thả giống, kích cỡ giống, sự đồng đều, mùa vụ thả nuôi cũng là những yếu tố cần quan tâm Chất lượng giống không đảm bảo là nguyên nhân làm giảm năng suất, tỷ lệ sống, gia tăng rủi ro trong quá trình nuôi [29], [88]

Hiện nay, thức ăn cho nuôi cá biển hầu như phụ thuộc lớn vào nguồn cá tạp, nhất là với quy mô nhỏ Trong khi đó, nguồn thức ăn này lại phụ thuộc lớn vào mùa vụ khai thác, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh, ô nhiễm môi trường [16], [78], [88] Về lâu dài, việc sử dụng thức ăn công nghiệp, với tính chủ động cao, cân đối về

Trang 20

9

dinh dưỡng, dễ sử dụng và bảo quản, ít gây ô nhiễm môi trường và lây lan mầm bệnh cần được sử dụng nhằm hướng đến sự phát triển bền vững Kỹ thuật cho ăn cần tuân theo quy trình chung về số lần, thời gian, vị trí và bổ sung thêm dinh dưỡng để đảm bảo tốc độ sinh trưởng, gia tăng sức đề kháng trong quá trình nuôi, nhất là khi môi trường biến động [55]

Hệ thống nuôi, các trang thiết bị đi kèm cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến thành công của nghề nuôi cá biển Ở quy mô nhỏ, mức độ đầu tư thấp, sử dụng hệ thống lồng tre, gỗ thô sơ nên khả năng chống chịu gió bão thấp, rủi ro thất thoát cá cao Hình thức này chủ yếu áp dụng cho các vùng nuôi ven bờ, mật độ và năng suất thấp [57] Với quy mô lớn hơn, sử dụng hệ thống lồng phao nổi, khung lồng HDPE, lồng nuôi kiểu Nauy cho phép nuôi ở vùng biển xa bờ, mật độ, năng suất và hiệu quả kinh tế đều cao hơn nhiều so với hệ thống nuôi truyền thống [56], [71], [76]

1.3.2 Thị trường

Nghề nuôi cá biển ở nước ta hiện nay hầu hết là quy mô nhỏ nên thị trường tiêu thụ không ổn định luôn là khó khăn, thách thức với sự phát triển bền vững của ngh ề nuôi Thông tin về thị trường, giá cả thiếu thốn, mối quan hệ tương hỗ giữa người nuôi

và người thu mua chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến người nuôi thường xuyên bị ép giá, gây thiệt hại lớn về vật chất, niềm tin với người nuôi Thị trường tiêu thụ cá biển nội địa hiện nay chủ yếu là các thành phố lớn, nhà hàng, khách sạn, tuy nhiên việc kết nối gặp nhiều khó khăn, nhu cầu không ổn định Do đó, việc mở rộng thị trường tiêu thụ hướng đến xuất khẩu ra nước ngoài như Trung Quốc, Châu Âu, Nhật Bản cần được quan tâm Với đặc thù của cá biển, việc xuất khẩu cá tươi, sống có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả sản phẩm Chính vì vậy, việc các doanh nghiệp thu mua chế biến cá biển xuất khẩu cần có sự đầu tư về công nghệ chế biến, bảo quản; đồng thời cần có sự liên kết, hỗ trợ người nuôi nhằm phát triển thị trường [11]

1.3.3 Cơ chế, chính sách hỗ trợ

Nghề nuôi cá biển phát triển đòi hỏi phải có những cơ chế chính sách của ngành

và địa phương trong việc xây dựng các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật tại các vùng nuôi (vịnh, đầm phá, hải đảo) với các hạng mục như điện, hệ thống phao đèn cảnh báo

Trang 21

10

Ngoài ra, các cơ chế chính sách hỗ trợ người nuôi về công nghệ, vốn, lưu giữ đàn cá

bố mẹ, lai tạo giống cũng cần được quan tâm Kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, chính sách khuyến ngư, xây dựng mô hình, áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến Với những hộ nuôi quy mô nhỏ, để đảm bảo yên tâm đầu

tư phát triển, nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ về con giống, thức ăn, lồng bè,

và hỗ trợ rủi ro, thiệt hại cho người nuôi giúp người nuôi khôi phục sản xuất

1.3.4 Quy hoạch

Việc lắp đặt và xây dựng hệ thống nuôi phải nằm trong vùng qui hoạch phát triển nuôi cá biển của địa phương để đảm bảo sự phát triển lâu dài cả về qui mô và thời gian; đảm bảo không xung đột với các ngành nghề khác và công tác an ninh quốc phòng; đảm bảo không tác động xấu đến môi trường và được sự hỗ trợ về chủ trương, chính sách của Nhà nước Trung ương và địa phương [35] Mặt khác, vùng đã qui hoạch nuôi cá biển sẽ có điều kiện sóng gió không quá lớn khi mưa bão và trên cơ bản

đã có các điều kiện môi trường phù hợp [3] Với những hệ thống nuôi không nằm trong quy hoạch, xung đột về lợi ích ngành nghề, rủi ro về kỹ thuật nuôi, tác động môi trường, việc di rời khó khăn trong nhiều trường hợp gây thiệt hại lớn cho người nuôi [11] Mặc dù nhiều cơ chế, chính sách về quản lý phát triển thủy sản ở nước ta đã được ban hành, tuy nhiên, việc thực thi còn một số bất cập cần điều chỉnh phù hợp với thực tiễn, đặc thù ở các địa phương [34]

1.3.5 Môi trường và dịch bệnh

Hệ thống lồng nuôi ven bờ thường chịu tác động lớn của biến động môi trường, các nguồn ô nhiễm ven bờ, ngọt hóa do mưa lũ từ đất liền gây thiệt hại cho người nuôi Việc quy hoạch không hợp lý về mật độ lồng nuôi, nhất là những vịnh kín gió, dòng chảy yếu, là nguyên nhân làm phát sinh mầm bệnh, làm giảm tốc độ sinh trưởng, gây chết cá [92] Ngoài ra, chất thải từ hoạt động nuôi chủ yếu là chất dinh dưỡng và hữu

cơ do sử dụng cá tạp rơi xuống đáy biển tích tụ, gây ô nhiễm môi trường và lây lan mầm bệnh [1], [23], [57]

