1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp bostrichthys sinensis lacépède, 1801) bền vững tại tỉnh nam định

72 337 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Khoa sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá hiện

trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801) bền vững tại tỉnh Nam Định” là công trình nghiên cứu của cá nhân

tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho đến thời điểm này

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc

Nam Định, ngày 05 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Mạnh Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Đến nay luận văn đã hoàn thành, nhận dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Tấn Sỹ và Ths Châu Văn Thanh đã đầu tư nhiều công sức và thời gian hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đánh giá kết quả và hoàn thành luận văn

Thầy cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học thủy sản niên khóa 2014-2016 Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải Sản

Sở Nông nghiệp và PTNT Nam Định, Chi cục Thủy sản Nam Định, lãnh đạo, tập thể cán bộ công chức, viên chức của phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hưng - Nam Định, các đại lý thu mua, các cơ sở sản xuất giống

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy (Cô) trong hội đồng chấm bảo vệ luận văn đã chỉ bảo giúp tôi hoàn thiện luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, anh em đồng nghiệp

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Nam Định, ngày 05 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Mạnh Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Nam Định 3

1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, giao thông 3

1.1.2 Khí hậu, sông ngòi, thủy văn 4

1.2 Đặc điểm sinh học cá bống bớp và phân bố 7

1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 7

1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản 9

1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp trên thế giới và Việt Nam 11

1.3.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp trên thế giới 11

1.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp ở Việt Nam 12

1.4 Nuôi cá bống bớp trong ao đất 14

1.4.1 Phương thức nuôi cá bống bớp 14

1.4.2 Hình thức nuôi cá bống bớp 14

1.5 Thị trường tiêu thụ cá bống bớp 14

Thị trường Trung Quốc 14

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 16

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 17

2.2 Nội dung nghiên cứu 17

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

Trang 6

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu: 17

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 18

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu: 19

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

3.1 Hiện trạng kinh tế xã hội 20

3.1.1 Cơ cấu kinh tế 20

3.1.2 Dân số - lao động 21

3.2 Tiềm năng, hiện trạng NTTS tỉnh Nam Định 23

3.3 Hiện trạng nuôi cá bống bớp tỉnh Nam Định 24

3.3.1 Diện tích, sản lượng, độ tuổi và trình độ người nuôi cá bống bớp 25

3.3.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá bống bớp 27

3.3.3 Thức ăn và phương thức cho ăn 30

3.3.4 Bệnh dịch và biện pháp phòng trừ 32

3.3.5 Hiện trạng cá giống 34

3.3.6 Hiệu quả kinh tế xã hội nghề nuôi cá bống bớp 35

3.3.7 Thị trường tiêu thụ cá bống bớp thương phẩm 37

3.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức và đề xuất giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp bền vững tại Nam Định 37

3.4.1 Thuận lợi 37

3.4.2 Khó khăn 38

3.4.3 Cơ hội 39

3.4.4 Thách thức 39

3.5 Giải pháp nuôi cá bống bớp bền vững ở Nam Định 39

3.5.1 Giải pháp về chính sách phát triển 39

3.5.2 Giải pháp về khoa học và công nghệ 40

3.5.3 Giải pháp về quản lý, dịch vụ và khuyến ngư: 41

4.1 Kết luận 43

4.1.1 Về đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội: 43

4.1.2 Về tiềm năng, hiện trạng nuôi cá bống bớp tại Nam Định: 43

4.2 Khuyến nghị: 43

PHỤ LỤC - 1 -

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1.Diễn biến một số yếu tố thủy hóa, thủy lý của vùng nghiên cứu tỉnh Nam

Định theo các tháng trong năm (Từ năm 2013-2015) [17] 5

Bảng 1 2 Tập tính sống và điều kiện phát triển của cá bống bớp 9

Bảng 3 1 Cơ cấu lao động tỉnh Nam Định………22

Bảng 3 2 Kết quả NTTS tỉnh Nam Định năm 2016 [7] 24

Bảng 3 3 Diện tích, sản lượng nuôi cá bống bớp năm 2015 - 2016 25

Bảng 3 4 Độ tuổi và kinh nghiệm các chủ hộ nuôi cá bống bớp 26

Bảng 3 5.Trình độ học vấn và đạo tạo nghề nuôi trồng thủy sản của các chủ hộ nuôi cá bống bớp 26

Bảng 3 6 Diện tích, độ sâu ao nuôi cá bống bớp của nông hộ 27

Bảng 3 7.Cải tạo và chuẩn bị ao nuôi cá bống bớp 28

Bảng 3 8.Quản lý môi trường ao nuôi cá bống bớp 28

Bảng 3 9 Các thông số kỹ thuật nuôi cá bống bớp trong ao đất của các nông hộ 29

Bảng 3 10 Thông tin về dịch bệnh 32

Bảng 3 11 Sản lượng sản xuất giống của các trại sản xuất giống cá bống bớp trên địa bàn tỉnh Nam Định 34

Bảng 3 12 Tỷ lệ sống khi ương dưỡng con giống của các trại sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Nam Định 34

Bảng 3 13 Tổng chi phí đầu tư 35

Bảng 3 14 Tổng doanh thu 36

Bảng 3 15 Lợi nhuận kinh tế từ nuôi cá bống bớp thương phẩm 36

Bảng 3 16 Bảng giá cá bống bớp thương phẩm 37

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1 Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định 6

Hình 1 2 Hình dạng bên ngoài cá bống bớp 7

Hình 1 3 Phân bố cá bống bớp trên thế giới (Aquamaps.org) 8

Hình 1 4 Phân bố cá bống bớp ở Việt Nam (theo SĐVN 2007) 9

Hình 2 1 Địa điểm vùng nghiên cứu 16

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 17

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Với hơn 72 km đường bờ biển cùng một hệ thống sông ngòi dày đặc, tỉnh Nam Định được coi là địa phương có lợi thế đặc biệt trong phát triển nghề nuôi trồng thủy sản với các đối tượng nuôi như cá lóc bông, ngao, tôm sú, tôm thẻ chân trắng…đóng góp lớn cho nền kinh tế của tỉnh Trong đó, cá bống bớp được coi là đối tượng nuôi truyền thống có hiệu quả kinh tế cao của người dân ven biển tỉnh Nam Định

Cá bống bớp là đối tượng dễ nuôi, chất lượng thịt thơm ngon, giá trị kinh tế cao

và rất được thị trường ưa chuộng, nhất là thị trường Trung Quốc Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích và sản lượng nuôi cá bống bớp có phần giảm sút Để tìm hiều nguyên nhân cũng như đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá bống bớp trên địa bàn tỉnh Nam Định làm cơ sở dữ liệu khoa học cho địa phương sử dụng cho các chương trình hỗ trợ phát triển cũng như quy hoạch một cách hợp lý nghề nuôi cá bống bớp, giúp tăng hiệu quả tiến tới xây dựng mô hình sản xuất bền vững

Đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801) bền vững tại tỉnh Nam Định” được thực hiện với mục tiêu phân tích hiện trạng nuôi cá bống bớp, hiện trạng kinh tế xã hội nghề nuôi cá bống bớp tại tỉnh Nam Định Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi cá bống bớp tại địa phương Đề tài thực hiện các nội dung như sau: Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Nam Định, tiềm năng, hiện trạng NTTS, nuôi cá bống bớp tại Nam Định và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp bền vững tại tỉnh Nam Định

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 2 xã và 1 thị trấn trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định: Xã Nghĩa Hải, xã Nam Điền và thị trấn Rạng Đông Mỗi địa phương chọn 20 hộ nuôi cá bống bớp để điều tra thông qua phỏng vấn và phiếu điều tra

để tìm hiểu về các thông tin kỹ thuật nuôi thương phẩm cá bống bớp (diện tích, độ sâu, mật độ, kích cỡ con giống), các thông tin liên quan khác như thị trường con giống, hiệu quả kinh tế nuôi thương phẩm và những nguyện vọng của người nuôi trong việc duy trì

và phát triển nghề nuôi cá bống bớp Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm Excel và được trình bày dưới dạng các bảng biểu so sánh

Kết quả điều tra cho thấy, diện tích ao nuôi trung bình 0,61 ha/hộ, độ sâu trung

Trang 11

năng suất đạt trung bình 3,21 tấn/ha Thời gian nuôi 1 vụ kéo dài từ 9-11 tháng, trung bình là 10,42 tháng/vụ Lợi nhuận từ nghề nuôi cá bống bớp đạt 200-270 triệu đồng/ha/vụ Trên cơ sở điều tra, đánh giá phân tích hiện trạng nghề nuôi cá bống bớp trên địa bàn tỉnh Nam Định, đưa ra một số giải pháp góp phần giúp nghề nuôi cá bống bớp tại địa phương phát triển ổn định và hợp lý như: Giải pháp về quy hoạch, giải pháp về khoa học kỹ thuật, giải pháp về chính sách ưu tiên hỗ trợ và một số định hướng sản xuất khác

Từ khóa: Cá bống bớp, Four-eyed sleeper, Bostrichthys sinensis Lacépède 1801,

kinh tế xã hội, Nghĩa Hưng - Nam Định

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801), tên địa phương thường gọi là

cá bống bốn mắt Cá bống bớp phân bố ở nhiều nơi trên khu vực duyên hải Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, từ Úc đến tận Đài Loan, Trung Quốc, tại những vùng nước

ở rừng ngập mặn theo từng cặp đực cái hay theo bầy

Ở Việt Nam, chúng sinh sống ở các vùng rừng ngập mặn, cửa sông và vùng nước triều ven bờ tây vịnh Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh), Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ - nói chung là từ Bắc chí Nam

Cá bống bớp là một trong những loài cá có giá trị dinh dưỡng cao do thịt thơm ngon, bổ dưỡng; theo kết quả phân tích của Phòng Công nghệ sau thu hoạch - Viện Nghiên cứu Hải sản, hàm lượng dinh dưỡng có trong thịt cá bống bớp tươi là: protein 19,2%; lipit 0,74%; khoáng 1,51% và nước 78,55% Hiện tại nhu cầu cá bống bớp được

sử dụng rộng rãi không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị tại thị trường Trung Quốc, Hồng Kông cũng như một số nước khác thuộc châu Á

Ở Việt Nam, nghề nuôi cá bống bớp xuất hiện đầu tiên ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định vào khoảng những năm 1990 Ban đầu, những người dân khai thác cá thương phẩm ở vùng ven biển quanh khu vực cửa sông Đáy và chọn lại những con cá nhỏ để thả nuôi quảng canh trong ao nước lợ Sau đó, nhận thấy giá trị kinh tế đem lại từ cá bống bớp rất lớn, người dân đã chủ động thu hoạch cá con ngoài tự nhiên và nuôi trên quy mô lớn Tuy nhiên, chỉ sau khi sản xuất giống nhân tạo thành công năm 2004, quy mô nuôi

cá bống bớp thương phẩm mới được mở rộng và nhân ra nhiều địa phương khác như Ninh Bình, Quảnh Ninh

Tỉnh Nam Định được coi là cái nôi của nghề nuôi cá bống bớp ở Việt Nam, và đây cũng là tỉnh có diện tích nuôi cá bống bớp thâm canh lớn nhất cả nước với sản lượng năm

2015 đạt 1.625 tấn Nghề nuôi cá bống bớp đã đạt được nhiều thành công và khẳng định được vị thế trong tổng thể nuôi trồng thủy sản mặn lợ, giá trị kinh tế đem lại cao hơn nhiều so với nhiều vật nuôi khác Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn cản trở sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá bống bớp như : Chưa có loại thức ăn công nghiệp chuyên dùng trong nuôi thương phẩm; thị trường tiêu thụ còn hạn chế; quy mô nuôi chưa tập

Trang 13

trung, tỷ lệ sống khi ương giống thấp, sản lượng con giống sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu tại chỗ

Xuất phát từ những khó khăn của nghề nuôi nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi cá bống bớp nói riêng của tỉnh Nam Định, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801) bền vững tại tỉnh Nam Định”

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá được hiện trạng và hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá bống bớp thương phẩm tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Cung cấp thông tin về tình hình kinh tế xã hội, hiện trạng nghề nuôi cá bống bớp tại huyện Nghĩa Hưng - Nam Định, giúp ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định định hướng phát triển nuôi cá bống bớp tại Nam Định từ quy mô nhỏ lẻ thành sản xuất hàng hóa tập trung, thân thiện với môi trường và đảm bảo an toàn VSTP, giữ

vững và phát huy nhãn hiệu tập thể” cá Bống bớp Nghĩa Hưng”

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Nam Định

- Tiềm năng, hiện trạng NTTS, nuôi cá bống bớp tại Nam Định

- Đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp bền vững tại tỉnh Nam Định

Trang 14

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Nam Định

1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, giao thông

Vị trí địa lý

Nam Định là tỉnh duyên hải ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ Phía đông nam là biển Đông, phía đông giáp tỉnh Thái Bình, phía tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía bắc giáp tỉnh Hà Nam

chính, bao gồm thành phố Nam Định và 9 huyện, tính từ bắc xuống nam là Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng với

230 xã, phường, thị trấn [13]

Địa hình

Nam Định là tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng thấp trũng và đồng bằng ven biển Khu vực phía Tây Bắc tỉnh tập trung một số ít đồi núi thấp như Bảo Đài, Ngô Xá (còn gọi là Thương Sơn, Mai Sơn – Ý Yên), Côi Sơn (còn gọi là núi Gôi), Non Côi, Hổ Sơn, Kim Bảng nay là Kim Thái, Trang Nghiêm tức núi Ngăm (Vụ Bản) Nam Định có bờ biển dài 72 km từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy, 2 khu vực cửa biển sông Ba Lạt và cửa Đáy là bãi bồi và rừng ngập mặn rất phù hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản mặn lợ [13]

