1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của các gia đình tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) từ nhóm tôm chọn giống và nhóm tôm tự nhiên tại trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt nam bộ

92 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN VĂN HIỆP ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁC GIA ĐÌNH TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii TỪ NHÓM TÔM CHỌN GIỐNG VÀ N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN HIỆP

ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁC GIA ĐÌNH TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)

TỪ NHÓM TÔM CHỌN GIỐNG VÀ NHÓM TÔM TỰ NHIÊN TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG THỦY SẢN

NƯỚC NGỌT NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN HIỆP

ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁC GIA ĐÌNH TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)

TỪ NHÓM TÔM CHỌN GIỐNG VÀ NHÓM TÔM TỰ NHIÊN TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG THỦY SẢN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN VĂN MINH

TS TRỊNH QUỐC TRỌNG

Chủ tịch hội đồng:

Khoa sau đại học:

KHÁNH HÒA, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá tăng trưởng và tỉ lệ sống của các gia đình

tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1897) từ nhóm chọn giống và nhóm tự nhiên tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ” nằm trong

khuôn khổ của dự án “Hoàn thiện quy trình chọn giống tôm càng xanh

(Macrobrachium rosenbergii) theo tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống” Các số liệu,

kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 03 tháng 03 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 2 và dự án “Hoàn thiện quy trình chọn

giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) theo tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ

sống”đã cho tôi tham gia và sử dụng một phần số liệu của dự án làm đề tài tốt nghiệp cao học Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS NGUYỄN VĂN MINH và TS TRỊNH QUỐC TRỌNG đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến chủ nhiệm dự án ông Nguyễn Thanh Vũ cùng tất cả anh chị em tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ đã chia sẽ và giúp đỡ cho tôi

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 03 tháng 03 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hiệp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 4

1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái 4

1.1.2 Đặc điểm phân bố, môi trường và vòng đời tôm càng xanh 6

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng tôm càng xanh 8

1.1.4 Đặc điểm sinh sản 9

1.1.4.1 Phân biệt giới tính 9

1.1.4.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm càng xanh 10

1.1.4.3 Phát triển phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh 11

1.1.5 Môi trường sống của ấu trùng tôm càng xanh 13

1.1.5.1 Nhiệt độ 13

1.1.5.2 Độ pH 14

1.1.5.3 Độ mặn 14

1.1.5.4 Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 14

1.1.5.5 Hàm lượng ammonia (NH3-N) 15

1.1.5.6 Hàm lượng nitrite (NO2--N) 15

1.1.5.7 Ánh sáng 16

1.2 Quy trình kĩ thuật ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh 16

1.2.1 Quy trình nước trong hở 16

1.2.2 Quy trình nước trong tuần hoàn 17

1.2.3 Quy trình nước xanh 17

Trang 6

1.3 Nuôi tôm càng xanh thương phẩm 18

1.3.1 Nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa 18

1.3.2 Nuôi tôm càng xanh trong đăng quầng 18

1.3.3 Nuôi tôm càng xanh trong ao 19

1.4 Nghiên cứu về chọn giống trong nuôi trồng thủy sản 20

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 24

2.2.2 Ghép cặp sinh sản ở các nhóm gia đình tôm 25

2.2.3 Ương tôm các nhóm gia đình đến kích cỡ đánh dấu 26

2.2.3.1 Ương từ ấu trùng lên postlarvae theo quy trình nước trong 26

2.2.3.2 Ương từ postlarvae đến kích cỡ đánh dấu 26

2.2.4 Đánh dấu và nuôi tăng trưởng 27

2.2.5 Thu thập và xử lý số liệu 29

2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong quá trình ương nuôi tôm càng xanh 32 3.1.1 Nhiệt độ 32

3.1.2 Độ pH 33

3.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan 34

3.1.4 Hàm lượng NH3 và NO2 34

3.1.5 Ánh sáng 36

3.2 Đánh giá tăng trưởng của các nhóm gia đình tôm càng xanh 36

3.2.1 Ghép cặp cho sinh sản ở các gia đình tôm càng xanh 36

3.2.2 Ương các nhóm gia đình tôm càng xanh 39

3.2.2.1 Uơng từ ấu trùng lên postlarvae 39

3.2.2.2 Uơng postlarvae đến kích cỡ 2-5 g/con 40

3.2.3 Đánh dấu các nhóm gia đình 43

Trang 7

3.2.4 Nuôi tăng trưởng các nhóm gia đình tôm càng xanh 43

3.3 Tỉ lệ sống các nhóm gia đình 50

3.3.1 Tỉ lệ sống giai đoạn ương PL của các nhóm tôm gia đình 50

3.3.1.1 Tỉ lệ sống giai đoạn ương PL trong bể compsite 50

3.3.1.2 Tỉ lệ sống giai đoạn ương trong giai của các nhóm gia đình 51

3.3.2 Tỉ lệ sống các nhóm tôm gia đình nuôi chung 52

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53

Kết luận 53

Đề xuất 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

MỘT SỐ DỤNG CỤ CHO TÔM ĐẺ, ẤP VÀ ƯƠNG 64 PHỤ LỤC I Phụ lục 1: Môi trường ao nuôi tôm tăng trưởng I Phụ lục 2: Thu hoạch tôm VII Phụ lục 3: Kết quả phân tích trên R IX

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU

ADGw: (Average Daily Growth Weight) Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng AL: (Abdominal length) Chiều dài thân tôm từ giáp đầu ngực đến

đầu testson AW: (Width of second abdominal segment) Chiều rộng thân ở đốt thứ 2

CL: Carapace Length Chiều dài giáp đầu ngực đến hóc mắt CV: (coefficient of variation) Hệ số biến thiên

SGRw: (Specific Growth Rate of Weight) Tăng trưởng đặc trưng về khối lượng

SL (Standard length) Chiều dài chuẩn tính từ hốc mắt đến đầu

telson

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh 12

Bảng 3.1 Khối lượng trung bình tôm mẹ trước khi nở, sau khi nở và ấu trùng 38

Bảng 3.2 Tỉ lệ chuyển postlarvae của các nhóm gia đình tôm 40

Bảng 3.3 Kết quả ương tôm postlarvae trong bể và giai 41

Bảng 3.4 Số lượng đánh dấu và khối lương trung bình các nhóm gia đình tôm 43

Bảng 3.5 Khối lượng tôm càng xanh trong các nhóm gia đình theo thời gian nuôi 44

Bảng 3.6 Khối lượng trung bình tôm thu hoạch của các nhóm gia đình 44

Bảng 3.7 Tỉ lệ % kiểu hình các nhóm tôm 45

Bảng 3.8 Khối lượng trung bình theo kiểu hình tôm cái và đực của các nhóm tôm 46

Bảng 3.9 Chiều dài giáp đầu ngực tôm cái và đực theo kiểu hình của các nhóm tôm 47 Bảng 3.10 Chiều dài thân tôm cái và đực theo kiểu hình của các nhóm gia đình 47

Bảng 3.11 Chiều rộng giáp đầu ngực tôm cái và đực theo kiểu hình 48

Bảng 3.12 Chiều rộng thân tôm cái và đực theo kiểu hình 48

Bảng 3.13 Chiều giáp đầu ngực, chiều dài thân, bề rộng giáp đầu ngực và bề rộng thân 49

Bảng 3.14 Tỉ lệ sống giai đoạn ương trên bể compsite 50

Bảng 3.15 Tỉ lệ sống (%) giai đoạn ương trong giai từ PL 30 đến 3-5 g/con 51

Bảng 3.16 Tỉ lệ sống (%) của các nhóm gia đình 52 Bảng 1 Sự khác biệt về khối lượng tôm mẹ ôm trứng của 4 nhóm gia đình IX Bảng 2 Sự khác biệt về khối lượng tôm mẹ sau khi nở của 4 nhóm gia đình IX Bảng 3 Sự khác biệt khối lượng ấu trùng trung bình (g) của 4 nhóm tôm IX Bảng 4: Sự khác biệt số lượng ấu trùng/tôm mẹ X Bảng 5 Sự khác biệt tỉ lệ chuyển PL của 4 nhóm gia đình X Bảng 6 Sự khác biệt khối lượng PL ương trên bể mg/con X Bảng 7 Sự khác biệt khối lương tôm sau 1 tháng nuôi trong giai của các nhóm gia đình X Bảng 8: Sự khác biệt tố độ tăng trưởng tuyệt về khối lượng đối sau 1 tháng nuôi giai X Bảng 9: Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng đặc trưng sau 1 thánh nuôi trong giai XI Bảng 10: Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng đặt trương về khối lượng sau 2 tháng nuôi trong giai XI

Trang 11

Bảng 11 Sự khác biệt khối lượng tôm sau 2 tháng nuôi trong giai của các nhóm tôm gia đình XIBảng 12 Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của các nhóm tôm sau 2 tháng nuôi trong giai XIIBảng 13 Sự khác biệt khối lượng tôm đánh dấu của các nhóm gia đình XIIBảng 14 Sự khác biệt khối lượng tôm thu hoạch của các nhóm gia đình XIIBảng 15 Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của các nhóm tôm XIIBảng 16 Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng của các nhóm tôm XIIIBảng 17 Sự khác biệt chiều dài trung bình giáp đầu ngực của các nhóm tôm XIIIBảng 18 Sự khác biệt bề rộng trung bình giáp đầu ngực của các nhóm tôm XIIIBảng 19 Sự khác biệt chiều dài trung bình thân tôm của các nhóm gia đình XIIIBảng 20 Sự khác biệt bề rộng trung bình thân tôm của các nhóm gia đình XIVBảng 21 Sự khác biệt tỉ lệ sống của các nhóm tôm giai đoạn ương trên bể XIVBảng 22 Sự khác biệt tỉ lệ sống của các nhóm tôm giai đoạn ương trong giai XIVBảng 23 Sự khác biệt tỉ lệ sống của các nhóm tôm giai đoạn nuôi chung XIV