Nuôi cá bằng lồng bè, do nuôi ở mật độ cao nên cá nuôi rất hay bị nhiễm bệnh

và tốc độ lây lan rất nhanh [57] Khi thời tiết thay đổi thất thường, chuyển mùa, nhiệt

Trang 22

11

độ cao hay mưa nhiều sức đề kháng của cá suy giảm là điều kiện thuận lợi để các sinh vật bám và vi khuẩn gây bệnh phát triển mạnh gây bệnh cho cá nuôi Các bệnh thường gặp trong nuôi cá lồng thường là ghẻ lở, mù mắt, viêm bóng hơi, hoại tử thần kinh… [7], [24], [33] Bệnh cá xảy ra thường xuyên gây chết cá rải rác trong vụ nuôi, ảnh hưởng tới sản xuất và thu nhập của người nuôi

1.3.6 Đào tạo và khuyến ngư

Chất lượng nguồn nhân lực, kinh nghiệm của người nuôi là những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của nghề nuôi Với các doanh nghiệp lớn, đầu tư bài bản, chất lượng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao có khả năng tốt trong việc

dự báo, xử lý các sự cố trong quá trình nuôi giúp giảm thiểu thiệt hại Tuy nhiên, hầu hết người nuôi cá biển ở quy mô nhỏ hiện nay thường không qua đào tạo, tập huấn, nuôi mang tính tự phát là chính do đó gặp rất nhiều khó khăn trong việc xử lý sự cố, nhất là khi cá nhiễm bệnh [9] Do đó, công tác tập huấn sẽ góp phần khắc phục những hạn chế này Qua đó, người nuôi được cập nhật các thông tin về thị trường, kỹ thuật mới, các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả là những điều kiện cần cho sự phát triển mang tính bền vững

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cát Hải

1.4.1 Vị trí địa lý

Cát Hải là một huyện đảo của thành phố Hải Phòng, nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng Phía Tây Bắc huyện Cát Hải giáp với Yên Hưng (Quảng Ninh), phía Đông Bắc là Vịnh Hạ Long Ba mặt giáp với biển Đông, huyện có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ tiền tiêu của thành phố Hải Phòng Huyện Cát Hải nằm trong vùng kinh tế biển trọng điểm Bắc Bộ nên có điều kiện giao thương thuận lợi với các địa phương khác trong vùng, khu vực và trên thế giới [44] Với lợi thế về vị trí địa

lý, huyện đảo Cát Hải có tiềm năng lớn trong việc phát triển các hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch, vận tải biển và các hoạt động kinh tế biển khác Diện tích

tự nhiên của huyện là 345 km2, bao gồm hai đảo lớn là Cát Hải diện tích xấp xỉ 40

km2 và Cát Bà hơn 300 km2

Trang 23

12

Hình 1.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Cát Hải

Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo, trong đó có đảo Cát Bà ở phía Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng Nơi đây đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Cơ sở hạ tầng cũng khá phát triển phục vụ cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển đảo và du lịch Quần đảo có tọa độ 106°52′ - 107°07′ Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc Diện tích khoảng gần

300 km² Dân số 29.899 người (2010) Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xa, hòn Tai Kéo,

Cát Bà hay còn gọi là Các Bà, tên khác là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long Cát Bà là một hòn đảo đẹp, nằm ở độ cao trung bình 70 m so với mực nước biển Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía Đông Nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám Cư dân chủ yếu là người Kinh

1.4.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Quần đảo Cát Bà chủ yếu là địa hình karstơ nhiệt đới bị ngập chìm do biển tiến gần đây Hoạt động karstơ đã tạo nên cảnh quan độc đáo, nhiều dạng địa hình đặc biệt như hang động, măng đá, chuông đá, các giếng, phiễu karstơ và các thung lũng karstơ Đảo chính Cát Bà rộng khoảng 144 km2, chỗ cao nhất 331 m, là đảo đá vôi lớn nhất

Trang 24

13

trong hệ thống quần đảo phía Nam vịnh Hạ Long và vùng ven bờ tây Biển Đông Toàn đảo Cát Bà là vùng núi non hiểm trở có độ cao từ 50 - 200 m, độ dốc sườn núi trung bình 30 - 40 độ; nơi thấp nhất là Áng Tôm, thấp hơn mực nước biển 10 - 30 m; đỉnh cao nhất là Cao Vọng nằm ở phía bắc đảo, cao khoảng 331 m Địa hình Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xem kẽ nhiều thung lũng lớn nhỏ

1.4.3 Khí hậu, thủy văn

Huyện đảo Cát Hải nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương; với hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè Các đặc điểm về điện kiện khí hậu và chế độ thủy văn:

Nhiệt độ không khí ở Cát Bà chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi hai hệ thống gió mùa Đông Bắc khô lạnh và gió mùa Tây Nam nóng ẩm Do đó, nhiệt độ không khí trung bình hằng năm từ 22,5 - 23,5oC Vào mùa hè, do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, nhiệt độ trung bình đạt trên 25oC, cao nhất vào tháng 7 có thể đạt 35 - 40oC Ngược lại, vào mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình từ 18 - 20oC, thấp nhất có thể xuống dưới 10oC Đây chính là bất lợi đối với nghề nuôi cá biển ở Cát

Bà nói riêng và miền Bắc nói chung Vào những thời điểm nhiệt độ thấp, cá nuôi thường sinh trưởng chậm, thậm chí là chết rét [13]

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 82 - 84%, cao hơn ở trong đất liền (> 85%), cao nhất vào tháng 4 (90 - 91%), thấp nhất vào tháng 10 đến tháng 1 năm sau (73 - 77%) Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ, lớn nhất vào tháng 7 - 9, thấp nhất vào tháng 2 Chế độ gió với hai mùa chính là gió mùa Đông Bắc kèm nhiệt độ lạnh (tháng 11 - 3 năm sau) với tốc độ trung bình 3,2 - 3,7 m/s; gió mùa Tây Nam kèm nhiệt độ cao (tháng 5 - 9) với tốc độ trung bình 3,5 - 4,0 m/s Chế độ mưa, tổng lượng mưa hàng năm đo được khoảng 1.600 - 1.800 mm nhưng phân bố không đều, cao nhất vào tháng 8 (235 mm) và thấp nhất vào tháng 12 (16 mm) Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm Chế