Giao thông

Đường bộ: Quốc lộ 21 từ Hoà Bình qua Phủ Lý tới thành phố Nam Định rồi đi cảng Hải Thịnh (đoạn qua Nam Định dài 75 km) Quốc lộ 10 từ Quảng Yên đi Hải Phòng, Thái Bình qua Nam Định rồi đi Ninh Bình (đoạn qua Nam Định dài 34 km) Tỉnh lộ 12

từ thành phố Nam Định đi Ý Yên dài 20 km Tỉnh lộ 57 từ Cát Đằng đi Yên Thọ (Ý Yên) dài 17 km Tỉnh lộ 55 từ Nam Định đi nông trường Rạng Đông dài 51 km Đường 56 liên tỉnh từ Bình Lục (Hà Nam) đi Gôi (Vụ Bản), qua Liễu Đề (Nghĩa Hưng), Yên Định (Hải Hậu) đến Ngô Đồng (Giao Thuỷ) dài 70 km

Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua Nam Định dài 42km, với các ga:

ga Nam Định là điểm dừng chân của các đoàn tàu tốc hành chạy suốt Bắc Nam, ga Cầu

Họ, ga Đặng Xá, ga Trình Xuyên, ga Gôi, ga Cát Đằng

Đường thuỷ: Hệ thống sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh

Trang 15

với chiều dài 251km cùng với hệ thống cảng sông Nam Định, cảng biển Thịnh Long thuận lợi trong việc phát triển vận tải thuỷ [13]

1.1.2 Khí hậu, sông ngòi, thủy văn

Sông ngòi, thủy văn

Nam Định là vùng đất nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy Sông Hồng chảy vào Nam Định từ xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc qua thành phố Nam Định và các huyện Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ rồi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt, tạo thành địa giới tự nhiên phía đông bắc giữa Nam Định với tỉnh Thái Bình Sông Đáy chảy vào địa phận Nam Định từ xã Yên Phương, huyện Ý Yên qua huyện Nghĩa Hưng rồi đổ ra biển ở cửa Đáy, trở thành địa giới tự nhiên giữa Nam Định với Ninh Bình Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế

độ nhật triều đã bồi tụ tại vùng cửa hai sông tạo nên 2 bãi bồi lớn ven biển là Cồn Lu, Cồn Ngạn (Giao Thuỷ) và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ (Nghĩa Hưng) Ngoài hai con sông lớn, trong tỉnh còn có những chi lưu của sông Hồng chảy sang sông Đáy hoặc đổ ra biển

Từ bắc xuống nam có sông Đào làm địa giới quy ước cho hai vùng Nam Bắc tỉnh, sông Ninh Cơ đổ ra cửa Lác (thường gọi là Gót Chàng), sông Sò (còn gọi là sông Ngô Đồng)

đổ ra cửa Hà Lạn [13]

Khí hậu

Khí hậu Nam Định mang đầy đủ đặc điểm của khu vực tiếp giao giữa nhiệt đới và

ôn đới với 4 mùa trong năm nhưng sự chênh lệch nhiệt độ không quá cao, mùa đông

trung bình: 80–85% Tổng số ngày nắng: 250 ngày Tổng số giờ nắng: 1650–1700 giờ Lượng mưa trung bình: 1.750–1.800 mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa

từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Tốc độ gió trung bình: 2–2,3 m/s Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc

áp thấp nhiệt đới, bình quân 4 - 6 cơn bão/ năm (khoảng từ tháng 7 đến tháng 10)

Lượng bốc hơi trung bình cả năm từ 850870 mm trong đó lượng bốc hơi mùa hè chiếm tới 60% lượng bốc hơi cả năm Lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 7 là 105 mm, tháng 2 có lượng bốc hơi nhỏ nhất 45 mm

Hướng gió thay đổi theo mùa, mùa hè hướng gió thịnh hành là hướng gió Đông và Đông Nam, đầu mùa có thể xuất hiện gió Tây Nam khô, nóng gây ảnh hưởng đến sản

xuất và sinh hoạt Về mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc [13 ]

Trang 16

Các yếu tố thủy lý, thủy hóa tại Nam Định duy trì khá ổn định trong năm, nhiệt độ

là 19,5‰; độ pH trung bình là 7,6; ôxi hòa tan trung bình 5,1mg/l

Bảng 1 1.Diễn biến một số yếu tố thủy hóa, thủy lý của vùng nghiên cứu tỉnh Nam

Định theo các tháng trong năm (Từ năm 2013-2015) [17]

20-29 24.5

23-28 25.5

21-27

24

19-30 24.5

19-25

22

17-24 20.5

16-25 20.5

16-25.5 20.8

23-25 24.3

26-30 28.7

19-24 21.3

16-25 19.7

8-14 10.7

8-12 9.7

12-15 13.7

18-21 19.0

18-24 20.7

19-24 22.0 9.7-29.2

19.5

pH 7,3-8.0

7.6

7.3-8.2 7.8

7.5-8.1 7.6

7.7-8.4 7.9

7.5-8.4 7.9

7.6-8.4 7.8

7.0-8.3 7.6

7.2-8.1 7.7

7.5-8.0 7.4

7.3-8.2 7.5

7.5-8.4 7.8

7.4-8.2 7.7 7.4-7.9

4.9-5.0

5

4.7-5.0 4.9

4.7 -5.2 5.1

4.7-5.2 5.0

4.6-5.3 5.1

4.6-5.2 4.9

4.7-5.0 5.1

4,5-5,0 4.8

4.8-5.2 5.1

4.6-5.3 5.0

4.8-5.3 5.1

Nam Định vốn là vùng sinh trưởng tự nhiên của cá bống bớp, cộng với các điều kiện tự nhiên thuận lợi khác như: Khí hậu phù hợp, hệ thống bãi bồi tại 2 khu vực cửa Đáy của sông đáy và cửa Ba Lạt của sông Hồng có những đặc điểm thổ nhưỡng và nguồn nước đặc biệt thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cá bống bớp tạo điều kiện để

mở rộng và phát triển các khu nuôi tập trung mới Hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thuận lợi có thể dễ dàng vận chuyển sản phẩm từ vùng nuôi đến các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng Nói chung, với những đặc điểm tự nhiên trên là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá bống bớp bền vững tại địa phương, đặc biệt là khu vực được nghiên cứu (huyện Nghĩa Hưng – Nam Định) vốn là nơi có truyền thống nuôi cá bống bớp lâu đời, cá bống bớp thương phẩm tại đây đã dần khẳng định được thương hiệu trong nước cũng như được các bạn hàng Trung Quốc ưa thích