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.0 Sản lượng tôm càng xanh thế giới qua từng năm [92] 1

Hình 1.1 Hình tôm càng xanh 5

Hình 1.2 Hình thái tôm càng xanh [61] 6

Hình 1.3 Các quốc gia có tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii phân bố[93] 7

Hình 1.4 Vòng đời tôm càng xanh [66] 8

Hình 1.5 Cấu tạo tuyến sinh dục tôm càng xanh giải phẩu [66] 10

Hình 1.6 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng [87] 13

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 24

Hình 2.2 Đánh dấu tôm 28

Hình 2.3 Các chỉ tiêu đo trên tôm thu hoạch 30

Hình 3.1 Nhiệt độ môi trường nước trong các giai đoạn nuôi tôm càng xanh 32

Hình 3.2 Giá trị pH nước ở các giai đoạn nuôi 33

Hình 3.3 Hàm lượng oxy hòa tan môi trường thí nghiệm 34

Hình 3.4 Hàm lượng NH3 và NO2 ở các gia đoạn nuôi 36

Hình 3.5 Cho tôm nở 64

Hình 3.6 Ương từ ấu trùng lên post 64

Hình 3.7 Ương tôm post trong giai 64

Hình 3.8 Thu hoạch tôm 64

Hình 3.9 Cân đo tôm 65

Hình 3.10 Đo tôm khi thu hoạch 65

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Thí nghiệm đánh giá tăng trưởng của nhóm tôm chọn giống và tôm tự nhiên được thực hiện trong một ao 2.000 m2 ở mật độ nuôi 5,3 con/m2 Từ 2 nhóm ban đầu là tôm chọn giống (nhóm CG) thế hệ thứ 6 của dự án tại Viện NTTS II khối lượng 32 – 62 g/con và tôm càng xanh tự nhiên tại Bến Tre (nhóm BT) khối lượng 30 – 60 g/con Tôm được tiến hành ghép phối để tạo ra 4 nhóm (theo thứ tự tôm mẹ × tôm bố) là chọn giống × chọn giống (nhóm I), chọn giống × tự nhiên (nhóm II), tự nhiên × chọn giống (nhóm III) và tự nhiên × tự nhiên (nhóm IV) Tỉ lệ ghép cặp là 1 con đực với 2 con cái Tôm được ghép cặp trên bể composite tròn 1,5 m3, mực nước 1m Trong thời gian ghép cặp tôm được cho ăn 2 lần/ngày, khẩu phần ăn 3% khối lượng tôm Định kỳ thay nước 3 ngày/lần

Giai đoạn ương trong giai, tăng trưởng của gia đình nhóm III là chậm nhất (2,9 g/con),

sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với gia đình nhóm I (3,6 g/con) và gia

đình nhóm IV (4,2 g/con) Gia đình nhóm II (3,6 g/con) và gia đình nhóm III (2,95

g/con) tương dương nhau, sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Sau thời

gian nuôi 97–111 ngày (từ khi đánh dấu đến khi thu hoạch), khối lượng trung bình giữa các nhóm gia đình tôm có sự khác biệt về khối lượng thu hoạch, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (P<0,05) Gia đình nhóm I có khối lượng thu hoạch trung bình 25,8

g/con, so với gia đình ở ba nhóm còn lại từ 15,1 – 19,9 g/con Gia đình nhóm IV có khối lượng thu hoạch trung bình (15,1 g) thấp nhất Hai gia đình nhóm II và III có khối lượng thu hoạch trung bình (19,9 và 16,6 g) thấp hơn so với gia đình nhóm I Tỉ lệ sống gia đình tôm nhóm I là 47,2% so với 32,1 – 42,9% của ba nhóm gia đình tôm còn

lại, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Nhóm gia đình IV có tỉ lệ sống thấp

nhất (32,1%), nhóm gia đình III và nhóm gia đình II có tỉ lệ sống là tương đương nhau (42,3 và 42,9%) Kết luận, Các nhóm gia đình tôm qua chọn giống có tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn các nhóm gia đình còn lại, sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p<0,05)

Từ khóa: Macrobrachium rosenbergii, chọn giống, tỉ lệ sống

Trang 14

MỞ ĐẦU

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1897) không chỉ là một

đối tượng nuôi phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới mà còn được du nhập vào nuôi trên 43 quốc gia trên khắp các châu lục [60] Diện tích và sản lượng tôm càng xanh nuôi không ngừng tăng nhanh trên toàn thế giới, nhất là tại Châu Á Trong số các quốc gia nuôi tôm càng xanh, Trung Quốc có sản lượng cao nhất, tiếp theo là Bangladesh, Thái Lan, Ấn Độ và Taiwan Việt Nam là một trong số những nước sản xuất tôm càng xanh lớn của thế giới Sản lượng tôm càng xanh Việt Nam chiếm 2,6% sản lượng tôm thế giới năm 2014 Trong khi đó, Malaysia chiếm 0,18%, Myanmar chiếm 0,37%, Indonosia chiếm 0,84%, Taiwan chiếm 3,94%, Ấn Độ chiếm 4,01%, Thái Lan chiếm 8,31%, Banglades chiếm 20,86% và cao nhất là Trung Quốc chiếm 58,74% [92] Sản lượng tôm càng xanh trên thế giới tăng liên tục theo từng năm, năm

2005 sản lượng 195.858 tấn, năm 2010 tăng 1.688 tấn so với năm 2005 và năm 2014 sản lượng đạt 216.856 tấn (hình 1.1) [93, 92]

Hình 1.0 Sản lượng tôm càng xanh thế giới qua từng năm [92]

Ở nước ta, tôm càng xanh phân bố tự nhiên ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

và Nam Trung Bộ Nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình nuôi đa dạng như nuôi mương vườn, nuôi trong ruộng lúa, nuôi đăng quầng [69] Trong những năm gần đây, diện tích nuôi tôm càng xanh có chiều hướng giảm dần, năm 2010 diện tích là 7.100

Trang 15

ha, đến năm 2014 còn 4.500 ha Nhưng sản lượng tôm tăng, năm 2010 là 370.000 tấn, đến năm 2014 tăng lên 547.000 tấn [18] Các nguyên nhân chính làm giảm diện tích nuôi tôm càng xanh có thể do tốc độ tăng trưởng tôm càng xanh khá chậm, hiệu quả nuôi thấp (78 tháng cho một chu kỳ nuôi từ con giống sinh sản nhân tạo), tỉ lệ sống thấp, tôm cái thành thục sớm (chiếm 50% trong quần đàn) và sau đó tăng trưởng chậm Con giống tự nhiên ngày càng hiếm, con giống sản xuất nhân tạo có chất lượng thấp và giá thành cao Do đó chọn giống tôm càng xanh chất lượng, có tốc độ tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao và sạch bệnh là nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển bền vững nghề nuôi tôm càng xanh ở nước ta

Hầu hết các chương trình chọn giống trên động vật nuôi đều bắt đầu bằng việc nâng cao tốc độ sinh trưởng [68], nâng cao năng suất vật nuôi, đặc biệt là cho gia súc, gia cầm Hiện đã có một số chương trình chọn giống được tiến hành trên một số loài thủy sản có giá trị kinh tế Có thể kể đến như tôm sú, tương quan di truyền với khối lượng thu hoạch là 0,11–0,65 [51], nghiên cứu chọn giống cá chép [67] và một số nghiên cứu chọn giống trên cá rô phi [72, 73], [86] Các kết quả này cho thấy khả năng chọn lọc tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống là khả thi

Phương pháp chọn giống nâng cao tốc độ tăng trưởng bằng chọn lọc gia đình bắt đầu thực hiện trên đối tượng thủy sản trên thế giới vào những năm 1970 Tại Việt Nam, phương pháp chọn lọc gia đình nâng cao tốc độ tăng trưởng đã được áp dụng

trên cá mè vinh miền Nam, cá chép (Cyprinus carpio), cá rô phi vằn (Oreochromis

niloticus) dòng GIFT, cá rô phi đỏ (O sp), tôm càng xanh và cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) [11-13], [15], [86], [84]

Phương pháp chọn giống cũng được áp dụng cho tôm càng xanh qua chương trình chọn giống tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II từ năm 2007 đến nay [84], [1] Nguồn vật liệu ban đầu được thu thập bao gồm nhóm tôm tự nhiên trong và ngoài nước Nhóm tôm trong nước được thu thập từ hai hệ thống sông lớn là sông Đồng Nai và sông Mêkông Qua 3 thế hệ chọn lọc, hệ số di truyền của tính trạng tăng trưởng được ước tính từ 0,18 đến 0,24) Hiệu quả chọn lọc thực tế qua ba thế hệ chọn giống là 20% [1] Tương quan di truyền giữa tăng trưởng và tỉ lệ sống là từ 0,1 đến 0,2 Kết quả nuôi thử nghiệm tôm chọn lọc tại Đồng Tháp cho thấy tôm tăng trưởng nhanh, tỉ lệ tôm đạt loại I (100 g/con) cao Tôm chọn giống hậu bị đã được phát tán

Trang 16

trong năm 2012–2013, được các trại giống ưa chuộng Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tăng trưởng và tỉ lệ sống của các gia đình tôm càng xanh

(Macrobrachium rosenbergii De Man, 1897) từ dòng chọn giống và dòng tự nhiên tại

Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ” nhằm đánh giá tăng trưởng

và tỉ lệ sống giữa các nhóm tôm càng xanh qua nghiên cứu chọn lọc di truyền với tôm càng xanh tự nhiên