độ bốc hơi, tổng lượng bốc hơi trung bình cả năm dao động từ 700 - 750 mm, cao nhất vào tháng 10, 11 (> 80 mm), thấp nhất vào 2, 3 (> 30 mm) [13]

Trang 25

14

Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt, Hải Phòng nằm trong vùng có bão và

áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều, chiếm 31% tổng số cơn bão đổ bộ vào nước ta hằng năm Trong đó, khoảng 1 - 2 cơn đổ bộ trực tiếp, 3 - 4 cơn gián tiếp ảnh hưởng đến vùng ven biển và các đảo Bão đổ bộ vào Hải Phòng tập trung vào tháng 7 - 9 (78%) Ngoài ra, dông, lốc và mưa lớn cũng là các hiện tượng thời tiết đặc biệt ảnh hưởng lớn đến hoạt động của người dân Trung bình khoảng 40 - 45 ngày có dông, chủ yếu vào mùa hè (tháng 4 - 6), lượng mưa có thể đạt 180 - 200 mm kèm gió xoáy với tốc độ rất lớn, có thể đạt tới 100 - 200 m/s

Chế độ thủy văn: chế độ thủy triều đặc trưng ở Cát Bà là nhật triều đều với biên

độ dao động lớn Mỗi tháng có 2 chu kỳ triều cường kéo dài 11 - 13 ngày/chu kỳ, biên

độ dao động mực nước từ 2,0 - 4,0 m Thủy triều biên độ lớn tập trung vào các tháng

5, 6, 7 và 10, 11, 12 Tốc độ dòng chảy trung bình đạt 10 - 20 cm/s vào mùa hè và 5 - 7 cm/s vào mùa đông, phụ thuộc chủ yếu vào dòng chảy triều Độ cao sóng cực đại trung bình năm đạt 2,0 m, cao nhất đạt 4 - 5 m vào mùa mưa bão [13]

1.4.4 Tài nguyên thiên nhiên

Về tài nguyên khoáng sản, ngoài đá vôi, đảo Cát Bà còn có nguồn nước khoáng

có giá trị Cát Bà có các hệ sinh thái tiêu biểu như: rừng mưa nhiệt đới trên núi đã vôi, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm rong cỏ biển, hệ sinh thái hang động,… Rừng nguyên sinh trên đảo, có đa dạng sinh học cao, đã thông kê được 745 loài thực vật, trong đó có những loài gỗ quý và cây thuôc Hệ động vật trên cạn có trên 200 loài, gồm khoảng 20 loài thú, 69 loài chim, 15 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư, trong đó có nhiều loài quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam

Sinh vật biển thuộc vùng biển - đảo Cát Hải cũng rất phong phú, đa dạng, với trên 1.200 loài, thì có tới 30 loài cỏ biển, 36 loài thực vật ngập mặn, 590 loài động vật đáy, 20 loài san hô, 207 loài cá; trong đó có không ít loài thuộc loại quý hiếm được ghi vào danh sách đỏ Việt Nam và nhiều loài đặc sản có giá trị kinh tế cao như: rong guột, rong đã đá cong, rong mơ mềm, ốc đụn, tu hài, trai ngọc, đồi mồi,rùa da, vích, sò huyết, cá mục, cua bể, cá song, cá thu, cá chim, ghẹ… Vịnh Lan Hạ là một trong những vịnh biển đẹp nhất trong quần thể danh thắng vịnh Hạ Long (di sản thiên nhiên

Trang 26

15

thế giới) và cũng chính vì vậy, phần lớn đảo Cát Bà được công nhận là khu dự trữ quyển thế giới

1.4.5 Chất lượng môi trường nước

Các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá:

Nhiệt độ nước biển phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ không khí, dao động từ 21,4 - 31,2oC, trung bình cao nhất vào tháng 8 đạt 29,7oC; thấp nhất vào tháng 1 đạt

18oC Sự phân tầng nhiệt độ nước thể hiện không rõ rệt do độ sâu mực nước thấp [43]

Độ mặn dao động 24,6 - 32,9‰, thấp nhất vào mùa mưa tháng 7 - 8 chỉ 23,6‰; cao nhất vào tháng 2 đạt 33,2‰ Biên độ dao động độ mặn trung bình hàng năm lên tới 12‰ Hàm lượng oxy hòa tan trong nước biển tại Cát Bà dao động từ 5,1 – 7,2 mg

O2/L, ngoại trừ một số địa điểm ô nhiễm như ở Bến Bèo, biên độ dao động oxy hòa tan ngày đêm lớn hơn so với các vùng khác [43] Độ pH của nước biển khu vực này tương đối ổn định, dao động từ 7,7 – 8,2 Độ đục biến đổi khá rộng, từ 4 - 23 NTU, cao hơn vào mưa (12 NTU), thấp hơn vào mùa khô (7 NTU) Độ đục tăng là dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và nguy cơ đối tượng nuôi nhiễm bệnh gia tăng

Hàm lượng các hợp chất của nitơ: hàm lượng N-NO2 biến động rất lớn, từ 0,002

Trang 27

16

0,095 mg/l) đều thấp hơn so với tiêu chuẩn trong nước nhưng lại cao hơn so với tiêu chuẩn ASEAN [43]

Các thông số thuỷ sinh vật:

Thực vật phù du có thành phần khá phong phú và đa dạng, đã bắt gặp 124 loài trong tổng số 199 loài đã thống kê ghi nhận ở khu vực đảo Cát Bà Thành phần thực vật phù du đặc trưng cho khu hệ tảo nước nông ven bờ với ưu thế của ngành tảo giáp (Pyrrophyta) và tảo Silic (Bacillariophyta) Thành phần loài thực vật phù du có sự biến đổi theo mùa và tình trạng dinh dưỡng của thủy vực, dao động từ 0,11 - 10,0 triệu tế bào/m3 [43] Đáng chú ý, vịnh Bến Bèo ghi nhận sự xuất hiện của nhiều loài tảo độc (28 loài: tảo giáp, tảo Silic) với mật độ tương đối cao, đặc biệt vào các tháng cuối mùa khô (0,61 - 3.3 triệu tế bào/m3) Một số nghiên cứu đã ghi nhận ảnh tác động gây độc của 6 - 8 loài tảo này với hệ cá, động vật không xương sống và sức khỏe người tiêu dùng, gây lên các chứng ngộ độc tiêu hóa và thần kinh [43]