Trang 17

Hình 1 1 Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định

Trang 18

1.2 Đặc điểm sinh học cá bống bớp và phân bố

1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

1.2.1.1 Vị trí phân loại

Bộ cá vược: Perciformes

Bộ phụ cá bống: Gobioidei

Họ cá bống đen: Eleotidae Giống cá bống bớp: Bostrichthys

Loài cá bống bớp: Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801

Hình 1 2 Hình dạng bên ngoài cá bống bớp

Tên tiếng Anh là: Four-eyed sleeper, tên địa phương thường gọi là cá bống bớp, cá bống bốn mắt

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố

Hình thái: Cá bống bớp có thân hình trụ tròn, dài, hơi dẹp hai bên, chiều dài thân

cá gấp 5 lần chiều cao thân Phần lưng cá có màu đen xám, mặt bụng có màu trắng vàng, phía trên của gốc vây đuôi có một chấm đen hình tròn hoặc hình quả trứng ở xung quanh

có viền trắng bao quanh

Toàn thân cá được phủ một lớp vảy nhỏ, trên cơ thể cá luôn tiết ra một chất nhớt Đầu cá bống bớp ngắn, rộng và dẹt, mõm tù, mắt bé, miệng rộng dài đến viền sau của mắt, hàm dưới không nhô ra [10]

Phân bố: Cá bống bớp phân bố ở vùng rừng ngập mặn, khu vực nước lợ ven cửa

sông, nơi có chất đáy là cát bùn Trên thế giới cá bống bớp có phân bố ở Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Australia, Nhật Bản, Xrilanca, Việt Nam, các quần đảo Thái Bình Dương [1]

Trang 19

Hình 1 3 Phân bố cá bống bớp trên thế giới (Aquamaps.org)

Ở Việt Nam, cá bống bớp phân bố tự nhiên, dọc theo bờ biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình và xuất hiện nhiều ở vịnh Bắc Bộ Vùng phân bố tập trung nhiều nhất của cá bống bớp từ cửa Nam Triệu đến cửa sông Ba Lạt

Cá bống bớp tập trung ở vùng bãi triều cửa sông và chủ yếu ở các ao đầm nước lợ, nơi có nhiều phù sa, chúng xuất hiện ở các độ sâu khác nhau trên dưới 1,5m Khi cá bống bớp ở giai đoạn nhỏ, chúng thường sống thành bầy đàn, đến khi lớn hơn ở tuổi thành thục thì chúng sống theo cặp ở trong hang và đôi khi bắt gặp nhiều cặp cùng chung sống trong một hang vào mùa sinh sản Ở ven biển miền Bắc nước ta cá bống bớp phân bố tập trung

ở một số vùng như: Tiên Yên, Quảng Yên (Quảng Ninh), Kiến Thụy, Đình Vũ, Cát Hải,

Đồ Sơn, Tiên Lãng (Hải Phòng), Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng (Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình), Nga Sơn (Thanh Hoá), cửa Sót (Hà Tĩnh) Ở miền Nam nước ta, cá bống bớp phân

bố ở Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và miền Tây Nam bộ nhưng ít hơn về số lượng so với các tỉnh miền Bắc [1]

Trang 20

Hình 1 4 Phân bố cá bống bớp ở Việt Nam (theo SĐVN 2007) Điều kiện phát triển: Cá bống bớp sinh trưởng tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ

trong khoảng từ 2 – 25‰; Độ pH 7 – 8,2; Độ sâu thì có thể sống ở những thủy vực từ 0,2 – 1,5m; Chất đáy bùn cát, cát bùn hoặc bùn sét [10]

Bảng 1 2 Tập tính sống và điều kiện phát triển của cá bống bớp

Cửa sông ven biển

Động vật phù

du, giáp xác cỡ nhỏ, mùn bã hữu cơ

1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản

1.2.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá bống bớp là loài cá dữ, trong tự nhiên cá bắt mồi chủ động, chúng chỉ ăn mồi sống, thức ăn ưa thích của chúng là tôm và các loài giáp xác nhỏ Khi nuôi thương phẩm

Trang 21

trong các ao đầm thì người ta có thể luyện cho chúng ăn thức ăn tự chế biến từ cá tạp,

cám và các chất bổ sung [11]

Thức ăn của cá thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển, giai đoạn nhỏ (2,5cm) cá ăn động vật phù du và ấu trùng động vật, giai đoạn cá (≥ 6cm) cá ăn tôm, cá tạp, động vật giáp xác, động vật thân mềm và có khả năng ăn con mồi mới chết khi thịt còn tươi Sức chứa thức

ăn của cá lớn và có khả năng nuốt con mồi bằng 1/10 khối lượng cơ thể Cá bống bớp có khả

năng nhịn đói dài ngày, sức sống tốt, thuận lợi cho việc vận chuyển sống [10]

Đặc điểm sinh trưởng

Theo Trần Văn Đan (2002), ngoài tự nhiên cá bống bớp có tốc độ tăng trưởng tương

khoảng 130g Trong nuôi thương phẩm hiện nay bằng nhiều các biện pháp chăm sóc người ta đã đưa tốc độ lớn của loài cá này lên cao hơn hẳn so với ngoài tự nhiên, cá 4 tháng tuổi cá có thể đạt từ 8-10cm, 10-12 tháng tuổi có thể đạt bình quân 20-22cm khối lượng đạt 80-100g/con [10]

1.2.2.2 Đặc điểm sinh sản

Nghiên cứu về sinh sản: Li Huimei, Zhang Dan, Shi Pin Hua (1988) cho rằng bãi đẻ

tự nhiên của cá bống bớp không nằm trong vùng nước ngọt Davis (1985) Gareff và Russell (1982) cho rằng đối với cá thì dòng chảy của thuỷ triều, pH, oxy, nhiệt độ nước

và độ mặn là những yếu tố quan trọng, trong đó nhiệt độ và phổ thức ăn ban đầu tại khu vực sinh sản quan trọng hơn cả, thậm chí đóng vai trò quyết định; họ khẳng định rằng vị trí bãi đẻ tự nhiên của cá bống bớp thường là các vùng cửa sông, nơi tiếp giáp giữa môi trường nước mặn và nước ngọt Kungvankij et all (1984), lại cho rằng ở Trung Quốc cá bống bớp thường đẻ theo chu kỳ trăng được thể hiện ở chế độ thuỷ triều, điều này có liên quan mật thiết đến thức ăn của cá do bãi đẻ chính của chúng là vùng cửa sông Điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đáng kể đến thời gian nở của trứng Đi đầu trong nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá bống bớp phải kể đến một số nhà khoa học Trung Quốc như: Lei, 1979; Sha et al, 1966; Chen et al, 1982; và Zhang et al, 1981 các tác giả trên đã nghiên cứu về phôi và ấu trùng cá bống bớp Tuy nhiên, phải đến năm 1984, lần đầu tiên tại Viện Nghiên cứu động vật Trung Quốc, Li Huimei, Zhang Dan và Shi Pinhua mới theo dõi được tương đối đầy đủ quá trình phát triển của phôi, ấu trùng của cá bống bớp, mở ra một hướng mới cho những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo và sản xuất giống của cá