Mục tiêu đề tài

Đánh giá tăng trưởng và tỉ lệ sống của các gia đình tôm càng xanh

(Macrobrachium rosenbergii) từ nhóm tôm chọn giống và nhóm tôm tự nhiên

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tăng trưởng của các gia đình tôm càng xanh (Macrobrachium

rosenbergii) từ nhóm chọn giống và nhóm tự nhiên tại Trung tâm Quốc gia giống

Thủy sản nước ngọt Nam Bộ

- Đánh giá tỉ lệ sống của các gia đình tôm càng xanh (Macrobrachium

rosenbergii) từ nhóm chọn giống và nhóm tự nhiên tại Trung tâm Quốc gia Giống

Thủy sản nước ngọt Nam Bộ

Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

- Kết quả đề tài cung cấp dữ liệu khoa học tăng trưởng và tỉ lệ sống trên tôm càng xanh phục vụ công tác chọn giống trên đối tượng này

- Thành công của đề tài góp phần giúp người nuôi nhìn thấy được chất lượng và hiệu quả của con giống qua chọn lọc di truyền hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh

1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái

Tôm càng xanh được biết đến từ những năm 1705 [63] Ngay từ những năm đầu

nhiều tác giả đã mô tả và đặt tên cho loài này khác nhau như Macrobrachium

rosenbergii - De Man, 1879, Palaemon carcinus rosenbergii - Ortmann, 1891, Palaemon whitei Sharp, 1893, Palaemon (Eupalaemon) rosenbergii - Nobili, 1899, Palaemon spinipes Schenkel, 1902, Palaemon dacqueti Sunier, 1925, Cryphiops (Macrobrachium) rosenbergii - Johnson, 1966 [42] Đến năm 1959 tên khoa học của

tôm càng xanh chính thức được khẳng định lại tên gọi ban đầu của De Man (1879) là

Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879 [63]

Tôm càng xanh có vị trí phân loại như sau:

Ngành động vật chân khớp: Athrapoda

Lớp giáp giác: Crustacea

Bộ mười chân: Decapoda

Họ: Palamonidae Giống: Macrobrachium Loài: Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879

Có gần 200 loài thuộc họ Palamonidae đã được mô tả, hầu hết đời sống của chúng đều có một khoảng thời gian ở nước ngọt Trong số đó, Macrobrachium

rosenbergii là loài được khoa học biết đến đầu tiên, hình ảnh để nhận biết đầu tiên

xuất hiện năm 1705 [63]

Trang 18

Hình 1.1 Hình tôm càng xanh

(A Tôm càng xanh đực trưởng thành; B Tôm càng xanh cái ôm trứng)

Hình thái bên ngoài của tôm càng xanh được miêu tả khá chi tiết [42, 41], [61, 63], [64], [88] Thân tôm càng xanh tương đối tròn, có kích cỡ lớn nhất trong các loài

thuộc giống Macrobrachium Con trưởng thành có màu xanh dương đậm dễ nhận biết

Trong số 5 đôi chân bò, đôi chân thứ hai rất to so với các chân khác và tận cùng là một kẹp lớn, cả hai chân này đều dài bằng nhau (không như một số loài khác thuộc giống

Macrobrachium) Chủy phát triển dài và nhọn, 1/2 chủy ngoài cong lên, mặt trên chủy

có 11-14 răng gai, mặt dưới chủy có 8-10 răng gai [63], [94], 3-4 răng sau hốc mắt Chiều dài chuỷ của tôm cái khi trưởng thành thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chuỷ tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực (Hình 1.2)

Trang 19

Hình 1.2 Hình thái tôm càng xanh [61]

1.1.2 Đặc điểm phân bố, môi trường và vòng đời tôm càng xanh

Có 150 loài Macrobrachium trên thế giới, trong đó 49 loài được thương mại và

trong số này có hai mươi bảy loài thương mại được tìm thấy ở châu Á và Thái Bình Dương Hầu hết, chúng sống ở nước ngọt, một số loài sống ở vùng nước lợ cửa sông

M rosenbergii được tìm thấy trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như khu vực Ấn

Độ Dương, Thái Bình Dương tại Malaysia, Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Indonesia và Việt Nam [83] Chúng thường được tìm thấy trong các ao nước ngọt, sông, hồ, mương, rạch, vùng đồng bằng và các cửa sông Tôm

di chuyển ngược dòng, đi vào hồ và thậm chí vùng ruộng lúa và có thể đi sâu vào đất

liền tới 200 km từ biển Đây là loài di cư được quan sát không chỉ có ở M rosenbergii,

mà còn ở các loài khác của Macrobrachium [63], [83] Tôm càng xanh M rosenbergii

được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới không có tôm trong tự nhiên như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Israel [17] v.v… Trung Quốc hiện đang dẫn đầu về sản lượng tôm càng xanh trên thế giới với 127.204 tấn vào năm 2014 [92]

Một số loài Macrobrachium cũng đã được du nhập đến nhiều nơi trên thế giới

cho mục đích nuôi và nghiên cứu Tôm càng xanh được du nhập vào Hawaii từ Malaysia năm 1965 [36] Fujimura (1972) là những người tiên phong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài này [66]

Trang 20

Hình 1.3 Các quốc gia có tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii phân bố[93]

(Màu cam trên hình thể hiện các quốc gia có tôm càng xanh phân bố)

Ở nước ta, tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào Nam Bộ [16], [17] nhưng phát triển thuận lợi nhất ở các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long [14], Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với sản lượng đạt 28.000 tấn năm 2001 [62] Đến năm 2014, Việt Nam đứng thứ năm sau Trung Quốc, Banglades, Thái Lan, Ấn Độ và Đài Loan với sản lượng 5.674 tấn [92] Mô hình nuôi tôm lúa đang được phổ biến rộng rãi và đạt năng suất 1.081–1.485 kg/ha/vụ [4, 3] Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển, nâng cao năng suất nuôi và khai thác đối tượng này

Tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii sống trong môi trường nước ngọt

giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng sống trong môi trường nước lợ [64], [66] Theo Tayamen (2001) thì vòng đời của tôm càng xanh gồm 4 giai đoạn: trứng → ấu trùng

→ hậu ấu trùng → tôm trưởng thành [83] Giai đoạn trưởng thành tôm sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng đến khi thành thục tôm đẻ trứng và di cư ra vùng cửa sông để cho trứng nở Theo New và Valenti (2000) thì trứng tôm càng xanh nở ra ấu trùng sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng (postlarvae)[66] Hậu ấu trùng tôm càng xanh phát triển thành tôm giống (Tôm vị thành niên), sau thời gian 3-6 tháng tôm trưởng thành, giao vĩ trứng chín mùi sao đó di cư ra vùng nước cửa sông đẻ trứng Lúc này trứng tôm nở và có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt có độ mặn thấp

Trang 21

để sinh sống và phát triển đến khi trưởng thành Khi trưởng thành chúng bắt đầu sinh sản và di cư ra vùng nước lợ tiếp tục vòng đời của mình (Hình 1.4)

Hình 1.4 Vòng đời tôm càng xanh [66]

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng tôm càng xanh

Tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, tính lựa chọn thức ăn không cao Tôm càng xanh có hàm răng nghiền khỏe, ruột có cấu tạo ngắn nên khả năng tiêu hóa nhanh Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ Tôm thích bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày [17] Râu là cơ quan xúc giác giúp tôm tìm thức ăn, đôi chân ngực thứ nhất như một cái kẹp giúp tôm giữ và đưa thức ăn vào miệng [8] Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác, chu kỳ lột xác thay đổi theo tuổi, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng [6]

Tôm càng xanh tăng trưởng nhanh, thể hiện rất rõ qua các lần lột xác, tôm cái thường chậm lớn sau khi đã đến tuổi trưởng thành do chuyển nguồn năng lượng sang nuôi và ấp trứng [66] Theo nghiên cứu của Ra’anan (1991) trọng lượng trung bình thu được của con cái trong điều kiện nuôi thương phẩm chỉ đạt được trong khoảng từ 18–

Trang 22

26 g, trong khi con đực đạt tới 35 g [75] Chu kỳ lột xác sẽ càng kéo dài khi tôm đạt đến tuổi trưởng thành

Trong quần đàn tôm càng xanh đực có 40% tôm càng xanh càng cam, 50% là tôm đực nhỏ, 10% còn lại là tôm đực càng xanh Sự phức tạp này với sự khác nhau về hình thái, sinh lý của tôm càng xanh làm cho năng suất nuôi bị giảm [50] Sự tương tác giữa tôm chưa trưởng thành và tôm trưởng thành cũng làm ảnh hưởng đến tăng trưởng Bốn

cơ chế làm quần đàn tôm bị biến đổi đó là: (1) Sự cạnh tranh thức ăn trực tiếp; (2) Tính hung hăng; (3) Sự thay đổi các loại thức ăn; (4) Sự tiêu tốn năng lượng cho hoạt động [50] Từ những tương tác đó làm cấu trúc quần đàn tôm bị phân hóa Theo Ra’anan (1991) tôm càng xanh có càng cam có tốc độ tăng trưởng cao nhất [75]

Tôm đực càng xanh tỏ ra trội hơn trong quần đàn trong việc cạnh tranh thức ăn và giao vỹ với con cái, kế đó là tôm càng cam [50]

Tôm càng xanh trưởng thành chiều dài lớn nhất ở con đực 33 cm, con cái 29 cm [63] Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm giống (postlarvae 2 g/con) sau 6 tháng nuôi trong ao, có thể đạt khối lượng 125 g và dài trung bình 22 cm [55]