Động vật phù du, kết quả quan trắc ghi nhận được 54 loài trong tổng số 98 loài

đã được báo cáo tại vùng biển Cát Bà Ngoài ra, còn nhiều ấu trùng của các loài động vật phù du, động vật đáy, trứng cá và cá con Trong đó, nhóm giáp xác chân chèo (Copepoda) chiếm tỷ lệ cao nhất, với 60% tổng số loài; tiếp theo là giáp xác râu ngành (Cladocera), hàm tơ (Chaetognatha), Mật độ cá thể bắt gặp từ 1.347 - 57.134 cá thể/m3, cuối mùa mưa cao hơn nhiều so với cuối mùa khô [43]

1.4.6 Đánh giá chung về tiềm năng nuôi cá biển

Với tiềm năng diện tích mặt nước lớn, địa hình nhiều đảo, nhiều vũng, vịnh kín gió, nước trong sạch, rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng hải sản, đặc biệt là phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển Diện tích tiềm năng trên 29.000 ha, trong đó diện tích có khả năng phát triển nuôi trồng hải sản trên 15.000 ha [44] nằm trong chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Cát Hải đến năm 2020 Ngoài ra, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gần Hà Nội, Quảng Ninh, địa phương có điều kiện thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hóa, kỹ thuật - công nghệ, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Chính quyền địa phương luôn xác định

Trang 28

17

ưu tiên, khuyến khích phát triển nuôi biển đi kèm với những chính sách hỗ trợ tập thể

và cá nhân về diện tích mặt nước, kỹ thuật công nghệ, đào tạo nhân lực

Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt thành nhiều eo, vũng, vịnh lớn nhỏ, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và ảnh hưởng từ nguồn nước ven bờ nên chất lượng môi trường ở vùng biển đảo Cát Bà có sự tác động nhất định, cục bộ Chất lượng môi trường vùng Bến Bèo thể hiện bị ô nhiễm nhất, tiếp đến là vùng Lan Hạ và vịnh cảng

cá Cát Bà có biểu hiện ít bị ô nhiễm nhất trong 3 khu vực nghiên cứu Một số chỉ tiêu môi trường (các dạng ni tơ, dầu ) vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam cũng như tiêu chuẩn khu vực ASEAN [38] Nguyên nhân của sự ô nhiễm là do chính tác động của ngành nuôi trồng thủy sản, kết hợp với các hoạt động khác như dân sinh, du lịch và vận tải biển Do đó, cần có những biện pháp nhất định trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và giảm thiểu tác động đến hoạt động nuôi trồng thủy sản

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn của Hải Phòng có nhiều thuận lợi cho nuôi trồng hải sản như chế độ thủy triều và dòng chảy Tuy nhiên, nó cũng có những yếu tố ảnh hưởng bất lợi, đặc biệt là hiện tượng rét đậm rét hại vào mùa đông, nắng nóng và dông bão vào mùa hè Trong khi đó, vào mùa mưa, lượng nước từ các cửa sông đổ ra làm giảm độ mặn có thể gây sốc cho đối tượng nuôi, làm giảm tốc

độ tăng trưởng và đi kèm với rủi ro xuất hiện dịch bệnh Tất cả sự biến đổi về thời tiết khí hậu đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên đối tượng nuôi, do đó, để giảm thiểu các tác động tiêu cực này, cần có những biện pháp phòng ngừa liên quan đến việc lựa chọn đối tượng, mùa vụ nuôi, gia cố hệ thống nuôi, các biện pháp quản lý thức ăn, môi trường và phòng ngừa dịch bệnh nhằm giảm thiểu tác động và hướng đến sự phát triển bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá biển ở đây

Trang 29

18

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghề nuôi cá lồng bè trên biển vùng vịnh Cát Bà

Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian một năm, từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015

Địa điểm nghiên cứu: vịnh Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Số liệu thứ cấp được thu thập dựa trên các tài liệu khoa học, số liệu điều tra cơ bản, báo cáo tổng kết hàng năm của ngành thủy sản trung ương và địa phương; báo

Hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề

nuôi lồng, bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Cát Bà

Kết luận và đề xuất ý kiến

Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi cá biển lồng

bè tại Cát Bà theo hướng bền vững

Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi lồng bè

Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiện trạng KT-XH của chủ

Trang 30

Báo cáo kết quả phát triển nuôi trồng thủy sản hàng năm của Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn; Chi cục Nuôi trồng thủy sản thành phố Hải Phòng (2001 - 2014) Báo cáo kết quả hàng năm về phát triển nuôi cá lồng bè tại vùng vịnh Cát Bà của Ủy ban Nhân dân huyện Cát Hải; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cát Hải

Nhóm các thông tin điều tra gồm các thông tin về điều kiện tự nhiên: vị trí địa

lý, điều kiện địa hình thổ nhưỡng, khí hậu thủy văn, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường nước qua đó, đánh giá tiềm năng và thách thức cho nuôi cá lồng biển tại vịnh Cát Bà, huyện Cát Hải nói chung

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp điều tra qua phiếu (QS) [70], [101] Trước khi thực hiện các điều tra chi tiết và phân bổ mẫu, chúng tôi tiến hành thu thập các thông tin sơ khai liên quan đến vùng nuôi chính, số hộ nuôi, số lượng lồng bè trên cơ sở số liệu báo cáo nhanh từ Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Thành phố Hải Phòng, và Phòng Nông nghiệp

và phát triển nông thôn huyện Cát Hải và điều tra nhanh thực địa toàn bộ vùng nuôi tại Cát Bà Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo ý kiến của chuyên gia, những nhà quản lý nuôi trồng thủy sản, cách phân chia vùng quản lý của các cơ quan chức năng tại địa phương để thực hiện các nội dung điều tra đảm bảo tính khả thi Các thông tin còn thiếu được chúng tôi tiến hành thu thập, bổ sung thêm Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành việc quy hoạch, phân chia vùng điều tra và phát số phiếu điều tra tương ứng