Trang 22

bống bớp Tuy nhiên, những tài liệu về sản xuất đại trà và ổn định giống cá bống bớp cho đến nay vẫn chưa thấy công bố

Mùa vụ sinh sản

Ở Việt Nam, mùa sinh sản của cá bống bớp ngoài tự nhiên từ tháng 3 đến tháng 8 trong năm, cá thường sinh sản tập trung vào tháng 3-4 và tháng 7-8 thời tiết ấm áp, nhiệt

vào mùa sinh sản thường sống từng cặp trong hang, cá sinh sản bằng hình thức thụ tinh ngoài [12]

Sức sinh sản và phát triển phôi

Trong một số nghiên cứu của Trần Văn Đan tại Nam Định năm 2006-2007 đã chỉ ra rằng sức sinh sản thực tế của cá bống bớp cái nằm trong khoảng 15.400-62.000 trứng/cá thể Sức sinh sản tuyệt đối của cá đạt 10.000 trứng/cá thể

Trứng cá bống bớp là trứng dính nên cá đẻ trứng và ấp trứng trong hang Thời gian

bớp sẽ nở sau khi đẻ 3-5 ngày Ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 3 ngày đầu, sau đó bắt đầu dinh dưỡng ngoài Giai đoạn cá mới nở thức ăn chính của ấu trùng là các loài động vật phù du cỡ nhỏ, cá con nở ra thường kiếm mồi khu vực gần hang và được bố

mẹ bảo vệ Cá bống bớp nhỏ ăn luân trùng và Copepoda sau đó ăn ấu trùng tôm cá và giáp xác, cá giống cho sinh sản nhân tạo có thể luyện ăn thức ăn công nghiệp [12]

1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp trên thế giới

Trên thế giới một số nước đã nuôi cá bống bớp thương phẩm kể đến như : Đài Loan; Trung Quốc; Nhật Bản Tuy nhiên đến nay có rất ít thông tin cũng như thống kê về tình hình nuôi cá bống bớp trên thế giới [12]

Về sản xuất giống Trung Quốc là nước thực hiện việc sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các bống bớp sớm nhất vào khoảng những năm 1990-1992 Ngoài ra còn ghi nhận một số nước khác cũng đã sản xuất giống thành côn nhưng so với nhiều đối tượng nuôi lợ mặn khác thì các công trình nghiên cứu về sản xuất giống của cá bống bớp khá hạn chế

Đi đầu trong công tác nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cũng như dinh dưỡng trong sản xuất giống nhân tạo phải kể đến các nhà nghiên cứu người Trung Quốc như Lei, 1979; Sha, 1966; Chen, 1982; He, 1982; Zhang Dan, 1981 Các tác giả trên đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu các giai đoạn cũng như chế độ sinh dưỡng của ấu trùng cá

Trang 23

bống bớp, tạo tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo sau này Tuy nhiên, do điều kiện tiếp cận chưa được hoàn thiện cũng như các tài liệu nghiên cứu sản xuất giống đại trà và ổn định không được công bố rộng rãi nên hiện tại vẫn chưa có cơ sở vững chắc về việc sản xuất giống cá bống bớp trên thế giới

1.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá bống bớp ở Việt Nam

Tình hình nuôi cá bống bớp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cá bống bớp được nuôi từ những năm 1989-1990 tại vùng ven biển Nghĩa Hưng – Nam Định Tuy nhiên quy mô vô cùng nhỏ lẻ và nguồn con giống cũng là nguồn giống đánh bắt ngoài tự nhiên Phải đến khoảng những năm 2004-2005, sau khi Trần Văn Đan thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo cá bống bớp thì nghề nuôi

cá bống bớp mới thực sự phát triển

Hiện nay thì đã có 5 tỉnh thành ở khu vực vịnh Bắc Bộ (Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh) đã triển khai nuôi thương phẩm cá bống bớp trên quy mô lớn ở một vài địa phương Trong đó tỉnh Nam Định mà đại diện là huyện Nghĩa Hưng được coi là địa phương nuôi cá bống bớp nhiều nhất cả nước Riêng huyện Nghĩa Hưng đã có diện tích nuôi cá bống bớp lên tới 400ha (chiếm 99,2% diện tích toàn tỉnh Nam Định), sản lượng năm 2015 đạt 1.625 tấn [8]

Về sản xuất giống: Từ khi cá bống bớp được đưa vào nuôi trong ao đất, nguồn cá bống bớp giống cung cấp cho nuôi thương phẩm được lấy đánh bắt ngoài tự nhiên và quy

mô nuôi cũng rất nhỏ lẻ Sau này, khi giá trị nuôi thương phẩm có được sự ổn định, đem lại thu nhập cao cho người nuôi thì quy mô nuôi mới được mở rộng Do nhu cầu con giống ngày càng cao nên người ta đã tiến hành sản xuất giống cá bống bớp trong môi trường nhân tạo [12]

Các bước tiến đột phá trong công nghệ sản xuất giống nhân tạo ở Việt Nam bắt đầu

từ những năm 1996 khi Đỗ Đoàn Hiệp cũng cộng tác viên đã sử dụng dụng kích dục tố để kích thích cá bông bớp sinh sản trong môi trường nhân tạo và đã thu được cá bột (theo tạp chí Khoa học công nghệ, 1998) Nhưng phải đến năm 2006, Trần Văn Đan mới nghiên cứu thành công và hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá bống bớp, đồng thời đã chuyển giao công nghệ cho các trại giống ở Quảng Ninh, Nam Định,….Cho đến nay, mặc dù đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu cải tiến nhằm tăng hiệu quả sản xuất giống nhưng cơ bản vẫn áp dụng theo nên tảng công nghệ sản xuất giống mà Trần Văn Đan đã nghiên cứu hoàn thiện

Trang 24

Cá bống bớp là loài khá dễ sinh sản trong môi trường ao nuôi bình thương Cá bố

mẹ đã thành thục đánh bắt ngoài tự nhiên có thể sinh sản trong ao nuôi mà không cần phải sử dụng các loại thuốc kích thích cơ bản khác Tuy nhiên, để tăng tỉ lệ sinh sản cũng như sự đồng đều trong sinh sản, các trại sản xuất giống vẫn sử dụng phương pháp tiêm kích dục tố Có hai phương pháp sản xuất giống cá bống bớp: Sản xuất giống trong ao đất

và sản xuất giống trong bể Trong đó sản xuất trong bể là chủ yếu, sản suất trong ao đất hầu như không còn được áp dụng