1.1.4 Đặc điểm sinh sản

1.1.4.1 Phân biệt giới tính

Tôm càng xanh macrobrachium rosenbergii có thể phân biệt giới tính qua hình

dạng bên ngoài của chúng Tôm càng xanh đực có kích thước lớn hơn tôm càng xanh cái ở cùng độ tuổi, đầu ngực to hơn nhưng khoang bụng hẹp hơn và đôi càng thứ hai to dài hơn tôm càng xanh cái [55] Ở tôm càng xanh đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai Nhánh phụ đực xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi đạt chiều dài giáp đầu ngực ở con đực 5,9 mm và ở con cái 7,6 mm [65] Cơ quan sinh dục trong của con đực ngoằn ngoèo nằm ở giữa của giáp đầu ngực được nối với ống dẫn tinh chạy trước tim và dọc hai bên viềng sau của giáp đầu ngực, đỗ vào mút nằm ở khớp đầu tiên của đôi chân ngực thứ 5 (Hình 1.5) Túi tinh hình thành trong quá trình phóng tinh [66]

Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực ở cùng độ tuổi, phần đầu ngực nhỏ

và đôi càng thon, tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và tạo thành khoang làm buồng để

ấp trứng Quá trình mở rộng của khoang bụng bắt đầu khi tôm đạt chiều dài tổng 95

Trang 23

mm Lổ sinh dục của con cái nằm ở góc của chân ngực thứ 3 Trên các chân bụng của con cái có nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào trong quá trình tôm đẻ và ấp trứng Ở con cái, buồng trứng nằm ở trên mặt lưng của phần đầu ngực, ở dưới dạ dày

và gan tụy Khi buồng trứng được hình thành sẽ có màu vàng trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối liền với buồng trứng, buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đỗ về túi chứa tinh ở đốt góc của chân ngực thứ 3 (Hình 1.5) [66]

Hình 1.5 Cấu tạo tuyến sinh dục tôm càng xanh giải phẩu [66]

1.1.4.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm càng xanh

Tôm càng xanh thành thục khá sớm, khi tôm đạt trọng lượng trung bình khoảng 15–20 g là tôm có thể sinh sản Theo nghiên cứu của Ang và Law (1991) cho thấy tôm cái mang trứng khi đạt 6,5 g Tôm càng xanh thành thục, giao vĩ và đẻ trứng hầu như quanh năm Ở Đồng bằng sông Cửu Long có hai mùa đẻ chính của Tôm càng xanh đó

là từ tháng 4 - 6 và tháng 8 – 10 [8] Quá trình thành thục buồng trứng của tôm càng xanh trải qua 4 giai đoạn phát triển trong thời gian khoảng 14 - 20 ngày [6] Khi buồng trứng tôm cái đã chín, tôm sẽ tiến hành giao vĩ sau khi lột xác 3-6 giờ [55], giai đoạn lột xác là giai đoạn tiền giao vĩ của tôm Quá trình giao vĩ của tôm càng xanh được chia ra làm 4 giai đoạn: giai đoạn tiếp xúc, giai đoạn tôm đực ôm giữ tôm cái, giai

Trang 24

đoạn tôm đực trèo lên lưng, giai đoạn tôm đực lật ngửa và gắn túi tinh vào tôm cái [8] Quá trình giao vĩ xảy ra khoảng 20 - 25 phút Sau khi giao vĩ 6 - 20 giờ tôm cái bắt đầu

đẻ trứng [55], thường vào ban đêm Trong quá trình đẻ trứng, trứng sẽ được thụ tinh ngay khi đi ngang qua túi chứa tinh Trứng sẽ lần lượt dính vào các lông tơ của đôi chân bụng 4, 3, 2, 1 Thời gian đẻ trứng khoảng 15 - 20 phút Những con cái thành thục có buồng trứng chín mùi nhưng không được giao vĩ thì chúng vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giờ sau khi lột xác tiền giao vĩ Tuy nhiên những trứng này sẽ không được thụ tinh và sau 2 - 3 ngày trứng sẽ rơi ra ngoài [55]

Tuỳ vào kích cỡ và trọng lượng của Tôm càng xanh mà sức sinh sản của con cái

có thể thay đổi từ 80.000 - 100.000 trứng [66] Theo Ling (1978) tôm cái 80 g, dài 18

cm đẻ được 60.000 trứng Còn theo New và Valenti (2000) Tôm càng xanh cái có trọng lượng trung bình 109,9 g (n=80) đẻ trung bình 95.687 trứng Tôm càng xanh có sức sinh sản tương đối khoảng 700 – 1.000 trứng/gram khối lượng con cái [8] Tuy nhiên trong ao hồ sức sinh sản của chúng thấp hơn, trung bình 300 - 600 trứng/gram trọng lượng con cái Tôm càng xanh cái có thể tái thành thục trong thời gian ôm trứng, phóng thích ấu trùng ở bụng xong sau 2-5 ngày tôm lột xác và giao vĩ tiếp và đẻ lại sau

16 - 45 ngày [8] Trong quá trình ấp trứng tôm cái dùng các chân bụng quạt nước để tạo dòng chảy làm thông khí cho trứng và dùng các chân ngực để loại bỏ những trứng

bị hư hay vật lạ dính vào khối trứng Tuỳ vào thời gian và nhiệt độ, trứng có thể nở sau

15 - 23 ngày ấp

1.1.4.3 Phát triển phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh

Trứng tôm càng xanh mới đẻ có kích cỡ khoảng 0,6 - 0,7 mm Trứng thụ tinh nhân bắt đầu phân cắt và hoàn thành sự phân cắt sau 24 giờ Sau 80 giờ các phụ bộ của

ấu trùng bắt đầu phát triển Ngày thứ 5 hình thành phụ bộ đầu và các nhú đuôi Ngày thứ 7 điểm mắt bắt đầu phát triển và nhú đuôi trở thành gai đuôi Ngày thứ 8 và thứ 9 bắt đầu hình thành giáp đầu ngực, mắt có sắc tố, ruột hình thành và tim bắt đầu đập Ngày thứ 12 phôi nằm dọc theo trứng, các cơ quan phát triển đầy đủ đến ngày thứ 17

và tiếp tục phát triển cho đến khi nở trong ngày thứ 19 hoặc 20 [55]

Theo dõi sự phát triển của phôi trứng, trứng dần phát triển từ màu vàng nhạc sang màu vàng cam, sau đó đến màu vàng xám và cuối cùng là màu xám đen Sau 17 -

Trang 25

23 ngày trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn thành sau 4 - 6 giờ Khi nở tôm mẹ cử động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài [55]

Ấu trùng mới nở sống phù du có tính hướng quang mạnh và cần sống trong môi trường nước lợ có độ mặn 12‰ [83], [91] Theo nghiên cứu của Ling (1978) ấu trùng

sẽ chết sau khi nở 4 - 5 ngày nếu sống trong môi trường nước ngọt Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước Ấu trùng ăn liên tục và thức ăn gồm các loại động thực vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng của các sinh vật thủy sinh Ấu trùng trải qua 11 lần lột xác nhưng chỉ có 8 giai đoạn biến thái [55] Tuy nhiên, Nandlal (2005)

và Uno (1969) cho rằng ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác để trở thành postlarvae [61], [87] (bảng 1.1)

Bảng 1.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh

III 3 - 4 Xuất hiện mấu đuôi

IV 4 - 6 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có hai nhánh, có lông

V 5 - 8 Telson hẹp và kéo dài ra

VI 7 - 10 Mầm chân bụng xuất hiện

VII 11 - 17 Chân bụng có 2 nhánh chưa có lông tơ

VIII 13 - 20 Chân bụng có lông tơ

IX 15 - 22 Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong

X 17 - 23 Có 3 - 4 răng trên chủy

XI 23 - 35 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy

Postlarvae 23 - 235 Răng xuất hiện cả trên và dưới chủy, có tập tính như

tôm lớn

Nguồn: (Uno và Soo, 1969 được trích dẫn bởi [66]), [61]

Trang 26

Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III

Hình 1.6 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng [87]

1.1.5 Môi trường sống của ấu trùng tôm càng xanh

1.1.5.1 Nhiệt độ

Theo Ling (1978) nhiệt độ thích hợp cho ấu trùng tôm càng xanh từ 24-30oC, tốt nhất từ 26-28oC [55] Nhưng nghiên cứu của Tayamen (2001) cho rằng nhiệt độ lý tưởng từ 28-30oC, nhiệt độ dưới 24oC và trên 33oC thì ấu trùng chết, khi nhiệt độ dao động chênh lệch 1oC làm ấu trùng stress và chết [83] Tuy nhiên, Nandlal (2005) nhiệt

Trang 27

độ tối ưu nhất cho ấu trùng tôm càng xanh phát triển từ 29-30oC, nhiệt độ dưới 25oC tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng thấp, nhiệt độ trên 33oC ấu trùng chết, thậm chí

ở ngưỡng nhiệt độ tối ưu thay đổi đột ngột 0,5oC cũng làm ảnh hưởng đến ấu trùng [61] Theo Nguyễn Việt Thắng (1993) ngưỡng nhiệt độ dưới của ấu trùng tôm càng xanh là 21oC, khi nhiệt độ tăng dần lên thì thời gian phát triển của ấu trùng càng rút ngắn và nhiệt độ dưới 24 - 26oC thì ấu trùng phát triển không tốt [14] Theo nhiều tác giả khác, nhiệt độ tốt nhất trong khoảng 28-31oC [63, 64]