Trang 31

20

Trên cơ sở báo cáo nhanh của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Thành phố Hải Phòng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cát Hải, chúng tôi có được thông tin về số hộ nuôi, vùng nuôi tại Cát Bà bao gồm 490 hộ (Vịnh Cát Bà 16 hộ, vịnh Bến Bèo 309 hộ, vịnh Lan Hạ 134 hộ, vùng Gia Luận - Trà Báu 31 hộ) Số mẫu điều tra cho mỗi vùng nuôi trong nghiên cứu này được tính toán theo công thức của

Yamane (1967): n = N / (1 + N ×e 2 ) với n là số mẫu cần xác định cho nghiên cứu tại

mỗi vùng điều tra, N là tổng số hộ nuôi trong toàn vùng điều tra, e là xác suất phạm sai lầm loại II (nghiên cứu này chọn 10%) Theo đó, tổng số mẫu điều tra là 170/490 mẫu phân bổ về mỗi vùng nuôi với số lượng lần lượt là Vịnh Cát Bà 14/16 hộ, vịnh Bến Bèo 57/309 hộ, vịnh Lan Hạ 24/134 hộ, vùng Gia Luận - Trà Báu 24/31 hộ Các mẫu sau khi tính toán được phân bổ một cách ngẫu nhiên về các vùng nuôi tương ứng bằng cách sử hàm phân bố ngẫu nhiên Rand trong Microsoft Excel 2013

Những thông tin chính được thu thập gồm: thông tin điều kiện tự nhiên vùng nuôi, các thông tin về kinh tế xã hội của người nuôi; các thông tin về hiện trạng nghề nuôi đặc điểm hệ thống công trình nuôi, chuẩn bị ao nuôi, chọn giống và thả giống, các biện pháp quản lý thức ăn, môi trường, phòng trị bệnh, năng suất, sản lượng và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nghề nuôi cá lồng bè của tỉnh theo hướng bền vững

Các thông tin điều tra về kinh tế xã hội của hộ nuôi: tuổi của chủ hộ (các nhóm tuổi của chủ hộ dưới 30 tuổi, từ 30 - 50 tuổi, trên 50 tuổi), số nhân khẩu, và tuổi của các thành viên tham gia của chủ hộ (dưới độ tuổi lao động - dưới 16 tuổi; trong độ tuổi lao động - từ 16 tuổi đến 55 tuổi với nữ và 60 tuổi với nam; trên độ tuổi lao động - trên

55 tuổi với nữ và trên 60 tuổi với nam); giới tính (nam, nữ); trình độ văn hóa (cấp I, II

và II); trình độ chuyên môn của chủ hộ (không bằng cấp, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng - đại học, sau đại học), quy mô sản xuất của chủ hộ

Các thông tin về hiện trạng kỹ thuật: Các thông tin chung về hoạt động nuôi cá lồng bè: số lượng lồng, đối tượng nuôi, mùa vụ, thời gian nuôi, thiết kế, xây dựng lồng nuôi; Các thông tin về con giống: kích cỡ, mật độ nuôi, nguồn giống, số lượng và chất lượng giống; Các thông tin về thức ăn: loại thức ăn, giá cả, khẩu phần thức ăn, thành

Trang 32

21

phần dinh dưỡng, quản lý thức ăn; Các thông tin về thuốc - hóa chất: loại hoá chất, nguồn gốc, cách sử dụng; Các thông tin về chăm sóc và quản lý: các thông số môi trường, tần suất kiểm tra, bệnh và biện pháp phòng trị, xử lý rác thải; Các thông tin về thu hoạch: thời điểm thu hoạch, năng suất, sản lượng, giá bán, sơ chế, thị trường

Các thông tin về hiệu quả kinh tế: chi phí cố định, chi phí lưu động, sản lượng thu hoạch; tổng doanh thu, lợi nhuận ròng, lợi nhuận trên vốn đầu tư, thu nhập của người tham gia

Các thông tin về chính sách quản lý: thuận lợi, khó khăn thường gặp, hướng giải quyết; vấn đề quy hoạch, các chính sách hỗ trợ về vốn, con giống, kỹ thuật, thức

ăn, thị trường, môi trường, cơ chế - chính sách

Phương pháp phân tích SWOT:

SWOT là công cụ phân tích chiến lược được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột và chia làm 4 phần Mỗi phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), và Nguy cơ (Threats):

Điểm mạnh là những tác nhân bên trong mang tính tích cực hoặc có lợi đối với nghề nuôi cá biển tại Cát Bà

Điểm yếu là những tác nhân bên trong mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc phát triển nghề nuôi cá biển tại Cát Bà

Cơ hội là những tác nhân bên ngoài (thị trường kinh doanh, xã hội, chính sách…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp nghề nuôi cá biển phát triển

Thách thức là những tác nhân bên ngoài (thị trường kinh doanh, xã hội, chính sách…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong nghề nuôi cá biển

2.2.2 Phương pháp tích và xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả với các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số trung bình, độ lệch chuẩn, phần trăm tỷ lệ và các kiểm định mẫu Phương pháp phân tích tài chính: tổng thu, lợi nhuận thuần, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư áp dụng theo các phương pháp thống kê kinh tế phổ biến hiện nay

Trang 33

22

Phương pháp phân tích tài chính mô hình nuôi:

- Tổng thu:

Tổng thu = Tổng khối lượng sản phẩm × Giá bán sản phẩm

- Lợi nhuận thuần:

Lợi nhuận thuần = Tổng thu – Tổng chi phí sản xuất (Với chi phí sản xuất bằng chi phí cố định cộng với chi phí lưu động)

- Tỷ suất lợi nhuận (TSLN) trên vốn đầu tư:

TSLN trên vốn đầu tư =[(Thu nhập ròng hàng năm)/(Vốn đầu tư)] × 100%

- Lãi suất đầu tư (LSĐT):

LSĐT = TSLN / n (Với n là số tháng của vụ nuôi)

Trang 34

23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng nghề nuôi cá biển trong lồng bè tại Cát Bà

3.1.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của hộ nuôi cá biển trong lồng bè

3.1.1.1 Tuổi của chủ hộ nuôi

Kết quả điều tra về độ tuổi của 170 hộ nuôi cá lồng biển tại 4 vùng nuôi (Vịnh Cát Bà, vịnh Bến Bèo, vịnh Lan Hạ, và bến vụng Gia Luận - Trà Báu) cho thấy tuổi của các chủ hộ nuôi dao động từ 27 - 72 tuổi, trung bình là 47,6 ± 9,82 tuổi Trong số