Hiện nay, việc sản xuất giống nhân tạo cá bống bớp đã rất phổ biển trên nhiều tỉnh thành ven biển Những tỉnh sản xuất giống nhiều nhất có thể kể đến như Nam Định (trọng điểm tại huyện Nghĩa Hưng), Quảng Ninh, Thanh Hóa Nhiều tỉnh khác cũng đã và đang tiến hành sản xuất nhân tạo giống cá bống bớp và bước đầu thu được nhiều kết quả khả quan như Nghệ An, Ninh Bình Tuy nhiên sản lượng cá giống vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm, nhất là đối với các vùng nuôi trọng điểm như huyện Nghĩa Hưng- Nam Định Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ sống khi ương nuôi từ giai đoạn ấu trùng lên cá bột khá thấp, theo nghi nhận tại các trại giống ở tỉnh Nam Định thì

tỷ lệ sống khi ương lên cá bột lên cá hương chỉ đạt khoảng 20% Trong khi đó tỷ lệ sống khi ương từ cá hương lên cá giống cũng chỉ đạt trên 40%

Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng

Cá bống bớp là loài cá dữ bắt mồi chủ động, ngoài tự nhiên cá bống bớp chủ yếu ăn các loại giáp xác và cá nhỏ Trong môi trường nuôi nhân tạo, người nuôi cho cá bống bớp

ăn thức ăn tự chế biến từ cá tạp và bột cám Tuy đã được nuôi khá lâu nhưng hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thống và chi tiết nào về nhu cầu dinh dưỡng của cá bống bớp Các nghiên cứu cơ bản như Nguyễn Nhật Thi (1978); Trần Văn Đan (1995); Đỗ Văn Khương (1997) cho rằng cá bống bớp là loài cá dữ bắt mồi chủ động, có thể ăn mồi chết còn tươi Điều này gây khó khăn trong việc lựa chọn và điều chỉnh hệ số dinh dưỡng của cá trong giai đoạn ương nuôi cũng như trong nuôi thương phẩm Đối với người nuôi

cá bống bớp trên địa bàn, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và thói quen dinh dưỡng của cá đồng thời kết hợp với việc quan sát sức sinh trưởng cũng như khả năng bắt mồi của cá nuôi

Sử dụng thức ăn nhân tạo

Trong sản xuất giống nhân tạo, các nhà sản xuất đang sử dụng các loại thức ăn nhân tạo của các loài cá biển khác vì vẫn chưa có sản phẩm thức ăn công nghiệp nào chuyên

Trang 25

dùng cho sản xuất giống cá bống bớp

Trong nuôi thương phẩm, cho đến nay vẫn chưa ghi nhận có loại thức ăn nhân tạo là thức ăn công nghiệp được các công ty, các hãng sản xuất chuyên dùng cho nuôi thương phẩm cá bống bớp Hiện tại thì thức ăn sử dụng trong nuôi thương phẩm cá bống bớp là thức ăn tự chế biến tại chỗ bằng cá tạp và cám

Thức ăn tự chế biến tại chỗ từ các nguyên liệu có sẵn ở các địa phương: cám gạo, cám ngô, bột sắn, cá tạp, tép, moi bổ xung thêm các loại Vitamin và khoáng chất Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, giá thành rẻ Tuy nhiên, thức ăn tự phối chế theo kinh nghiệm, nguyên liệu không được kiểm tra chất lượng dinh dưỡng thường xuyên nên khó đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng Loại thức ăn này không nổi, dễ hòa tan nếu không

có chế độ cho ăn thích hợp sẽ làm môi trường nước ao nuôi nhanh chóng ô nhiễm Đây là một trong những khó khăn lớn nhất đối với sự phát triển mở rộng và bền vững của nghề nuôi cá bống bớp

1.5 Thị trường tiêu thụ cá bống bớp

Thị trường Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc cũng là quốc gia sản xuất cá bống bớp, song do nhu cầu tiêu thụ cá bống bớp trong nước cao, sản lượng trong nước không đáp ứng nhu cầu nên Trung Quốc đã phải nhập khẩu cá bống bớp Tuy vậy, hiện tại việc suất khẩu cá bống bớp qua Trung Quốc vẫn chỉ thực hiện qua con đường tiểu ngạch Các đại lý chủ yếu liên hệ với

Trang 26

các thương lái để xuất khẩu mà chưa thực hiện xuất khẩu theo con đường chính ngạch Theo nghi nhận thì khoảng 60% sản lượng cá bống bớp thương phẩm trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng được các đại lý thu mua suất khẩu qua Trung Quốc

Thị trường khác

Theo ghi nhận thì hiện nay ngoài xuất khẩu cá bống bớp theo con đường tiểu ngạch qua Trung Quốc thì đã có một số đại lý chuyên về cá bống bớp đang tìm cách và thúc đẩy xuất khẩu cá bống bớp qua các thị trường khác như Thái Lan và các nước ASIAN khác Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa ghi nhận thông tin chính thức về việc xuất khẩu thành công cá bống bớp qua các thị trường này

Thị trường tiêu thụ cá bống bớp tại Việt Nam

Cá bống bớp là loài đặc biệt khỏe, có khả năng nhịn đói nhiều ngày, có thể sống trong vòng 1 tuần mà không cần ăn, cá có thể hô hấp qua da nên trong quá trình vận chuyển chỉ cần giữ ẩm cho cá mà không cần giữ cá trong nước Vì vậy cá sống có thể dễ dàng vận chuyển xa Các đầu mối tiêu thụ thường là các chợ đầu mối, các nhà hàng khách sạn tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và các khu du lịch miền Bắc

Giá cá bống bớp thương phẩm

Trong 4 năm trở lại đây, giá cá bống bớp thương phẩm hầu như không biến động nhiều, do giá thành sản xuất cao và nhu cầu từ thị trường lớn nên giá cá bống bớp thương phẩm trong nước hiện tại dao động từ 180.000-270.000đ/kg tùy vào kích thước cũng như chất lượng và thời điểm thu hoạch

Trang 27

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá bống bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801), tên Việt Nam thường gọi là cá

bống bớp hoặc cá bống bớp 4 mắt

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu tại 2 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định:

Xã Nghĩa Hải, xã Nam Điền, thị trấn Rạng Đông

Hình 2 1 Địa điểm vùng nghiên cứu

Địa điểm điều tra tình hình thị trường tiêu thụ bống bớp tại Nam Định: Điều tra thị trường tiêu thụ được tiến hành tại các cơ sở và đại lý thu mua trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng

Địa điểm điều tra hiện trạng sản xuất giống: Chọn 3 cơ sở sản xuất giống trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng:

- Trại SX giống hải sản Hoàng Văn Minh

Trang 28

- Trại SX giống hải sản Phạm Văn Thái

- Trại SX giống hải sản Nguyễn Văn Trào

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên từ tháng 03 đến tháng hết tháng 11 năm 2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập số liệu thứ cấp: Thông qua các cơ quan, ban ngành địa phương như các

báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản của Bộ, Tổng cục Thủy sản và của sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản, UBNN huyện Nghĩa Hưng, Niên giám thống kê, các huyện, thị

và thành phố trên địa bàn tỉnh; khai thác thông tin trên các trang Web…

Các chỉ tiêu thu thập: (i) Điều kiện tự nhiên: tìm hiểu và thu thập về vị trí địa lý,

Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá bống bớp

bền vững tại tỉnh Nam Định

Hiện trạng kinh tế,

xã hội, tỉnh Nam Định

Tiềm năng, hiện trạng NTTS, nuôi cá

kỹ thuật nuôi thương phẩm

Hiện trạng con giống

Kết luận và khuyến nghị

Tiêu thụ sản phẩm

Hiệu quả kinh tế nuôi cá bống bớp

Đánh giá và đề xuất giải pháp nuôi bền vững

Trang 29

điều kiện thời tiết khí hậu, thời tiết, địa hình; (ii) Điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu kinh

tế, dân số, lao động, cơ sở hạ tầng (iii) Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá bống bớp: diện tích nuôi, kỹ thuật nuôi, hình thức nuôi, thị trường tiêu thụ, thị trường con giống (iv) Những thuận lợi, khó khăn, kiến nghị của người nuôi các nhà quản lý và hướng phát triển nghề nuôi cá bống bớp tại tỉnh Nam Định

Thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân

nuôi cá bống bớp, cơ sở sản xuất giống, các công ty chế biến xuất khẩu và người tiêu thụ sản phẩm cá bống bớp tại địa phương, dựa trên phiếu điều tra

Phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nuôi cá bống bớp trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định bằng phiếu và phỏng vấn thêm các thông tin liên quan nhằm tìm hiểu và đánh giá đúng hiện trạng nghề nuôi cá bống bớp tại địa phương Phỏng vấn 3 trại sản xuất giống trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng nhằm tìm hiểu về hiện trạng sản xuất sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Nam Định

Phỏng vấn trực tiếp 3 chủ cơ sở thu mua cá bống bớp để tìm hiểu về hiện trạng tiêu thụ sản phẩm cá bống bớp

Nội dung thu thập: Thông tin về chủ hộ (chủ trại SX giống, chủ cơ sở thu mua) Hiện trạng kỹ thuật, con giống, diện tích, hiệu quả kinh tế, thị trường tiêu thụ, các khó khăn thường gặp, kiến nghị của hộ nuôi Qua đó đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi cá bống

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

- Phương pháp chọn mẫu hộ:

Chọn mẫu nghiên cứu cho vùng nghiên cứu: Chọn 3 địa phương đại diện, bao gồm: Thị trấn Rạng Đông, xã Nam Điền và xã Nghĩa Hải của huyện Nghĩa Hưng Các hộ nuôi

sẽ được chọn nghiên cứu đại diện, với 20 hộ cho mỗi xã

+ Chọn hộ: Số lượng hộ mẫu điều tra tại các xã mẫu như sau:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn mẫu hộ, cụ thể như sau:

+ Bước 1: Lập bảng kê hộ nuôi các đối tượng chọn điều tra trong xã mẫu và sắp

xếp thứ tự hộ theo quy mô diện tích từ lớn nhất đến nhỏ nhất

+ Bước 2: Căn cứ vào danh sách hộ nuôi trong bảng kê đã được lập, tính khoảng

cách chọn hộ (k) theo công thức:

Trang 30

Sử dụng phần mềm Excel của Microsoft Office để chọn ra ngẫu nhiên một hộ nằm trong khoảng cách đầu chọn hộ theo câu lệnh tại một ô bất kỳ trên bảng tính Excel như sau:

=RANDBETWEEN(1,k) Trong đó: k là khoảng cách chọn hộ được xác định theo công thức trên

Các hộ tiếp theo được chọn bằng cách cộng khoảng cách k; Giả sử hộ đầu tiên được chọn là hộ có số thứ tự 12 thì các hộ được chọn tiếp theo là: 12+k, 12+2k, 12+3k,

Trường hợp trong thời gian điều tra hộ được chọn khi điều tra không có ở địa phương vì một lý do nào đó hoặc từ chối trả lời các câu hỏi điều tra thì chọn hộ sát trên hoặc sát dưới trong danh sách để thay thế hộ đó

- Điều tra cơ sở sản xuất giống: Đề tài điều tra đại diện 03 cơ sở sản xuất giống cá bống

bớp có sản lượng cao nhất trên địa bàn tỉnh

=

Số hộ mẫu

Trang 31

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng kinh tế xã hội

3.1.1 Cơ cấu kinh tế

Tỉnh Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, có nền sản xuất công nghiệp phát triển tương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, là một trong những trung tâm dệt may hàng đầu của cả nước

Năm 2015 Cơ cấu kinh tế là: Nông lâm thuỷ sản: 24%; Công nghiệp, xây dựng: 41%; Dịchvụ: 35% [8]

Năm 2016 Cơ cấu kinh tế là: Nông lâm thuỷ sản: 23%; Công nghiệp, xây dựng: 42%; Dịchvụ: 35% Định hướng phát triển kinh tế dần về hướng công nghiệp và dịch vụ [8]

Ngành nông, lâm, thuỷ sản: Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển khá, ổn định, vững chắc Sản xuất nông lâm thủy sản tuy có giảm về thị phần trong cơ cấu nhưng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản vẫn tăng (giá trị sản xuất nông lâm thủy sản năm 2016 đạt 18.407 tỷ đồng tăng 2,5% so với năm 2015) [8]

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Năm 2016, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 43.230 tỷ đồng (giá cố định 2010), tăng 12,4% so với năm 2015 Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng lên đáng kể góp phần vào tăng trưởng chung của toàn ngành Các khu, cụm công nghiệp được mở rộng [8]

Dịch vụ: hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, thị trường ngày càng được mở rộng, lưu thông hàng hoá thông suốt, đa dạng, phong phú với chất lượng ngày một tăng, mẫu mã đẹp, giá ổn định đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu phát triển kinh tế và tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh Hệ thống chợ phân bố với mật độ khá hợp lý theo quy mô dân số

Nam Định hiện có 3 khu du lịch biển là khu du lịch biển Quất Lâm, khu du lịch biển Hải Thịnh và khu du lịch sinh thái Rạng Đông Tuy nhiên khách du lịch đến Nam Định chủ yếu là khách du lịch nội địa với số lượng khách du lịch đến còn rất hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch sẵn có của tỉnh Sản phẩm du lịch và dịch vụ còn đơn điệu, chủ yếu khai thác những cái sẵn có, chưa được đầu tư đồng bộ nên chưa tạo được những sản phẩm thực sự hấp dẫn du khách Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật tuy đã được

Trang 32

đầu tư nhưng còn nhiều bất cập

Các dịch vụ khác như: Vận tải, bưu chính - viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn pháp luật, dịch vụ kỹ thuật, y tế, giáo dục - đào tạo, phục vụ đô thị đều có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, phục

vụ sinh hoạt đời sống nhân dân

Các lĩnh vực văn hoá-xã hội: Giáo dục-đào tạọ, y tề, Văn hoá-thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao đều có bước phát triển mới, đặc biệt ngành giáo dục đào tạo luôn giữ vững lá cờ đầu cả nước trong nhiều năm

Kết cấu hạ tầng đã được đầu tư đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

3.1.2 Dân số - lao động

Theo Cục thống kê Nam Định, dân số tỉnh Nam Định năm 2014 là 1850,6 nghìn

Có tới 46,3% người lao động trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi) tham gia làm việc trong ngành nông nghiệp Đây vừa là nguồn lực cho phát triển ngành nông nghiệp nói chung và NTTS nói riêng, tuy nhiên đó cũng là thách thức đối với cả những nhà quản lý và người lao động trực tiếp, làm sao để nâng cao chất lượng đời sống người làm nghề nông nhưng vẫn đảm bảo chính sách phát triển kinh tế chung toàn tỉnh Trong những năm tới khi nghề NTTS phát triển sẽ khó khăn để tìm nguồn lao động có trình độ cao do hầu hết lao động trẻ đều có hướng tham gia vào các lĩnh vực khác như công nghiệp và dịch vụ [14]

Trang 33

Bảng 3 1 Cơ cấu lao động tỉnh Nam Định

(Lao động và cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo

ngành kinh tế của tỉnh Nam Định)

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa

Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý Nhà

Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản

Đơn vị tính:

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2014)

Trang 34

3.2 Tiềm năng, hiện trạng NTTS tỉnh Nam Định

Nam Định là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng có khả năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước: mặn, lợ và ngọt Với hệ thống sông ngòi tương đối đa dạng gồm nhiều con sông lớn cũng như các chi, nhánh nhỏ khác nhau tạo nên một hệ thống mặt nước lớn cũng như đa dạng về loại hình Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản

Tuy nhiên, từ năm 2010 trở về đây, diện tích nuôi trồng thủy sản nói chung có chiều hướng không tăng thêm hoặc tăng rất ít Năm 2011, diện tích toàn tỉnh là 15.620ha, năm

2015 là 15.869ha Như vậy là chỉ tăng 249ha trong vòng 5 năm và đến năm 2016 đã ngừng mở rộng và có xu hướng giảm do đất NTTS đang bị thu hẹp để dành chỗ cho các

dự án Khu công nghiệp Điều đó đặt ra thách thức rất lớn cho các nhà quản lý về các vấn

đề quy hoạch phát triển hài hòa giữa phát triển công nghiệp với đất dành cho nông nghiệp nói chung và NTTS nói riêng [7]

Về cơ cấu, hiện nay tại Nam Định hoạt động NTTS diễn ra rất sôi động, các đối tượng nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá song, ngao trắng Bến Tre, cá bống bớp, các loài cá nước ngọt truyền thống Cá bống bớp, tôm thẻ chân trắng được đưa vào

ưu tiên phát triển trong Đề án tái cơ cấu ngành NN&PTNT giai đoạn 2014-2020 Tuy nhiên các hoạt động NTTS tai Nam Định còn phát triển theo hướng tự phát ảnh hưởng lớn bởi quy luật cung cầu của thị trường, một số phát triển không theo quy hoạch hoặc quy hoạch không theo kịp sự phát triển do vậy rất cần có quy hoạch chi tiết cho NTTS để hoạt động NTTS có được một hướng đi phù hợp và phát triển bền vững

Không chỉ phát triển về NTTS, Nam Định còn rất phát triển về khai thác thủy sản, sản lượng khai thác năm 2015 đạt 44.579 tấn, năm 2016 ước đạt 46.560 tấn trong đó tỷ lệ

cá tạp, cá mồi chiếm rất cao khoảng 34.000 tấn Đây chính là nguồn cung cấp thức ăn chính cho hoạt động nuôi trồng thủy sản nói chung cũng như nuôi cá bống bớp nói riêng trên địa bàn tỉnh [8]

Trang 35

Bảng 3 2 Kết quả NTTS tỉnh Nam Định năm 2016 [7]

1 Sản xuất giống thủy sản Tr con 11.000 11.002 100,02 11.060

Đơn vị tính

Tỷ lệ % so với KH

năm 2016

Thực hiện năm 2016

3.3 Hiện trạng nuôi cá bống bớp tỉnh Nam Định

Nuôi cá bống bớp trên địa bàn tỉnh Nam Định đã có truyền thống từ lâu, nhưng đặc biệt phát triển mạnh từ năm 2008 đến nay Năm 2012 diện tích nuôi cá bống bớp toàn

Trang 36

tỉnh là 180ha, đến năm 2015 đã là 403ha chiếm 6.3% tổng diện tích nuôi mặn lợ Tuy nhiên, đến năm 2016 thì giảm mạnh chỉ còn 303ha [5], [6], [7], [9]

3.3.1 Diện tích, sản lượng, độ tuổi và trình độ người nuôi cá bống bớp

3.3.1.1 Diện tích và sản lượng nuôi cá bống bớp

Tổng diện tích nuôi cá bống bớp năm 2015 là 403 ha năng suất bình quân đạt 4 tấn/ha, tổng sản lượng đạt 1.625 tấn tăng 39% so với năm 2014 Riêng huyện Nghĩa Hưng có tổng diện tích nuôi 400 ha, tổng sản lượng 1.600 tấn Tuy nhiên, theo báo cáo sơ

bộ tình hình NTTS năm 2016 của Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định thì diện tích nuôi cá bống bớp giảm chỉ còn 303ha trong đó huyện Nghĩa Hưng còn 300 ha, sản lượng ước đạt chỉ là 970 tấn, trong đó diện tích huyện Nghĩa Hưng còn 300ha [6], [7], []

Bảng 3 3 Diện tích, sản lượng nuôi cá bống bớp năm 2015 - 2016

là do huyện Nghĩa Hưng đang cho tiến hành xây dựng nhiều dự án cụm công nghiệp trên địa bàn các các xã ven biển làm thu hẹp diện tích NTTS nói chung và diện tích nuôi cá bống bớp nói riêng Riêng phần diện tích ao nuôi cá bống bớp bị giải tỏa đều là những khu vực có điều kiện nuôi đặc biệt thuận lợi với sản lượng trung bình hàng năm đều cao hơn nhiều khu vực khác Nguyên nhân này cho thấy việc giảm diện tích kéo theo giảm sản lượng nuôi cá bống bớp không phải là những nguyên nhân liên quan đến dịch bệnh,

kỹ thuật, thị trường Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho cơ quan quan lý các cấp về hướng đi cũng như quy hoạch phát triển cân bằng giữa nghề NTTS và các ngành nghề khác

Ngày đăng: 19/11/2017, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w