1.1.5.2 Độ pH

pH của nước thể hiện tính axit hoặc ba-zơ, giá trị pH thể hiện từ 0 đến 14, pH thấp thể hiện tính axit, pH cao thể hiện tính ba-zơ và giá trị pH 7 ở 25oC là giát rị trung tính Tác hai của pH đến động vật sống ở dưới nước là bị stress hoặc gây chết

pH ảnh hưởng gián tiếp và có sự tương tác với NH3, H2S, clo và kim loại [31] pH tốt nhất cho động vật sống trong nước ngọt phát triển và khỏe mạnh từ 6,5-9, điểm chết axit và kiềm là pH 4 và pH 11 Hầu hết động vật biển không thể chịu được phạm vi rộng của pH và pH tối ưu nhất từ 7,5 – 8,5 [30, 31]

pH thích hợp cho tôm càng xanh nằm trong khoảng từ 7,0 - 8,5 và pH dao động trong một ngày không quá 1 đơn vị [63, 64, 83]

1.1.5.4 Hàm lượng oxy hòa tan (DO)

Hàm lượng oxy hòa tan trong nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng bởi hoạt động trong bề mặt của vùng nước Hàm lượng oxy hòa tan trong môi trường nước phụ thuộc vào áp suất trong nước và áp suất không khí Ngoài ra, hàm lượng oxy hòa tan còn ảnh hưởng do sự hô hấp của thủy sinh vật và do sự quang hợp [31] Hàm lượng oxy hòa

Trang 28

tan trong nước biển bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, nhiệt độ thấp hàm lượng oxy hòa tan cao và ngược lại [30]

Hàm lượng oxy hòa tan nhỏ hơn 0,3 mg/l đa số động vật thủy sản sẽ chết trong thời gian ngắn, hàm lượng oxy hòa tan trong khoảng 0,3-1,0 mg/l kéo dài cũng gây chết cho động vật thủy sản Động vật thủy sản vẫn sống nhưng tăng trưởng chậm khi hàm lượng oxy hòa tan từ 1,0-5,0 mg/l kéo dài Hàm lượng oxy hòa tan lớn hơn 5,0 mg/l là khoảng luôn mong muốn nhất trong nuôi trồng thủy sản

Theo các tác giả Ling (1978) [55], Smith (1982) [78], New (2000) [66] đều cho rằng hàm lượng oxy hòa tan trong bể đối với ương ấu trùng tôm càng xanh là 3-7 mg/l

và Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002) cũng nhận định như vậy Trong điều kiện sản xuất giống nếu đảm bảo sục khí đầy đủ thì không cần phải kiểm tra hàm lượng oxy hòa tan trong bể ương [8, 83]

1.1.5.5 Hàm lượng ammonia (NH 3 -N)

Tôm càng xanh postlarvae có khả năng chịu đựng tối đa là 1,4 mg NH3-N/L trong 72 giờ và tôm càng xanh trưởng thành là 2,2 mg NH3-N/L trong khoảng thời gian 72 giờ [31] Theo Aquacop (1977, 1983) hàm lượng < 0,3 mg/L NH3-N đảm bảo cho sự phát triển bình thường của tôm [24, 23] Theo Nandlal (2005) hàm lượng NH4

+

cho tôm càng xanh không được vượt quá 1,5 ppm và hàm lượng NH3 không được vượt quá 0,1 ppm [61] Ngoài ra, theo nghiên cứu Straus (1991) hàm lượng NH3-N đối với PL không được >1,0 mg/L tại pH 8,5-9,0 và đối với tôm trưởng thành hàm lượng

NH3-N < 0 mg/L tại pH 9,5; tại pH 9,0 hàm lượng NH3-N < 1,0 mg/L và tại pH 8,5 hàm lượng NH3-N < 2 mg/L [80]

1.1.5.6 Hàm lượng nitrite (NO 2 - -N)

Ấu trùng tôm càng xanh chậm phát triển, tăng trưởng chậm và gây tử vong khi hàm lượng NO2--N lên đến 16 mg/L Trong khi đó, không có sự ảnh hưởng đến tôm càng xanh khi hàm lượng NO2

-N nhỏ hơn 2 mg/L [59] Hàm lượng NO2--N bằng 9,7 mg/L không gây chết ấu trùng tôm càng xanh trong thời gian 24 giờ và khi hàm lượng

-NO2

N bằng 1,4 mg/L cũng không gây chết trong khoảng thời gian 168 giờ [26] Theo Wickens (1979) tôm càng xanh giống không bị ức chế sau 28 ngày khi tiếp xúc môi trường có hàm lượng 15 mg/L NO2

-N ở độ mặn 3‰ (Trích dẫn bởi Boyd, 2012) Trong khi đó, theo Tayamen (2001) mức độ gây chết của NO2

là 1,8 ppm (NO2-N)

Trang 29

Do đó, nguồn nước lấy vào có hàm lượng NO2

không quá 0,1 ppm (NO2-N) [83] Đối với một số loài tôm khác có khả năng chịu đựng khác nhau

Tác động của ánh sáng đến ấu trùng còn liên quan đến màu sắc của bể ương bởi

vì màu sắc bể phản chiếu ánh sáng truyền vào Theo Phạm Văn Tình (2004a) nếu sơn

bể màu trắng, ánh sáng chiếu vào bể sẽ bị phản chiếu làm cho ấu trùng dễ rối loạn sinh

lý [17] Một nghiên cứu mới đây của Tidwell (2001) cho thấy thời gian chiếu sáng 24 giờ tỉ lệ sống ấu trùng tôm càng xanh là 72%, 12 giờ chiếu sáng và 12 giờ tối thì ấu trùng tôm càng xanh có tỉ lệ sống là 59% và thời gian tối 24 giờ thì tỉ lệ sống ấu trùng tôm càng xanh là 58% [85]

Theo New và Valenti (2000) nuôi ấu trùng tôm càng xanh thành công thì cường

độ ánh sáng trong khoảng 250 - 6.500 lux [66]

1.2 Quy trình kĩ thuật ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh

1.2.1 Quy trình nước trong hở

Quy trình nước trong hở được xây dựng bởi Ling (1969) và hoàn thiện bởi Aquacop (1977, 1983) [24, 23] Tại Việt Nam quy trình này được thử nghiệm đầu tiên vào năm 1987 bởi Nguyễn Việt Thắng (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II) và Bùi Lai (Đại Học Cần Thơ) Đây là quy trình được ứng dụng nhiều ở nước ta trước đây Quy trình này cho phép ương ấu trùng tôm với mật độ cao, từ 32 - 100 con/lít đạt

tỉ lệ sống trung bình 46 - 56% [24, 23] Lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 triệu postlarvae

là 13 - 25 kg Artemia và 60-80 kg thức ăn chế biến [64]

Quy trình nước trong hở dựa trên sự trao đổi nước thường xuyên để giảm các chất độc hại tích tụ trong nước nuôi Những nguồn chất độc được sinh ra từ sự chuyển

Trang 30

hóa của ấu trùng và ấu trùng Artemia, từ vi khuẩn phân hủy thức ăn dư thừa, phân và các sinh vật chết Do đó, cần số lượng lớn nước lợ cho hệ thống nuôi theo quy trình này [65] Đặc điểm của quy trình này là yêu cầu nguồn nước phải trong sạch (không

có tảo), thay nước hàng ngày, có thể ương ở mật độ cao Quy trình này tương đối đơn giản, dễ thực hiện, có thể nâng cao mật độ ương để đạt sản lượng lớn, phù hợp với các trại nuôi có đầy đủ hai nguồn nước mặn và ngọt có chất lượng nước tốt Tuy nhiên, quy trình này tiêu tốn nhiều nước để thay, tăng cao chi phí sản xuất

1.2.2 Quy trình nước trong tuần hoàn

Quy trình nước trong tuần hoàn được xây dựng nhằm mục đích giảm thiểu tiêu hao nước và kiểm soát tốt chất lượng nước trong ương nuôi ấu trùng tôm Giảm thiểu thay nước là rất quan trong đối với trại sản xuất nội đia, nơi xa nguồn nước mặn hoặc phải sử dụng nguồn nước mặn nhân tạo Hệ thống nuôi tuần hoàn cho pháp ít thay nước trong quá trình ương nuôi tôm Nước phải được loại bỏ ni-tơ, chất thải rắn và khử trùng để xử lý bệnh Hệ thống tuần hoàn trong sản xuất giống tôm càng xanh có nhiều lợi thế hơn các hệ thống hở như chất lượng nước ổn định hơn, ít tốn nước, ít tốn công lao động Ngoài ra, hệ thống này còn kiểm soát được các chất gây ô nhiễm và ký sinh trùng Hệ thống này hoạt động dựa trên sự lưu thông nước liên tục qua các bộ phận lọc cơ học và lọc sinh học Do đó, hệ thống tuần hoàn loại bỏ liên tục chất thải rắn và ni-tơ Điều này làm cho hàm lượng ammonia và nitrite thấp, đây là hai loại khí độc thường cao trong hệ thống hở và hệ thống khép kín tĩnh Hệ thống này cho phép ương mật độ 40-100 ấu trùng/L, tỉ lệ sống 40-80% [65] Tuy nhiên, quy trình nước trong tuần hoàn cần phải thiết kế hệ thống tốn kém, trang thiết bị phức tạp Người sử dụng hệ thống sản xuất phải có kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên môn cao [8]

1.2.3 Quy trình nước xanh

Fujimura (1974) là người xây dựng ra quy trình nước xanh [35] Sau đó New và Somsuk (1985) đã bổ sung hoàn chỉnh quy trình này [64] Quy trình nước xanh sử dụng thành công tại Hawaii, nhờ kiểm soát các sinh vật có hại trong nước ngọt gây ảnh hưởng xấu đến ấu trùng tôm càng xanh Môi trường nước trong hệ thống nuôi được xem như là một hệ đệm chống sự phát triển của ammonia Tuy nhiên, hệ thống này còn có một vài hạn chế nên ít được sử dụng rộng rải Quy trình nước xanh đòi hỏi phải