170 hộ được điều tra, phỏng vấn chỉ có 07 người dưới 30 tuổi (chiếm 4,1%), 108 người từ 30 - 50 tuổi (63,5%), 55 người trên 50 tuổi (32,4%)

Bảng 3.1 Cấu trúc tuổi của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170)

có nhiều kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nuôi cá biển, có khả năng tài chính để đầu tư

do đặc thù nghề này đòi hỏi vốn rất cao đi kèm với nhiều rủi ro Ngoài ra, những người nằm trong độ tuổi này thể hiện sức khoẻ tốt, nhanh nhạy trong việc nắm bắt, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, thực tế điều tra cho thấy, họ cũng khá thận trọng, chín chắn trong việc áp dụng vào quá trình nuôi do đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm từ trước Những người nuôi thuộc nhóm tuổi dưới 30 chỉ chiếm 4,1%, điều này cho thấy đối tượng trẻ thuộc nhóm tuổi này rất ít tham gia một cách độc lập vào hoạt động nuôi thương phẩm cá biển Nguyên nhân là do nghề nuôi cá biển đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nhiều kinh nghiệm chuyên môn, ý thức trách nhiệm và

Trang 35

24

tính cộng đồng cao Số chủ hộ trên 50 tuổi cũng chiếm tới 32,4%, đây là những chủ hộ gắn bó với nghề nuôi cá biển đã từ rất lâu

3.1.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi

Dựa trên kết quả điều tra 170 hộ nuôi cho thấy chỉ có 5 chủ hộ là nữ giới (2,9%), hầu hết là nam giới (97,1%) Do nam giới giữa vai trò trụ cột trong gia đình, đồng thời nghề biển nói chung thường rất nặng nhọc, vất vả cả về thể lực và tinh thần

vì thế phụ nữ thường chỉ giữ vai trò hỗ trợ Người phụ nữ thường tham gia vào quản lý chi tiêu, mua bán sản phẩm, nấu nướng cho những người lao động trên bè

Hình 3.1 Tỷ lệ giới tính của chủ hộ nuôi cá biển

3.1.1.3 Số nhân khẩu và lao động của chủ độ nuôi

Bảng 3.2 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170) Chỉ tiêu

Trong độ tuổi lao động

Trên độ tuổi lao động

Dưới độ tuổi lao động

Ghi chú: trong độ tuổi lao động : Nam từ 16 - 60 tuổi, nữ từ 16 - 55 tuổi; trên độ tuổi lao

động: nam > 60 tuổi, nữ > 55 tuổi; dưới độ tuổi lao động: nam, nữ < 16 tuổi

Trang 36

25

Số nhân khẩu thấp nhất trong các hộ nuôi là 2 người, nhiều nhất là 9 người, trung bình là 4 người Phần lớn trong mỗi hộ nuôi gồm một gia đình có hai thế hệ chung sống với nhau là cha mẹ và con Số hộ nuôi có 3 - 5 nhân khẩu chiếm tỷ lệ cao nhất với tổng trên 80% Đa số những người trong hộ nuôi thường thuộc nhóm tuổi lao động, tham gia chính vào hoạt động nuôi cá biển Những người trên hay dưới độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ thấp, thường là ông bà - gia đình ba thế hệ và con cái còn nhỏ

3.1.1.4 Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi

Đa số chủ hộ nuôi có trình độ văn hóa cấp 1 và cấp 2, chiếm tỷ lệ lần lượt là 41,76% và 34,71% Số chủ hộ có trình độ văn hóa cấp 3 chiếm 20,59% trong khi số chủ hộ không được học hành chiếm 2,94% Trình độ văn hóa cũng ít nhiều ảnh hưởng đến trình độ nhận thức, khả năng tư duy, việc tiếp nhận thông tin và ứng dụng các quy trình kỹ thuật nuôi tiên tiến vào sản xuất Điều này thể hiện trong hoạt động quản lý hệ thống nuôi, chăm sóc quản lý, và hạch toán kinh tế của người nuôi

Hình 3.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170)

Hiện nay, nghề nuôi cá biển cũng có rất nhiều những tiến bộ mới về công nghệ nuôi, các biện pháp quản lý thức ăn, môi trường, phòng trị bệnh Việc ứng dụng những thành tựu mới này có thể góp phần cải tiến năng suất, sản lượng, giảm thiểu rủi ro, thiệt hại cho người nuôi Thực tiễn điều tra, phỏng vấn cho thấy, những chủ hộ có trình

độ văn hóa cao hơn (cấp 3) phản ứng nhanh nhạy hơn, diễn đạt tốt hơn, khả năng xử lý với các sự cố môi trường và bệnh trong quá trình nuôi cũng nhanh hơn, việc tiếp nhận các thông tin từ các cán bộ khuyến ngư do đó cũng tỏ ra dễ dàng hơn

Trang 37

26

3.1.1.5 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi

Đa số chủ hộ nuôi không có trình độ chuyên môn về nuôi cá biển, chiếm tới 75,3% Số chủ hộ có trình độ trung cấp và sơ cấp chiếm tổng cộng 18,3% Số người có trình độ đại học chiếm 5,9% và sau đại học là 0,6%

Hình 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170)

Như vậy, số chủ hộ có trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản vẫn còn chiếm tỷ lệ quá thấp so với yêu cầu đặc trưng của nghề nuôi cá lồng biển Nguyên nhân do đây là vùng hải đảo, vấn đề giao thông, thông tin liên lạc còn khó khăn nên việc phổ biến kiến thực, tập huấn kỹ thuật nuôi còn hạn chế Với tốc độ phát triển nhanh của nghề nuôi trồng thủy sản nói chung hiện nay, nhiều công ty nuôi tôm và cá biển quy mô vừa và lớn ở nước ta đều tuyển dụng những người có trình độ cao đẳng, đại học để quản lý hệ thống, những người công nhân đóng vai trò triển khai các hoạt động cụ thể Quá trình điều tra cũng nhận thấy, hạn chế về chuyên môn thường thể hiện nhiều khó khăn trong quá trình nuôi, nhất là khi xảy ra các sự cố môi trường và dịch bệnh Trình độ chuyên môn cao là điều kiện quan trọng để tiếp nhận các thông tin khoa học kỹ thuật hữu ích, tiên tiến từ các cơ quan chức năng như Chi cục Nuôi trồng Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư, tiếp cận các tài liệu chuyên môn