Trang 31

nuôi giữ vi tảo Chlorella ssp phức tạp, mật độ tảo phải đạt 9 – 10 triệu bế bào/ml [8]

và luôn ổn định từ 750.000 đến 1.500.000 tế bào/ml [64]

1.3 Nuôi tôm càng xanh thương phẩm

Hiện nay, mùa vụ nuôi tôm tập trung từ tháng 4–11 nên nhu cầu con giống trong thời vụ nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ cho người dân Diện tích nuôi tôm càng xanh không ngừng được mở rộng Do đó, nhiều nghiên cứu sản xuất giống, nghiên cứu nâng cao chất lượng con giống và mô hình nuôi tôm đã được thực hiện Tuy nhiên, năng suất sản xuất giống và nuôi tôm không ổn định Mô hình nuôi trong đăng quầng ven sông ở Đồng Tháp và An Giang với mật độ cao 62 con/m2 năng suất khoảng 520 kg/ha/năm [79], 530–1.140 kg/ha/năm ở An Giang [9] Nuôi tôm trong ruộng lúa với mật độ thấp 2 con/m2 và không cho ăn Năng suất nuôi trung bình đạt 120–200 kg/ha/năm [70]

1.3.1 Nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa

Nuôi tôm kết hợp với ruộng lúa là mô hình nuôi phổ biến nhất ở Việt Nam, lợi nhuận của nuôi tôm–lúa cao gấp 2–3 lần so với chỉ trồng lúa Diện tích từ 0,5–2,0 ha ruộng và có mương nội bộ (chiếm khoảng 15–20% diện tích) Mực nước trong mương ruộng từ 1,0–1,2 m sâu Ruộng lúa nuôi tôm được rào lưới cao 0,2–0,6 m phòng tránh mưa lũ [66]

Mật độ nuôi 1–5 con/m2, hạn chế bổ sung thức ăn, chỉ dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa Theo Lan (2006) mật độ 3-4 PL/m2 Thức ăn bổ sung là công nhiệp được cung cấp 2 tháng đầu vụ nuôi Sau đó cho ăn thức ăn tự chế biến Thức ăn công nghiệp cho ăn vào buổi sáng, buổi chiều cho ăn thức ăn tự chế biến (cá vụn, phụ phẩm đầu tôm, thịt ốc và cua) đạt năng suất 194–373 kg/ha [53] Tuy nhiên, nuôi tôm trong ruộng lúa mật độ 4-6 PL/m2 đạt năng suất từ 762-887 kg/ha [3] Mô hình nuôi tôm lúa vẫn đang là triển vọng phát triển cho nông dân vùng ngập lũ Tuy nhiên, cần được cải tiến mô hình nuôi để ngày càng nâng cao hiệu quả [89]

1.3.2 Nuôi tôm càng xanh trong đăng quầng

Nuôi tôm trong đăng quầng ven sông là mô hình được phổ biến hơn 10 năm qua Đa số nuôi tôm càng xanh đăng quần tập trung ở Đồng Tháp và An Giang Người nuôi dùng tre, gỗ và lưới để bao quanh một khu vực ven sông để nuôi Trong khu vực nuôi đặt nhiều chà cây để làm giá thể trú ẩn cho tôm trong đăng quầng [81] Mô hình

Trang 32

nuôi này chưa có kỹ thuật nuôi phù hợp, con giống chủ yếu là đánh bắt tự nhiên với kích thước lớn từ 5–20 g/con, mật độ thả cao từ 45–65 con/m2 [79]

Mô hình nuôi tôm trong đăng quầng có nhiều thuận lợi như nguồn nước tự nhiên trên sông, nguồn thức ăn tại chỗ và tận dụng công lao động nhàn rỗi khi có lũ về [81] Tuy nhiên, nuôi đăng quầng cũng có nhiều bất lợi như: đầu tư con giống cao, nuôi ở mật độ cao, không quản lý được môi trường và rất dễ lây lan mầm bệnh Do đó, năng suất và lợi nhuận không cao Theo Nguyễn Thị Thanh Xuân (2006) năng suất một vụ nuôi từ 1.070–1.140 kg/ha [9] Tuy nhiên theo Son (2005) năng xuất vụ nuôi tôm đăng quần từ 140–1.600 kg/ha [79]

1.3.3 Nuôi tôm càng xanh trong ao

Hiện nay, nuôi quảng canh (mật độ <4 con/m2) là mô hình nuôi thích hợp và phổ biến ở Việt Nam Người nuôi còn thiếu trình độ kỹ thuật nên không tiếp cận với

kỹ thuật nuôi mật độ cao như thâm canh (>20 co/m2) Việc kiểm soát chất lượng nước cũng như sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm không được quan tâm [66] Tôm nuôi trong ao không thường xuyên được cho ăn, ao nuôi chỉ dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên Thức ăn tự nhiên được tạo ra bằng cách bón phân hữu Năng suất của mô hình đạt được thường thấp, dưới 500 kg/ha/năm

Nuôi bán thâm canh (4–20 con/m2) năng suất đạt cao hơn, dao động từ 500–5.000 kg/ha/năm Mô hình nuôi này phải cho tôm ăn hàng ngày, khẩu phần ăn tính theo khối lượng thân tôm Quản lý môi trường và kiểm soát mầm bệnh chặt chẽ Tuy nhiên, theo New & Valenti (2000) người nuôi còn mắc sai lầm trong việc quản lý ao nuôi tôm trong khi sự biến đổi trong ao nuôi rất phức tạp Nuôi tôm càng xanh bán thâm canh cũng là mô hình nuôi khá phổ biến trên thế giới đã được tổng hợp bởi Lee

& Wickins (1992) [54] Ở Việt Nam nuôi tôm trong mương vườn ở Vĩnh Long mật độ

5 PL/m2 năng suất dao động từ 222–566 kg/ha [90] Nuôi tôm trong mương vườn mật

độ 6-9 PL/m2 cho năng suất 1.001–1.428 kg/ha [4] Một báo cáo tổng kết nuôi tôm trong ao đất mật độ từ 4–20 PL/m2 ở 30 hộ nuôi ở Vĩnh Long năng suất trung bình đạt

592 kg/ha [2], Ở Vũng Tàu nuôi tôm càng xanh trong ao với mật độ 15–20 con/m2trong 7 ao nuôi năng suất đạt được từ 1.300–1.650 kg/ha [20]

Nuôi thâm canh cho năng suất cao nhất, có thể vượt hơn 5 tấn/ha/năm Tôm nuôi ở mật độ cao (>20 con/m2) việc chăm sóc và quản lý ao nuôi đòi hỏi một trình độ

Trang 33

nhất định Do đó, có nhiều mô hình nuôi tôm càng xanh thâm canh cũng được phát triển

1.4 Nghiên cứu về chọn giống trong nuôi trồng thủy sản

Các chương trình chọn giống được tiến hành trên các loài thủy sản gần đây chủ yếu cho các loài cá xương mang lại hiệu quả kinh tế cao, bao gồm cá hồi Đại Tây Dương [37], cá nheo Mỹ [34], cá chép [27], và cá rô phi [29] Hiệu quả chọn lọc cho tăng trưởng của các đối tượng này tăng từ 10–20% cho mỗi thế hệ Phương pháp chọn giống hiện tại đang sử dụng phổ biến trên thế giới đó là chọn lọc cá thể, chọn lọc gia đình và chọn lọc kết hợp giữa gia đình và cá thể Hiệu quả chọn lọc một số tính trạng trên một số đối tượng đạt kết quả khá cao như tăng trưởng tăng 12–20% qua 1–2 thế

hệ trên cá nheo Mỹ [34], tăng trưởng tăng 11% mỗi thế hệ, tỉ lệ thành thục sớm giảm 20% mỗi thế hệ trên cá hồi (tổng kết bởi Gjedrem, 2000 [38]), tăng 60% trọng lượng

và tăng 40% tỉ lệ sống trên cá rô phi thông qua chương trình ‘nâng cao chất lượng di truyền–GIFT’ ở Philippine

Trước khi chương trình chọn giống bắt đầu, điều cần thiết là phải dựa trên các nguồn di truyền tốt nhất [52], đó cũng là lý do chương trình chọn giống cá rô phi (GIFT–Genetic Improved of Farmed Tilapia) đã đánh giá 8 dòng cá rô phi khác nhau

để hình thành quần đàn cho chương trình chọn giống Các dòng rô phi bao gồm: 4 dòng châu Phi (Ai Cập, Ghana, Senegal và Kenya) và 4 dòng rô phi của Philippine [29] Chương trình chọn giống cá hồi Đại Tây Dương bắt đầu cũng với vật liệu được thu thập từ 41 sông khác nhau ở Na Uy Chương trình nâng cao chất lượng di truyền cho cá mè vinh ở Việt Nam [11] cũng tiến hành so sánh tăng trưởng của 6 nhóm mè vinh (Bến Tre, Mêkông, Bassac, Đồng Nai và 2 nhóm thuần hóa) để hình thành quần đàn ban đầu cho chọn giống Tương tự, chương trình chọn giống cá mè vinh ở Bangladesh [46] đánh giá tăng trưởng của 2 dòng mè vinh nhập nội là Thái Lan và Indonesia và 1 dòng bản địa

Trong khi đó chương trình chọn giống cho các loài giáp xác rất ít có thể do những nguyên nhân đặc thù của các đối tượng này Nhiều đối tượng giáp xác chưa khép kín được vòng đời, sản xuất đồng loạt thế hệ con của nhiều gia đình là thách thức lớn trong chương trình chọn giống ở giáp xác Ngoài ra loại dấu thích hợp để đánh dấu các cặp gia đình khác nhau cũng chưa có do sự lột xác của giáp xác trong quá trình

Trang 34

tăng trưởng [47] Tuy nhiên, nghiên cứu chọn giống cho một số loài giáp xác có giá trị kinh tế cũng đã bắt đầu, bao gồm nghiên cứu chọn lọc tôm he Nhật Bản [40], tôm thẻ chân trắng [25], và tôm crayfish của Úc [48, 49] Kết quả ban đầu cho thấy hiệu quả chọn lọc cho tăng trưởng của các loài này cũng khá cao, tăng khoảng 10% cho mỗi thế

hệ chọn lọc

Đối với tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), nghiên cứu di truyền một

cách có hệ thống cho đối tượng này gần như không có, phần lớn là nghiên cứu qui trình sản xuất giống và công nghệ nuôi thương phẩm Nghiên cứu của Dobkin & Bailey (1979) [33] cho thấy dòng tôm Thái Lan phối với dòng tôm Malaysia tạo ra ưu thế lai ở thế hệ con Malecha (1984) [58] đã nghiên cứu kiểu tăng trưởng của tôm càng xanh đến giai đoạn tôm giống Nhóm tác giả công bố tăng trưởng của tôm càng xanh cái chịu tác động của yếu tố di truyền (hệ số di truyền h2 = 0,35), trong khi đó tôm càng xanh đực gần như không chịu ảnh hưởng của yếu tố này Theo nghiên cứu của Bart và Yen (2003) [28], ấu trùng của dòng tôm Thái Lan và Việt Nam không có khác biệt tăng trưởng đến giai đoạn 10 ngày tuổi, nhưng ấu trùng của dòng tôm Thái Lan tăng trưởng nhanh hơn từ ngày thứ 11 Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hưng (2004) cho thấy tôm càng xanh dòng Thái Lan có khả năng thích nghi sinh học tốt trong điều kiện môi trường mới tại Việt Nam, phát dục và tham gia sinh sản đạt 486 ấu trùng/g tôm cái Tỉ lệ sống của ấu trùng đến giai đoạn post là 53,5%, năng suất nuôi thương phẩm theo hệ thống bán thâm canh ở quy mô nông hộ đạt năng suất 1.587 kg/ha/vụ (7 tháng) [5] Một giải pháp nâng cao năng suất nuôi của tôm càng xanh là nuôi tôm càng xanh toàn đực Nghiên cứu sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh toàn đực đã được tiến hành bởi Aflalo (2006) [21], Rungsin (2006) [76], Sagi & Aflalo (2005) [77] Nghiên cứu chọn giống tôm càng xanh là một hướng tiếp cận khác để nâng cao chất lượng con giống Mặc dù chọn giống là phương pháp cổ điển nhưng vẫn chưa được ứng dụng cho tôm càng xanh đến thời điểm này Một vấn đề đáng lưu ý là dòng tôm Hawaii có nguồn gốc là tôm Malaysia, được nhập vào Hawaii vào đầu những năm

1960 [39] và đã có thời gian thuần hóa lâu dài Từ đó tôm Hawaii được di nhập đến nhiều nước trên thế giới cho mục đích nghiên cứu và nuôi thương phẩm [66]

Phương pháp chọn giống nâng cao tốc độ tăng trưởng bằng chọn lọc gia đình đã

áp dụng thành công cho tôm càng xanh thông qua chương trình chọn giống tại Viện

Trang 35

NTTS II trong những năm 2007–2012 Hệ số di truyền tính trạng tăng trưởng ở mức

khá (0,18–0,24) Hiệu quả chọn lọc thực tế qua ba thế hệ chọn giống là 20% [45] Kết

quả chọn lọc tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống là khả thi Tại Việt Nam, ước tính hệ

số di truyền tỉ lệ sống trên tôm càng xanh, Đinh Hùng (2013) đã ước tính tương quan

di truyền giữa tăng trưởng và tỉ lệ sống là khả quan (0,1 – 0,2) [45]

Trang 36

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2016

- Địa điểm nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam

Bộ, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu trong nghiên cứu này nằm trong dự án: “Hoàn thiện quy trình chọn

giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) theo tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống” Đây là dự án cấp Bộ được thực hiên tại Trung tâm Quốc giai Giống Thủy sản

nước ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện NTTS II) Thời gian thực hiện từ 15/12/2013 đến 15/12/2016 Số liệu trong đề tài này cũng là một phần số liệu của dự án Tôm càng xanh bố trí thí nghiệm trong đề tài này là tôm chọn giống (nhóm CG) thế hệ thứ 6 của dự án tại Viện NTTS II kích cỡ 32 – 62 g/con Nhóm tôm càng xanh tự nhiên tại Bến Tre (nhóm BT) có kích cỡ 30 – 60 g/con Nhóm

BT được thu bằng cách đóng đáy trên sống Cổ Chiên, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

Trang 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện trong hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

Ghi chú: Nhóm gia đình I là phép lai nội nhóm giữa tôm cái và tôm đực nhóm chọn giống thế hệ thứ 6 tại Viện NTTS II (2♀ CG × 1♂ CG); Nhóm gia đình II là phép lai ngoại nhóm giữa tôm cái CG lai với tôm đực

BT (2♀ CG × 1 ♂ BT); Nhóm gia đình III là phép lai ngoại nhóm giữa tôm cái BT lai với tôm đực CG (2♀ BT ×

1 ♂ CG) và nhóm gia đình IV là phép lai nội nhóm giữa tôm cái và tôm đực BT (2♀ BT × 1 ♂ BT)

Đánh giá tăng trưởng và tỉ lệ sống của các gia đình tôm càng xanh

(Macrobrachium rosenbergii de Man, 1987) từ dòng chọn giống và dòng tự

nhiên tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ

II

Ghép cặp sinh sản theo nhóm gia đình III

Ghép cặp sinh sản theo nhóm gia đình

II

Nuôi riêng đàn F1 nhóm gia đình III

Nuôi riêng đàn F1 nhóm gia đình

IV

Đánh giá tăng trưởng, tỉ lệ sống

Kết luận và đề xuất ý kiến

Trang 38

2.2.2 Ghép cặp sinh sản ở các nhóm gia đình tôm

Tiêu chuẩn tôm bố mẹ chọn ghép cặp là tôm khỏe mạnh, không nhiễm bệnh Tôm cái có tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn IV, diện tích buồng trứng chiếm ¾ diện tích giáp đầu ngực khi nhìn từ trên xuống Tôm bố mẹ thuộc nhóm CG và BT được tuyển chọn và ghép cặp sinh sản để tạo ra các nhóm gia đình Tôm CG được nuôi riêng lẻ đực cái trong giai 30 m3 (5m×6m×1m) đặt trong ao 9.750 m2 (150m×65m), sâu 1m Tôm BT được thu bằng cách đóng đáy trên sông Cổ Chiên, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tôm thu về được xử lý bằng Povidine (Iodine 15%) 200 ppm trong

30 phút để loại bỏ nấm và ký sinh trùng trước khi chuyển xuống giai nuôi Tôm BT cũng được nuôi riêng lẻ đực cái trong giai 30 m3 (5m×6m×1m) đặt dưới ao 9.750 m2(150m×65m), sâu 1m

Tỉ lệ tôm đực:cái trong mỗi nhóm gia đình là 1:2 Số lượng tôm mẹ ghép cặp ban đầu được chọn ngẫu nhiên mỗi nhóm là 142 con Khối lượng tôm (Trung bình

±SD) ở nhóm I là 39,6 ± 10,19 g/con, nhóm II là 42,8 ± 7,1 g/con, nhóm III là 53,4 ± 14,5 g/con và nhóm IV là 65,9 ± 22,2 g/con Số lượng gia đình được tạo ra thuộc nhóm I có 36 gia đình, nhóm II có 15 gia đình, nhóm III có 35 gia đình và nhóm IV có

30 gia đình Số lượng các nhóm gia đình không đồng nhất với nhau là do trong quá trình nuôi ghép tôm bị hao hụt Tôm được ghép cặp trên bể composite tròn 1,5 m3, mực nước 1m Thời gian ghép cặp khoảng 50 ngày Trong thời gian ghép cặp tôm được cho ăn 2 lần/ngày, khẩu phần ăn 3% khối lượng tôm Định kỳ thay nước 3 ngày/lần

Trong quá trình ghép cặp, các nhóm tôm được áp dụng phương pháp lai tránh cận huyết Đối với nhóm tôm CG sử dụng những cá thể có giá trị EBV (Established Breeding Value) cao nhất từ kết quả phân tích trên thế hệ chọn giống thứ 6 tại Viện NTTS II

Tôm cái sau giao vĩ được chuyển sang nuôi chung trong giai 30 m3(5m×6m×1m) chờ sinh sản, mỗi giai một nhóm gia đình và giai được đặt dưới ao Môi trường trong ao được theo dõi 2 lần/ngày Tôm sau giao vĩ được cho ăn 2 lần/ngày bằng thức ăn công nghiệp, khẩu phần ăn 5% khối lượng thân tôm Định kỳ thay nước

ao 7 ngày/lần, lượng nước thay 30-40% lượng nước trong ao

Trang 39

Định kỳ 10 ngày tiến hành kiểm tra tôm cái Những tôm cái ôm trứng có màu nâu sẽ được chuyển lên bể ấp nở bằng composite 1,5 m3, mực nước 0,5m (1 con cái/bể) Trước khi cho vào bể, tôm mẹ được xử lý bằng Iodine 15%, 200 ppm trong 30 phút để loại bỏ nấm và ký sinh trùng Sau khi trứng nở thành ấu trùng, tôm mẹ được

vớt ra và chuyển ấu trùng sang ương trong xô nhựa 70L

2.2.3 Ương tôm các nhóm gia đình đến kích cỡ đánh dấu

2.2.3.1 Ương từ ấu trùng lên postlarvae theo quy trình nước trong

Khi trứng nở hết, ấu trùng được vớt cho vào thau và tắm bằng formaline 200 ppm trong 15–30 giây Sau đó, ấu trùng được tắm bằng Indione 10% trong 10–15 giây