3.1.1.6 Quy mô của hộ nuôi

Về quy mô nuôi, hầu hết các hộ nuôi có quy mô nhỏ với số lồng nuôi từ 2 - 4 ô lồng chiếm tới 51,8% và 5 - 8 ô lồng chiếm 30,0% Số hộ nuôi có trên 8 ô lồng chỉ

Trang 38

27

chiếm 18,2% Nguyên nhân do chi phí đầu tư cho nuôi cá biển thường lớn, bao gồm chi phí lồng nuôi, con giống, thức ăn, thuốc hóa chất phòng trị bệnh Số lồng nuôi tăng

đi kèm với chi phí lớn về cả vốn và nhân lực, do đó, các hộ nuôi thường duy trì quy

mô nhỏ để dễ kiểm soát và phù hợp với khả năng tài chính Những hộ nuôi có trên 8 ô lồng thường là những hộ nuôi lâu năm, có nhiều kinh nghiệm và vốn để hoạt động Nhiều hộ nuôi có số lồng thực tế lớn hơn nhiều, nhưng triển khai các hoạt động nuôi các đối tượng khác hoặc để trống

Hình 3.4 Quy mô của hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 170)

3.1.1.7 Cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ, chính sách quản lý

Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nghề cá ở Cát Bà nhìn chung còn rất hạn chế

Hệ thống điện chủ yếu dựa trên điện gió, bình lưu điện phục vụ cho một phần sinh hoạt trên bè Các thiết bị hỗ trợ cảnh báo an toàn như phao tiêu, đèn báo vùng nuôi - phân luồng tàu bè, hệ thống neo bè chưa được đầu tư đầy đủ

Công tác quy hoạch, hướng dẫn và thực thi quy hoạch chưa cụ thể, thống nhất trong khi số lượng lồng bè nuôi hải sản tại Cát Bà ngày càng gia tăng Các quy định của các cơ quan chức năng của Thành phố Hải Phòng nói chung về tiêu chuẩn kỹ thuật nuôi cá biển chưa được cụ thể hóa và thống nhất thực hiện Những bất cập trong quy hoạch, quản lý phần nào ảnh hưởng đến việc phát triển nghề nuôi cá biển tại Cát Bà chưa tương xứng với tiềm năng Theo một số hộ nuôi, các hoạt động kinh tế khác như

du lịch, vận tải, khai thác thủy sản, hoạt động dân sinh trên vịnh có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động nuôi lồng do xả thải gây ô nhiễm môi trường

Trang 39

28

Nhìn chung, nghề nuôi cá biển ở nước ta vẫn chưa thật sự phát triển do còn nhiều khó khăn Theo Tổng cục Thủy sản (2012), đến năm 2020, diện tích và sản lượng nuôi cá biển của nước ta cần đạt mục tiêu 7.270 ha diện tích mặt nước tương ứng với 145.500 tấn Tuy nhiên, thực tế cho thấy không có nhiều doanh nghiệp lớn đầu

tư vào hoạt động nuôi cá biển như so với tôm he Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này thì có rất nhiều vấn đề, chủ yếu là vấn đề quy hoạch, các chính sách hỗ trợ phát triển,

cơ sở hạ tầng còn chưa đáp ứng được, các dịch vụ hậu cần nghề cá chưa thật sự tạo đà thuận lợi cho nghề nuôi cá biển phát triển Ngoài ra, con giống, thức ăn, ô nhiễm môi trường, lây nhiễm mầm bệnh là những khó khăn về mặt kỹ thuật trong khi đầu ra không ổn định là vấn đề mà nhiều người nuôi được hỏi quan tâm Theo lộ trình phát triển của huyện Cát Hải, các cơ quan chức năng đang quy hoạch giảm số lồng bè nuôi

cá biển lại từ nay đến năm 2020, đồng thời xây dựng mô hình mẫu nhà bè nuôi hải sản hướng đến phát triển du lịch sinh thái

3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá lồng bè

3.1.2.1 Số lượng lồng nuôi cá biển

Hình 3.5 Số lượng bè nuôi và ô lồng ở vịnh Cát Bà giai đoạn 2009 - 2014

Nguồn: Báo cáo phòng NN & PTNT huyện Cát Hải năm 2009 - 2014

Ghi chú: Số lượng bè thể hiện dưới dạng cột, số lượng lồng là đường

Số lượng lồng bè nuôi ở vịnh Cát Bà đã có sự gia tăng mạnh mẽ trong khoảng

15 năm qua, từ 100 bè với 900 ô lồng năm 2001 lên cao nhất là 896 bè, 11.650 ô lồng năm 2009 Tuy nhiên, kể từ năm 2009, số lượng lồng bè nuôi cá biển tại vịnh Cát Bà

có xu hướng giảm dần và duy trì tương đối ổn định từ năm 2010 - 2014, từ 548 bè,

Trang 40

29

9.493 ô lồng xuống 457 bè, 7.507 ô lồng Số lượng lồng bè nuôi ở Cát Bà gia tăng là

do sự đầu tư của Thành phố Hải Phòng, huyện Cát Hải với các chính sách hỗ trợ vay vồn đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi biển, đóng mới hệ thống lồng

bè, mở rộng quy mô nuôi Từ năm 2004, do nghề khai thác hải sản làm ăn kém hiệu quả nên, đặc biệt là nghề khai thác ven bờ, một số hộ ngư dân đã đến vịnh Cát Bà để đầu tư nuôi cá biển [45] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nghề nuôi cá biển gặp khó khăn nhiều khó khăn về vốn, ô nhiễm môi trường, bệnh và thị trường không ổn định nên tốc độ phát triển có khuynh hướng chững lại, ổn định Sản lượng cá nuôi năm

2014 đạt 2.670 tấn, năng suất trung bình đạt 324 kg/ô lồng/năm

3.1.2.2 Hình thức nuôi

Kết quả điều tra 170 hộ nuôi cá biển cho thấy, tất cả các hộ nuôi đều nuôi theo hình thức lồng bè nổi (100%) không có hộ nào sự dụng lồng cố định Do hoạt động nuôi cá lồng diễn ra trên vịnh, độ sâu khá lớn nên hình thức nuôi lồng nổi có nhiều ưu thế hơn, tính cơ động cao, có khả năng di chuyển tốt Ngoài ra, việc chăm sóc, vệ sinh

hệ thống lưới lồng cũng có nhiều thuận lợi hơn so với các hình thức nuôi lồng khác Trong trường hợp môi trường bị ô nhiễm hay mưa bão, hệ thống bè nuôi có thể được

di chuyển đến nơi có điều kiện tốt hơn

Hình 3.6 Lồng bè nuôi cá biển tại Cát Bà

3.1.2.3 Đối tượng nuôi

Các đối tượng cá biển nuôi chính tại vịnh Cát Bà gồm các loài cá song

(Epinephelus spp.) như cá song chấm nâu (E coioides), cá song hổ (E fuscogulatus),

Ngày đăng: 19/11/2017, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ngô Vĩnh Hạnh. Dự án nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801). Báo cáo Khoa Học, Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh; 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trachinotus blochii
6. Nguyễn Duy Hoan và Võ Ngọc Thám. Nghiên cứu sản xuất thử giống cá chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790) tại Khánh Hoà. Báo cáo khoa học. Trường Đại học Nha Trang, Khánh Hoà; 2000. 82 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer
8. Lại Văn Hùng. Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh. Trường Đại học Nha Trang; 2011. 78 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trachinotus blochii
12. Đỗ Văn Khương. Nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo cá song (Epinephelus tauvina), cá giò (Rachycentron canadum). Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển, tập II. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001. Trang: 558 – 559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus tauvina"), cá giò ("Rachycentron canadum
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001. Trang: 558 – 559
17. Đỗ Văn Ninh, Đỗ Văn Khương và Nguyễn Văn Phúc. Kết quả ương nuôi ấu trùng cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus) di nhập từ Trung Quốc. Trong tuyển tập:Các công trình nghiên cứu nghề cá biển, tập II. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001. Trang: 460 – 479 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sciaenops ocellatus
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001. Trang: 460 – 479
18. Cao Minh Ngự. Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi. Luận văn thạc sĩ chuyên nghành nuôi trồng thủy sản.Trường đại học Nha Trang; 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum
19. Nguyễn Trọng Nho. Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier &amp; Valenciennes, 1828). Báo cáo khoa học, Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang, Khánh Hoà; 2003. 67 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psammoperca waigiensis
20. Nguyễn Trọng Nho và Tạ Khắc Thường. Nghiên cứu kỹ thuật ương cá con và nuôi thương phẩm cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis Cuvier &amp;Valenciennes, 1828) tại Khánh Hoà. Báo cáo khoa học, Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang, Khánh Hoà; 2006. 89 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psammoperca waigiensis
21. Đào Mạnh Sơn, Đỗ Văn Nguyên. Đặc điểm sinh học, nuôi và sản x uất giống cá song (Epinephelus spp.) ở miền Bắc Việt Nam. Trong tuyển tập: Các công trình nghiên cứu nghề cá biển, tập I. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 1998. Trang:96 – 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus spp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 1998. Trang: 96 – 124
25. Nguyễn Địch Thanh. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) và ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống ở giai đoạn cá bột, tại Nha Trang, Khánh Hòa. Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nha Trang; 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lutjanus argentimaculatus
28. Nguyễn Tuần, Đỗ Văn Khương và Nguyễn Văn Phúc. Công nghệ nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo cá vƣợc (Lates calcarifer, Bloch 1790). Trong tuyển tập: Các công trình nghiên cứu nghề cá biển, tập II. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001.Trang: 443 – 460 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội; 2001. Trang: 443 – 460
31. Lê Xân. Thử nghiệm nuôi 2 loài cá biển Lutjanus argentimaculatus Forskal 1775 và Trachinotus blochii Lacepede 1801 tại Cát Bà, Hải Phòng. Tạp chí Thuỷ sản, số 2/2007. Trang: 18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lutjanus argentimaculatus" Forskal 1775 và "Trachinotus blochii
52. Ando Y, Kobayashi S, Sugimoto T and Takamaru N. Positional distribution of n- 3 highly unsaturated fatty acids in triacyl-sn-glycerols (TAG) of rotifers (Brachionus plicatilis) enriched with fish and seal oils TAG. Aquaculture 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brachionus plicatilis
53. Carrillo M, Zanuy S, Prat F, Cerda J, Ramos J, Maủanos E, and Bromage N. Sea Bass (Dicentrarchus labrax), in: Broodstock Management and Egg and Larval Quality, Bromage, N.R. and Roberts R.J., (Eds), Blackwell Science, Oxford, UK;1995. p. 138 - 168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dicentrarchus labrax
58. Davie A, Porter MJR, Bromage NR and Migaud H. The role of seasonally altering photoperiod in regulating physiology in Atlantic cod (Gadus morhua). Part I. Sexual maturation, Can J Fish Aquat Sci. 2007; 64: 84 - 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gadus morhua
66. Franks JS, Warren JR and Buchanan MV. Age and Growth of cobia, Rachycentron canadum, from the northeastern Gulf of Mexico. Fish. Bull. 1999;97:459-471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rachycentron canadum
77. Juniyanto NM, Akbar S and Zakimin. Breeding and seed production of silver pompano (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) at the Mariculture Development Center of Batam. Aquaculture Áia Magazine, Vol. XIII No. 2 April – June 2008.46 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trachinotus blochii
79. Lan PH, Cremer CM, Chappell J, Hawke J, O’Keefe T. Growth performance of Pompano (Tranchinotus blochii) fed fishmeal and soy based diets in offshore OCAT ocean cages. Result of the 2007 OCAT cage feefing trial in Hainam, China. U.S. Soybean Export Council, 12125 Woodcrest Executive Drive Suite 140, St. Louis, MO. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranchinotus blochii
81. Leis JM. Review of the early life history of tropical groupers (Serranidae) and snappers (Lutjanidae). In: J. J. Polovina and S. Ralston, (eds.) Tropical Snappers and Groupers Biology and Fisheries Management. Westview Press. USA. 1987.189-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Serranidae") and snappers ("Lutjanidae
83. Liao IC, Huang TS, Tsai WS. Cobia culture in Taiwan: current status and problems. Aquaculture. 2004; 237: 155–165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cobia culture in Taiwan: current status and problems

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w