Ấu trùng sau khi xử lý xong được chuyển sang ương trong xô nhựa 70 L, lượng nước cấp vào xô là 60 L Ấu trùng được ương riêng theo từng gia đình Thí nghiệm áp dụng qui trình ương nước trong hở, thay nước 2 ngày/lần với lượng nước thay 30–60% thể tích Độ mặn ương ấu trùng là 12‰

Sau khi khoảng 50% ấu trùng phát triển thành postlarvae (PL) tiến hành hạ độ mặn, mỗi ngày hạ khoảng 2‰ bằng cách xiphon (thay nước) cho đến khi ngọt hoàn toàn Điều kiện môi trường luôn được theo dõi 2 lần/ngày Mật độ ương 32 con/lít và

sục khí liên tục Sau khi ấu trùng nở ra 24 giờ tiến hành cho ăn bằng Artemia 2 lần/ngày, mật độ ấu trùng Artemia 1-5 con/ml [64] đến hết ấu trùng giai đoạn IV Đến

ấu trùng giai đoạn V trở đi bắt đầu bổ sung thức ăn chế biến Cho ăn theo khả năng bắt mồi của ấu trùng, cho ăn 4 lần/ngày (sáng, trưa, chiều và tôi) Thành phần thức ăn gồm: 10 trứng gà, 100g sữa bột, 500g tôm đất và 5 ml dầu mực

2.2.3.2 Ương từ postlarvae đến kích cỡ đánh dấu

Sau khi ấu trùng giai đoạn XI đã chuyển thành postlarvae (PL) hoàn toàn tiến hành chuyển sang ương trong bể composite tròn 1.5 m3, thể tích nước nuôi là 1 m3 Mật độ ương 2.400 PL/gia đình/bể, thời gian ương là 30 ngày PL của mỗi gia đình được ương riêng lẽ Điều kiện môi trường được quản lý ổn định và kiểm tra định kỳ 2 lần/ngày PL được cho ăn bằng thức ăn chế biến và thức ăn Grobest số 0-2 có hàm lượng protein 42-43% Thành phần thức ăn gồm: 10 trứng gà, 100g sữa bột, 500g tôm đất và 5 ml dầu mực Cho ăn theo khả năng bắt mồi của PL, 4 lần/ngày (sáng, trưa, chiều và tối) Định kỳ xiphon thay nước 2 ngày/lần, lượng nước thay 30-50%

Trang 40

Sau khi tôm postlarvae từ các gia đình đạt giai đoạn PL 30, chuyển sang ương nuôi riêng trong giai, kích thước 1×1×2 m Giai được đặt trong ao 9750 m2(150m×65m), sục khí liên tục Mật độ nuôi 400 con/giai/gia đình Chế độ chăm sóc và quản lý là như nhau giữa các gia đình Tôm được cho ăn bằng thức ăn Grobest số 0-2

có 42-43% đạm, cho ăn 2 lần/ngày (sáng và chiều), khẩu phần ăn 10-20% khối lượng thân Định kỳ thay nước 1 tuần/lần, lượng nước thay 30-40% lượng nước trong ao Các yếu tố môi trường được theo dõi 2 lần/ngày Thời gian nuôi 60 ngày

2.2.4 Đánh dấu và nuôi tăng trưởng

- Vị trí đánh dấu: Đánh dấu ở mặt bụng của tôm giống ở đốt bụng số 1

và số 6 đều cho kết quả tốt Đánh dấu ở cả bên trái và bên phải nếu lấy vị trí đường ruột của tôm làm ranh giới

- Thao tác đánh dấu: Thao tác đánh dấu nhẹ nhàng, tiêm vào vị trí cần đánh dấu, mũi kim đi sát, song song với mặt bụng của tôm giống Chiều dài vết tiêm tùy thuộc vào kích cỡ của tôm giống nhưng thường từ 1–2 mm Cách khoảng 0,5 mm trước khi rút kim tiêm ra cần ngừng không bơm thêm phẩm màu nữa để tránh phẩm màu theo vết thương rút ra ngoài khi tôm giống bơi lội

Ngày đăng: 19/11/2017, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Việt Thắng. Một số đặc điểm sinh học và ứng dụng qui trình kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở đồng bằng Nam Bộ [Luận án phó tiến sĩ Nông Nghiệp]: Trường đại học Thủy sản Nha Trang; 1993. 175 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
15. Phạm Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Ninh. Nghiên cứu biến dị về màu sắc thịt trắng và thịt vàng của cá tra (Pangasius hypophthalmus). Tuyển tập báo cáo khoa học về nuôi trồng thủy sản: Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2. 2003. p. 59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pangasius hypophthalmus
19. Trần Ngọc Hải, Trần Minh Nhứt và Châu Tài Tảo. Đánh giá sự tăng trưởng và sinh sản của một số nguồn tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở các tỉnh phía Nam. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 2014. (2): p. 101-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
20. Trần Thanh Phục, Vũ Thành Hoàng, Thanh Lịch và Đoàn Văn Bảy. Ứng dụng công nghệ sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thương phẩm qui mô nông hộ ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long. 2005. p. 520-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
21. Aflalo, E. D., Hoang, T. T. T., Nguyen, V. H., Lam, Q., Nguyen, D. M., Trinh, Q. S., et al, . A novel two-step procedure for mass production of all-male populations of the giant freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii. Aquaculture. 2006.256(1): p. 468-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al, ". A novel two-step procedure for mass production of all-male populations of the giant freshwater prawn "Macrobrachium rosenbergii
22. ANG, J. K. và LAW, K. Y. Fecundity changes in Macrobrachium rosenbergii (De Man) during egg incubation. Aquaculture Research. 1991. 22(1): p. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
23. Aquacop, A. Intensive larval rearing of Macrobrachium rosenbergii in recirculating system. ORERO BP 20 PAPEETE TAHITI FRENCH POLYNESIA CNEXO-COP GP 7004 TARAVAO TAHITI FRENCH POLYNESIA.: 1st International Biennal Conference on Warm Water Aquaculture, Crustacea, Feb. 9- 11/1983; Brigham Young University, Hawạ. 1983. p. 385-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
24. Aquacop, A. Macrobrachium rosenbergii (De man) culture in Polynesia: progress in developing a mass intensive larval rearing technique in clear water. 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
25. Argue, B. J., Arce, S. M., Lotz, J. M. và Moss, S. M. Selective breeding of Pacific white shrimp (Litopenaeus vannamei) for growth and resistance to Taura Syndrome Virus. Aquaculture. 2002. 204(3): p. 447-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litopenaeus vannamei
26. Armstrong, D. A., Stephenson, M. J. và Knight, A. W. Acute toxicity of nitrite to larvae of the giant Malaysian prawn, Macrobrachium rosenbergii. Aquaculture.1976. 9: p. 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
28. Bart, A. N. và Yen, P. T. Comparison of larval performance between Thai and Vietnamese freshwater giant prawn, Macrobrachium rosenbergii (de Man): a preliminary study. Aquaculture Research. 2003. 34(15): p. 1453-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
29. Bentsen, H. B., Eknath, A. E., Palada-de Vera, M. S., Danting, J. C., Bolivar, H. L., Reyes, R. A., et al, . Genetic improvement of farmed tilapias: growth performance in a complete diallel cross experiment with eight strains of Oreochromis niloticus.Aquaculture. 1998. 160(1): p. 145-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al, ". Genetic improvement of farmed tilapias: growth performance in a complete diallel cross experiment with eight strains of "Oreochromis niloticus
32. Dinh, H. và Nguyen, N. H. Genetic inheritance of female and male morphotypes in giant freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii. PloS one. 2014.9(2): p. e90142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
33. Dobkin, S. và Bailey, D. J. Growth rates of Macrobrachium rosenbergii in south Florida. 2. Growth of intraspecific hybrids. Wiley Online Library. Report No Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
36. Fujimura, T. và Okamoto, H. Notes on progress made in developing a mass culturing technique for Macrobrachium rosenbergii in Hawaii. In T.V.R. Pillay, ed.Coastal aquaculture in the Indo-Pacific region: West Byfleet, England, Fishing News Books. 1972. 313-27 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
39. Hedgecock, D., Stelmach, D. J., Nelson, K., Lindenfelser, M. E. và Malecha, S. R. Genetic divergence and biogeography of natural populations of Macrobrachium rosenbergii: Wiley Online Library. 1979. 873-9 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
40. Hetzel, D. J., Crocos, P. J., Davis, G. P., Moore, S. S. và Preston, N. C. Response to selection and heritability for growth in the Kuruma prawn, Penaeus japonicus. Aquaculture. 2000. 181(3): p. 215-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus japonicus
41. Holthuis, L. B. Nomenclature and taxonomy. In M.B. New &amp; W.C. Valenti, eds. Freshwater prawn culture: the farming of Macrobrachium rosenbergii: Oxford, England, Blackwell Science. 2000. 12-7 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
44. Hung, D., Nguyen, N. H., Hurwood, D. A. và Mather, P. B. Quantitative genetic parameters for body traits at different ages in a cultured stock of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii) selected for fast growth. Marine and Freshwater Research. 2014. 65(3): p. 198-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrobrachium rosenbergii
92. FAO. FishStatJ, a tool for fishery statistics analysis. Release: 2.12.5. Available from: http://www.fao.org/fishery/statistics/software/fishstatj/en. 2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm