LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: " Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nhằm nâng cao hiệu quả sinh sản và ương nuôi ấu trùng nghêu Bến Tre Mere
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN HƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT KÍCH THÍCH SINH SẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SINH SẢN
VÀ ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG NGHÊU BẾN TRE
Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TẠI NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nam Định, 01/2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN HƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT KÍCH THÍCH SINH SẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SINH SẢN
VÀ ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG NGHÊU BẾN TRE
Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TẠI NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH MÃO Khoa sau đại học:
Nam Định, 01/2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: " Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nhằm nâng cao hiệu quả sinh sản và ương nuôi ấu trùng
nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tại Nam Định." là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Tác giả
Nguyễn Hương Thảo
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Viện Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Nha Trang Đồng thời tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Công ty TNHH thủy sản Minh Phú xã Bạch Long huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Quốc Hùng đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Hương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan iii
Lời cảm ơn iii
Mục lục v
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của nghêu Meretrix lyrata 3
1.1.1 Hệ thống phân loại và hình thái cấu tạo 3
Hệ thống phân loại: Theo (Hylleber Kilbuin, 2003) nghêu thuộc: 3
1.1.2 Hình thái cấu tạo 3
1.1.2.1 Cấu tạo vỏ ngoài 3
1.1.2.2 Cấu tạo trong 4
1.1.3 Đặc điểm phân bố 6
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 7
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo động vật thân mềm hai mảnh vỏ trên thế giới 10
1.2.1 Về hệ thống trại sản xuất giống 10
1.2.2 Về công nghệ sản xuất giống nghêu 12
1.2.2.1 Kỹ thuật nuôi vỗ nghêu bố mẹ 12
1.2.2.2 Kỹ thuật kích thích sinh sản 13
1.2.2.3 Kỹ thuật ương ấu trùng nghêu giai đoạn bơi tự do (D-veliger) 14
1.2.2.4 Kỹ thuật ương ấu trùng bò lê và nghêu giống 15
1.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam 16
1.3.1 Về công nghệ sản xuất giống 17
1.3.1.1 Nuôi vỗ nghêu bố mẹ 17
1.3.3.3 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nghêu giai đoạn bơi tự do (D -veliger) 19
1.3.3.4 Giai đoạn sống đáy và ương nuôi con giống sau khi xuống đáy 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng 22
2.1.3 Địa điểm 22
Trang 62.2 Vật liệu nghiên cứu 22
2.2.1 Nguồn nước 22
2.2.2 Thức ăn 23
2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
2.3.1 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nghêu bố mẹ 25
2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật ương ấu trùng sống trôi nổi (veliger) 28
2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 30
2.3.1 Thu mẫu 30
2.3.1.1 Xác định sự phát triển của tuyến sinh dục nghêu 30
2.4.1.2 Xác định tỷ lệ sinh sản của nghêu 30
2.4.1.3 Xác định tỷ lệ nở của trứng 30
2.4.1.4 Xác định tốc độ tăng trưởng của ấu trùng nghêu 31
2.4.1.5 Xác định tỷ lệ sống của ấu trùng 31
2.4.2 Xử lý thống kê 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Xác định biện pháp kích thích đến sinh sản của nghêu 33
3.2 Kỹ thuật ương ấu trùng nghêu giai đoạn D-veliger 35
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu giai đoạn D - veliger 35
3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu giai đoạn D - veliger 40
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Đề xuất ý kiến 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ thành thục Nghêu (M mercenaria) 13
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu đánh giá nghêu sinh sản theo các biện pháp kích thích sinh sản 33
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu về môi trường nước trong ao thí nghiệm ương ấu trùng D-veliger theo mật độ 36
Bảng 3.3 Tăng trưởng của ấu trùng nghêu giai đoạn D -veliger theo mật độ thí nghiệm 37 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ nuôi tới tốc độ tăng trưởng và thời gian biến thái của ấu trùng ngao (Nguyễn Quang Đông, 2013) 38
Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao (Nguyễn Quang Đông, 2013) 38 Bảng 3.6.Tỷ lê sống của ấu trùng theo mật độ thí nghiệm 39
Bảng 3.7 Các chỉ tiêu về môi trường nước trong ao thí nghiệm ương ấu trùng D-veliger theo thức ăn 41
Bảng 3.8 Tăng trưởng của ấu trùng nghêu theo thí nghiệm về thức ăn 42
Bảng 3.9 Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng ngao (Nguyễn Quang Đông, 2013 43
Bảng 3.10 Tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu theo thí nghiệm về thức ăn 44
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nghêu Meretrix lyrata, Sowerby (1851) 3
Hình 1.2 Cấu tạo trong của nghêu 4
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của nghêu 9
Hình 1.4 Hệ thống bè và mương nổi ương nghêu giống 20
Hình 1.5 Hệ thống nuôi vỗ nghêu bố mẹ 18
Hình 1.6 Hệ thống bể hình trụ và toàn bộ hệ thống ương nuôi ấu trùng xuống đáy 21
Hình 1.7 Ấu trùng nghêu xuống đáy thành con giống; nền đáy nhân tạo 21
Hình 2.1 Nghêu Meretrix lyrata, Sowerby (1851) 22
Hình 2.2 Nuôi sinh khối tảo trong bể và trong túi nylon 24
Hình 2.3 Ao nuôi cấy tảo, làm thức ăn cho ấu trùng và nghêu giống 24
Hình 2.4 Kiểm tra tuyến sinh dục của nghêu bố mẹ 26
Hình 2.5 Kích thích nghêu sinh sản bằng biện pháp sốc nhiệt 27
Hình 2.6 Kích thích nghêu sinh sản bằng biện phơi 28
Hình 2.7 Lọc ấu trùng D - veliger 28
Hình 3.1 Đo kích thước ấu trùng qua kính hiển vi 36
Hình 3.2 Tăng trưởng của ấu trùng nghêu giai đoạn D-veliger theo thí nghiệm mật độ 39
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu giai đoạn D-veliger theo thí nghiệm mật độ 40
Hình 3.4 Tăng trưởng của ấu trùng giai đoạn D-veliger theo thí nghiệm thức ăn 42
Hình 3.5.Tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu theo thí nghiệm thức ăn 44
Trang 9BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
I THÔNG TIN CHUNG
Tên luận văn: " Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nhằm nâng
cao hiệu quả sinh sản và ương nuôi ấu trùng nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby
1851) tại Nam Định."
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Tên tác giả: Nguyễn Hương Thảo MSHV: 56CH385
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Quốc Hùng
Thời gian bảo vệ: Tháng 3/2017
II NỘI DUNG
Nam Định là tỉnh ven biển có nhiều bãi bồi rộng lớn và nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, phù hợp cho nghề nuôi nghêu Trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Nam Định xác định nghêu là một trong những đối tượng thủy sản chủ lực để phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Đồng thời phấn đấu xây dựng Nam Định trở thành trung tâm sản xuất giống nghêu của vùng đồng bằng sông Hồng Vì vậy việc "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nhằm nâng cao hiệu quả sinh sản và
ương nuôi ấu trùng nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tại Nam Định." là
cần thiết
Nghiên cứu biện pháp kích thích sinh sản, thí nghiệm bố trí với 3 nghiệm thức
là ba biện pháp kích thích sinh sản khác nhau Nghiệm thức thứ nhất sử dụng biện pháp sốc nhiệt, nghiệm thức thứ hai sử dụng biện pháp phơi nghêu bố mẹ, nghiệm thức thứ ba sử dụng biện pháp sốc độ mặn, mỗi nghiễm thức được lặp lại 3 lần Kết quả thí nghiệm cho thấy, biện pháp kích thích sinh sản chỉ ảnh hưởng đến thời gian gây hiệu ứng kích thích, nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia sinh sản của mghêu Vì vậy tùy vào điều kiện cụ thể để lựa chọn biện pháp kích thích
Nghiên cứu kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nghêu giai đoạn D -veliger với các thí nghiệm là xác định ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của
ấu trùng nghêu
Trang 10Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu, thí nghiệm bố trí với ba nghiệm thức là ba mật độ ương nuôi ấu trùng khác nhau (5con/ml, 10 con/ml, 15 con/ml) Kết quả thí nghiệm cho thấy, sau 7 ngày ương, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tỷ lệ nghịch với mật độ ương nuôi Khi ương nuôi ở mật độ càng thấp thì tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống càng cao Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống ở mật độ ương nuôi 5 con/ml và 10 con/ml khác nhau không có ý nghĩa thống kê, và so với nghiệm thức 15 con/ml thì khác nhau có ý nghĩa thống kê Vì vậy có thể lựa chọn mật độ 5 con/ml và 10 con/ml để đưa vào sản xuất
Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu giai đoạn D-veliger, thí nghiệm bố trí với ba nghiệm thức là ba loại thức ăn khác
nhau Nghiệm thức thứ nhất sử dụng thức ăn là hai loại tảo Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans, tỉ lệ 1:1 Nghiệm thức thứ hai sử dụng hỗn hợp tảo tự nhiên
trong ao gây nuôi bằng phân gà ủ hoai mục, nghiệm thức thứ ba sử dụng hỗn hợp tảo
tự nhiên trong ao gây nuôi bằng phân gà ủ hoai mục và bổ sung thêm hai loại tảo
Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans, tỉ lệ 1:1 Kết quả thí nghiệm cho
thấy, sau 7 ngày ương tốc độ tăng trưởng của ấu trùng nghêu ương ở nghiệm thức 1 thấp nhất, khác nhau có ý nghĩa so với ấu trùng ở nghiệm thức 2 và nghiệm thức 3 Như vậy, chất lượng thức ăn, sự đa dạng loài tảo trong thức ăn đã ảnh hưởng đến tốc
độ tăng trưởng của ấu trùng nghêu Ở điều kiện đa dạng về thành phần thức ăn, tốc độ tăng trưởng của ấu trùng nghêu nhanh hơn Vì vậy có thể ương nuôi ấu trùng bằng hỗn hợp tảo tự nhiên trong ao gây nuôi bằng phân bón hoặc ngoài việc sử dụng hỗn hợp tảo
tự nhiên trong ao bằng phân bón thì bổ sung thêm 2 loại tảo Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans, tỷ lệ 1:1
Trang 11MỞ ĐẦU
Nam Định có 72 km bờ biển nằm ở vị trí khoảng 19050’ đến 20020’ độ vĩ Bắc;
10600’ đến 106040’ độ kinh Đông gồm ba huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng với 77 xã, 7 thị trấn trong đó có 21 xã và 3 thị trấn giáp biển Bờ biển bị chia cắt bởi các cửa sông lớn là sông Hồng, sông Sò, sông Ninh Cơ và sông Đáy tạo nên sự đa dạng về địa hình Tại các vùng cửa sông, bờ biển hàng năm được bồi tụ bởi hàng triệu mét khối phù sa hình thành nên sinh cảnh đất ngập nước với hàng nghìn ha rừng ngập mặn, xen lẫn bãi bồi, đầm lầy và các con lạch Hàng năm có hàng triệu mét khối phù sa đổ về, mang nguồn phù sa bồi đắp thành những bãi bồi rộng lớn và nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cho các loài thủy hải sản sinh trưởng và phát triển Đây là điều kiện rất thuận lợi, là tiềm năng, lợi thế cho phát triển nuôi các loài nhuyễn thể đặc biệt là nuôi nghêu
Xác định được tiềm năng lợi thế đó Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Nam Định theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được UBND tỉnh phê duyệt xác định nghêu là một trong những đối tượng thủy sản chủ lực để phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Đồng thời một trong những nội dung của Đề án là phấn đấu xây dựng Nam Định trở thành trung tâm sản xuất giống nghêu của vùng đồng bằng sông Hồng
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nam Định có 115 cơ sở sản xuất giống hải sản, đã chủ động công nghệ sản xuất giống nhiều đối tượng, tuy nhiên đối với công nghệ sản xuất giống nghêu còn đang bị hạn chế do phụ thuộc vào lượng thức ăn (tảo sinh khối) nuôi trong túi hoặc bể không ổn định, thường xuyên bị thiếu hụt, lượng giống sản xuất hàng năm còn hạn chế chưa đáp ứng nhu cầu nuôi thả của ngư dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận
Để hoàn thành mục tiêu xây dựng Nam Định thành trung tâm sản xuất giống nghêu của vùng đồng bằng sông Hồng mà Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh
đã đặt ra, đồng thời cung cấp đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng con giống phục
vụ nhu cầu nuôi tha của nông ngư dân là một vấn đề cấp thiết Do đó, cần phải đẩy mạnh nghiên cứu lựa chọn biện pháp kích thích sinh sản và ương nuôi ấu trùng nhằm nâng cao hiệu quả, tỷ lệ sống của ấu trùng là công việc cần được quan tâm triển khai
Trang 12của Viện Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Nha Trang tôi đề xuất thực hiện đề tài: " Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản nhằm nâng cao hiệu
quả sinh sản và ương nuôi ấu trùng nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
tại Nam Định"
Đề tại được thực hiện với mục tiêu và nội dung như sau:
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định được biện pháp kích thích sinh sản nhằm nâng cao hiệu quả sinh sản
của nghêu bố mẹ
- Xác định được một số chỉ tiêu kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nghêu sống trôi nổi
(Veliger) đến xuống đáy (Spat)
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu các biện pháp kích thích sinh sản
- Nghiên cứu xác định các biện pháp ương nuôi ấu trùng giai đoạn trôi nối
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học của nghêu Meretrix lyrata
1.1.1 Hệ thống phân loại và hình thái cấu tạo
Hệ thống phân loại: Theo (Hylleber Kilbuin, 2003) nghêu thuộc:
Ngành: Mollusca
Lớp: Bivalvia Lớp phụ: Heterodonta Bộ: Veneriada Họ: Veneriadae
Giống: Meretrix
Meretrix lyrata (G.B.Sowerby II, 1851) Loài Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) có tên tiếng Việt là nghêu Bến Tre, ngao
trắng, (ngao Bến Tre) tên tiếng Anh là lyrate asiatic hard clam
Hình 1.1 Nghêu Meretrix lyrata, (Sowerby, 1851)
1.1.2 Hình thái cấu tạo
1.1.2.1 Cấu tạo vỏ ngoài
Theo Trương Quốc Phú, (1998) nghêu có hai vỏ bằng nhau, dạng hình tam giác Hai vỏ gắn với nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng
Trang 14đàn hồi dùng để mở vỏ Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm, bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau một khoảng bằng 1/4 chiều dài của cạnh sau Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên bề mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn, nhỏ, màu trắng, xung quanh có một viền màu nâu nhạt Mặt thuận có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt, nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ Bên trong vỏ, phía dưới đỉnh vỏ và bản lề có mặt khớp Mặt khớp có răng khớp lại với nhau rất khít, răng khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau Mặt khớp của vỏ trái có 4 mấu lồi
và 3 hố lõm, 3 trong 4 mấu lồi dính lại nhau ngay sát đỉnh vỏ vỏ có dạng chẽ ba, mấu lồi phía cạnh trước ngắn, nhọn nằm riêng rẽ, mấu lồi phía cạnh sau có dạng dài, bắt đầu
từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau, chiều dài bằng chiều dài của bản lề Mặt khớp của
vỏ phải có 3 mấu lồi và 4 hố lõm tương ứng với vỏ trái khi khớp lại với nhau Mặt trong của vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khép vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo
và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ
có tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh; từ vết in màng áo trở vào có tầng xà cừ đục Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau hình tròn [9]
1.1.2.2 Cấu tạo trong
Hình 1.2 Cấu tạo trong của nghêu
Trang 15Màng áo: Phần thịt mềm của nghêu được bao bọc bởi màng áo, nó được cấu tạo
bao bọc bởi hai lớp cơ mỏng, dày nhất là phần rìa Hai nửa của màng áo được đính vào
vỏ từ vùng lưng tới đường mép áo, nhưng tự do ở phần mép áo Phần dày của mép áo
có hoặc không có sắc tố và có 3 nếp gấp Chức năng chính của màng áo là tiết ra vỏ, tuy nhiên chúng còn có chức năng cảm giác và có thể điều khiển việc đóng kín vỏ khi gặp điều kiện bất lợi về môi trường Ngoài ra, màng áo còn có thể điều khiển lượng nước vào xoang
cơ thể và hô hấp
Cơ khép vỏ: Có hai vị trí đính cơ khép vỏ nằm ở gần vùng trước và sau của vỏ Cơ
khép vỏ có vai trò ngược lại với dây chằng và bản lề, chúng làm mở vỏ, trong khi cơ được nghỉ ngơi
Mang: Các mang nổi lên là đặc điểm chính của phân lớp mang tấm
(lamellibranches), lá mang rộng, đóng vai trò vừa là cơ quan thực hiện chức năng hô hấp, vừa lọc thức ăn trong nước Hai phần của mang (lá mang) nằm ở hai bên của cơ thể, vị trí cuối cùng ở phía trước, hai bên nắp, xung quanh miệng và chuyển thức ăn trức tiếp vào miệng
Chân: Nghêu có cấu tạo một chân phát triển, chức năng để đào xuống nền đáy và
cố định cơ thể vào trong nền đáy Đây là đặc điểm đặc trưng của loài, bởi vì ở các loài khác: scallop, vẹm, hàu… chân bị tiêu giảm hoặc có thể có ít chức năng
Hệ thống tiêu hoá: Hệ thống mang lớn lọc thức ăn từ nước rồi chuyển thẳng tới
xúc tu, nằm ở xung quang miệng, thức ăn được làm mềm rồi chuyển vào trong miệng nghêu có thể lựa chọn, lọc thức ăn trong nước, viên và nén thức ăn với chất nhầy, đưa vào miệng rồi được đẩy ra vùng xúc tu và thải ra khỏi cơ thể giống như “phân giả” Một ống thực quản ngắn dẫn từ miệng tới dạ dày, nơi phình ra dạng túi rộng với một vài chỗ
mở Dạ dày được bao quanh toàn bộ bởi tuyến tiêu hoá, một lớp cơ màu tối gọi là gan Một đường dẫn từ dạ dày tới đám ruột, kéo dài tới chân, cuối cùng là ruột thẳng và kết thúc ở hậu môn Một đường dẫn khác từ dạ dày tới một túi kín, giống như ống sạch, trong như pha lê, chứa các màng nhầy protein, tiết ra các enzym tiêu hoá để chuyển hoá tinh bột thành đường có thể tiêu hoá được
Hệ thống tuần hoàn: Nhóm hai mảnh vỏ có hệ thống tuần hoàn thông thường,
Trang 16khó mô tả Tim nằm ở một túi trong suốt, màng ngoài tim gần với cơ khép vỏ Tim có hai ngăn không đều nhau: tâm thất và tâm nhĩ Các động mạch chủ trước và động mạch chủ sau xuất phát từ tâm thất vận chuyển máu tới các cơ quan trong cơ thể Hệ thống thần kinh là một chuỗi xoang bao mỏng, không rõ ràng dẫn máu trở về tim
1.1.3 Đặc điểm phân bố
Ở Việt Nam, nghêu phân bố nhiều ở Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Chu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) Vùng có sản lượng nghêu cao nhất là vùng ven biển thuộc các tỉnh Tiền Giang và Bến Tre [2,11]
Nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2-8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy nghêu lúc nước ròng khoảng 1,5-2,5 m Nghêu phân bố ở vùng có nền đáy cát mịn đến cát có pha lẫn bùn lỏng (10-18%); vào mùa mưa, bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi nghêu 1,5-2,5 cm Vùng phân bố của nghêu có độ mặn dao động trong khoảng 7-25‰, nhiệt độ là 26-32oC Các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi nghêu biến đổi rõ rệt theo mùa, chúng phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi nghêu [1]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Quayle, D.B và Newkirk, G.F (1989) nhóm động vật thân mềm hai mảnh
vỏ nói chung bắt mồi theo kiểu lọc có chọn lọc theo kích cỡ thức ăn Những hạt thức ăn
quá to, những loài tảo có kích thước lớn, như Chaetoceros, Skeletonema, Bacteriastrum
thường khó bắt được, đặc biệt giai đoạn ấu trùng Cỡ hạt thức ăn mà chúng có thể lọc được có kích thước từ 10-100 µm [28]
Trương Quốc Phú, (1998) tiến hành phân tích thức ăn trong dạ dày nghêu cho thấy,
có sự xuất hiện hai thành phần chính là mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82- 90,38% và 44 loài
tảo, chiếm 9,62-21,18% Trong đó, tảo silic (Bacillariophyta) chiếm đa số với 41 loài (93,18%), tảo giáp (Pyrophyta) có một loài (2,27%) và hai loài tảo lam (Cyanophyta) chiếm 4,55%, nhưng không thấy sự có mặt của tảo lục (Chlorophyta) [9]
Theo Nguyễn Hữu Phụng, (1996) thành phần thức ăn chính của nghêu ở vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo đơn bào chiếm từ 10-25% Trong thành
Trang 17phần tảo thì tảo silic chiếm 90-95%, tảo giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8-1% [11]
Như vậy thức ăn của nghêu có biến động theo vùng phân bố và theo mùa, làm thay đổi tỷ lệ hai thành phần chính là mùn bã hữu cơ và các loài tảo Tuy nhiên, tỷ lệ tảo trong
dạ dày nghêu chiếm tỷ lệ thấp, dao động trong khoảng 9-25% Đây là đặc điểm cần lưu ý trong việc sản xuất tảo sinh khối làm thức ăn cho nghêu trong quá trình sản xuất
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Nghêu Bến Tre (M lyrata) là loài phân tính, nhưng không phân biệt được cá thể đực
cái thông qua hình dáng ngoài Có một tỷ lệ nhỏ nghêu trong quần thể phát hiện là lưỡng tính Tuyến sinh dục chỉ phát triển mạnh trong mùa vụ sinh sản Xác định giới tính của nghêu chỉ có thể được phân biệt sau khi mở vỏ, bằng mắt ở giai đoạn thành thục thông qua màu sắc, nghêu đực có màu sắc trắng sữa, nghêu cái có màu vàng nhạt Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính hiển vi mới có thể khẳng định chính xác giới tính của nghêu [9]
Nghêu bắt đầu thành thục sinh dục sau 12 tháng nuôi có thể tham gia sinh sản lần đầu Mùa vụ sinh sản tự nhiên của nghêu diện ra vào thời gian cuối mùa xuân tới hết mùa
hè (từ tháng tư đến tháng chín) [9]
Theo Quayle, D.B và Newkirk, G.F (1989) việc thay đổi một vài yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ mặn sẽ kích thích sự chín sinh dục của các loài nhuyễn thể nói chung, trong đó có nghêu Vào mùa xuân, khi nhiệt độ nước bắt đầu ấm dần lên, nó kích thích sự phát triển của buồng trứng [28]
Theo Quayle, D.B và Newkirk, G.F (1989) và Trương Quốc Phú, (1998) quá trình phát triển tuyến sinh dục của Nghêu được phân biệt theo 5 giai đoạn sau [9, 28]:
- Giai đoạn 0: Tuyến sinh dục không rõ ràng, không xác định được giới tính, chưa có sự
hiện diện của follicule Mô leydig chiếm toàn bộ tuyến sinh dục
Tuyến sinh dục chuyển sang giai đoạn 1 đã có sự phân tính đực, cái:
* Tuyến sinh dục đực:
- Giai đoạn 1: Nang tinh bắt đầu xuất hiện, chúng vẫn còn nhỏ và nằm rải rác
chen lẫn trong mô leydig, các tế bào phát triển đùn đẩy lẫn nhau tạo thành những
Trang 18chuỗi tế bào hướng tâm Các nang tinh có màu hồng sậm khi nhuộm hai màu Khó phân biệt từng tế bào khi quan sát dưới kính hiển vi
- Giai đoạn 2: Các nang tinh phát triển rộng chiếm hết không gian của leydig
Tương tự như ở giai đoạn 1, các nang tinh có màu hồng sậm (hơi tím), khó phân biệt từng tế bào
- Giai đoạn 3: Nang tinh chứa đầy các tinh trùng sẵn sàng tham gia sinh sản Khi
chuyển sang giai đoạn chín nang tinh có vách mỏng, các tế bào sinh dục hầu như chỉ có nhân, rất ít tế bào chất nên khi quan sát tinh trùng có màu xanh đen (nhân tế bào ăn màu của thuốc nhuộm hematoxyline có màu xanh đen)
- Giai đoạn 4: Sau khi sinh sản, tuyến sinh dục đực chứa các nang tinh rỗng và bị
rách nát Dọc theo các vách nang vẫn còn sót lại một số tinh trùng
* Tuyến sinh dục cái:
- Giai đoạn 1: Bắt đầu có sự hiện diện của nang trứng, nhưng vẫn còn nhỏ, rỗng
bên trong, khó phân biệt từng tế bào Các tế bào này có màu hồng nhạt khi nhuộm hai màu (hematoxyline và eosin)
- Giai đoạn 2: Các nang trứng bắt đầu phồng lên thay thế toàn bộ mô leydig, bên
trong các noãn bào đã phát triển lấp đầy khoảng trống của nang trứng Các noãn bào tích lũy noãn hoàng, trong nang trứng bắt đầu xuất hiện một vài tế bào lớn có màu hồng nhạt có thể nhìn thấy nhân tế bào đó là trứng vừa chuyển sang giai đoạn chín
- Giai đoạn 3: Giai đoạn trứng chính sẵn sàng tham gia sinh sản Các nang trứng
phồng to, vách mỏng, bên trong nang chứa đầy trứng chín Tế bào trứng chín cũng gia tăng kích thước và có hình đa giác hay tròn hoặc bầu dục Nói chung, hình dạng rất đa dạng Trứng có màu hồng nhạt có thể nhìn rõ nhân và hạch nhân
- Giai đoạn 4: Nghêu vừa sinh sản xong Tuyến sinh dục chứa nhiều nang trứng
rách nát và trống rỗng Trong nang trứng còn sót lại một vài trứng
Trang 19Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của nghêu (độ phóng đại 80 lần)
(Trương Quốc Phú, 1998)
Trang 20Ghi chú: A: tuyến sinh dục giai đoạn 0; B: tuyến sinh dục lưỡng tính; C: tuyến sinh dục đực giai đoạn 1; D: tuyến sinh dục đực giai đoan 2; E: tuyến sinh dục đực giai đoạn 3; F: tuyến sinh dục đực giai đoạn 4; G: tuyến sinh dục cái giai đoạn 1; H: tuyến sinh dục cái giai đoạn 2; I: tuyến sinh dục cái giai đoạn 3; J: tuyến sinh dục cái giai đoạn 4
Trứng và tinh trùng được phóng ra từ nghêu bố mẹ vào trong nước Thông thường, trong một quần thể, nghêu đực phóng tinh trước, nó đóng vai trò giống hormon kích thích sự rụng trứng của nghêu cái Thời gian thụ tinh tiến hành trong nước, ngoài cơ thể động vật Phôi xuất hiện sau 30 phút sau khi thụ tinh, phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường xung quanh Phân chia tế bào được tiến hành trong thời gian 24 giờ trước khi chuyển sang giai đoạn ấu trùng chữ “D” - đỉnh vỏ thẳng Ấu trùng nghêu trai qua giai đoạn phù du (giai đoạn bơi tự do) khoảng 8 đến 10 ngày, phụ thuộc vào nguồn thức ăn
và nhiệt độ nước, trở thành ấu trùng xuống đáy
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo động vật thân mềm hai mảnh vỏ trên thế giới
Công nghệ sản xuất giống nhân tạo các đối tượng động vật thân mềm hai mảnh vỏ được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất ở châu Âu và Hoa Kỳ trong những năm 1960; một số đối tượng chính trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã được cải tiến và phát triển tiếp theo thời gian sau đó [17]
Nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên thế giới liên quan đến sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung gồm:
hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu đá Sedney (S commercialis), hàu Mỹ (C virginica), hàu dẹt châu Âu (Ostrea edulis) và Nghêu dầu (Meretrix meretrix), Nghêu mật (M lusoria), Nghêu Manila (Mercenaria mercenaria), Nghêu lụa Tape (Tapes philippinarum) [17]
1.2.1 Về hệ thống trại sản xuất giống
Theo Helm, M.M và Bourne, N (2004) , một trong những yêu cầu cơ bản của trại sản xuất giống nghêu là phải nằm ở những nơi không bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuận tiện, có nguồn điện chủ động và thuận tiện trong việc trao đổi thông tin, liên lạc Bên cạnh đó, ngoài việc xây dựng trại giống
Trang 21hiệu quả kinh tế, thuận tiện trong vận hành sử dụng, người ta cũng tính đến việc dự phòng để mở rộng, nâp cấp trại trong tương lai [22]
Theo Jones, G.G., Sanford, C.L., Jones, B.L., (1993) một số hệ thống quan trọng
trong thiết kế, vận hành trại sản xuất giống nghêu Manila (M mercenaria) như sau:
- Hệ thống nuôi vỗ nghêu bố mẹ: Được thiết kế với hệ thống nước chảy và hệ
thống nước tĩnh, mỗi hệ thống đều có tính ưu việt riêng Đối với hệ thống nước chảy: nghêu được nuôi trong điều kiện tuần hoàn nên môi trường sạch hơn, dòng chảy của nước là một trong những nhân tố kích thích sự chín của tuyến sinh dục nên nghêu có thời gian thành thục nhanh hơn Tuy nhiên, trong hệ thống nước tĩnh, việc theo dõi nhằm loại bỏ những cá thể sinh sản không mong muốn dễ dàng hơn, việc duy trì nhiệt
độ, quản lý thức ăn và kỹ thuật vận hành cũng dễ dàng hơn [25]
- Hệ thống ương ấu trùng: Nước cấp vào hệ thống ương ấu trùng được lắng, sau
đó qua thiết bị lọc cát và lọc tinh 5µm Ấu trùng nghêu Manila được ương trong điều kiện độ mặn tối ưu là 25‰ và nhiệt độ tối ưu 23oC Hiện tại, có hai phương pháp ương
ấu trùng đang được ứng dụng trong sản xuất, đó là: hệ thống nước chảy và hệ thống nước tĩnh Hệ thống nước chảy cho phép ương ấu trùng ở mật độ cao hơn, tốc độ sinh trưởng của ấu trùng nhanh hơn so với hệ thống nước tĩnh, nhưng chi phí đầu tư thiết bị,
hệ thống cao hơn, cũng như đòi hỏi kỹ năng vận hành hệ thống cao hơn [25]
- Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy: Ấu trùng nghêu đến giai đoạn biến thái, xuất
hiện bò lê được tiến hành lọc và thu bằng rây lọc có mắt lưới 150 m, sau đó chuyển tới
hệ thống thu ấu trùng xuống đáy, là những khay lưới nổi trên bề mặt ao, tạo mặt thoáng
để ấu trùng có thể bò trên bề mặt hoặc bơi lội tự do Nước biển đã qua xử lý cấp trực tiếp vào hệ thống rây, từ phía trên miệng khay và thoát qua đáy khay, hoặc nước được cấp vào khay từ dưới đáy và thoát ra ngoài ở phía trên miệng khay Nền đáy không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu ở giai đoạn này [25]
- Hệ thống thuần hoá con giống spat: Các trại giống có thể có hoặc không có hệ
thống ương thuần hoá con giống trước khi nuôi thương phẩm Hệ thống thuần hoá là
bộ phận tách rời khỏi trại giống, có thể được xây dựng cho người nuôi để họ chủ động phần công việc này trước khi đem con giống ra vùng nuôi Hệ thống này có thể nằm
Trang 22tách rời khỏi trại sản xuất Nó được thiết kế đa dạng, trên nguyên tắc vận hành của hai
hệ thống giống như thu ấu trùng xuống đáy và có thể được lắp đặt trong trại sản xuất hoặc ngoài ao ương Nguyên lý hoạt động của hệ thống này là việc thay đổi một cách
từ từ điều kiện ương nuôi để cho con giống quen dần với môi trường bên ngoài và cuối cùng là sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên Đây là công đoạn được xem là quan trọng trước khi chuyển con giống từ trại sản xuất ra vùng nuôi thương phẩm ngoài tự nhiên, bởi vì nghêu giống dễ bị stress nếu chúng bị thay đổi môi trường đột ngột, đặc biệt là từ môi trường được kiểm soát sạch sẽ sang môi trường ngoài tự nhiên[25]
1.2.2 Về công nghệ sản xuất giống nghêu
Nancy H Hadley and Jack M Whetstone, (2007) đã phát triển công nghệ sinh
sản nhân tạo giống nghêu M mercenaria gồm có 5 công đoạn chính gồm :
- Lưu giữ và nuôi vỗ nghêu bố mẹ;
- Kích thích sinh sản;
- Ương nuôi ấu trùng;
- Ương nuôi ấu trùng xuống đáy;
- Sản xuất thức ăn (sản xuất sinh khối tảo)
Các giai đoạn này được hỗ trợ bởi những hệ thống xử lý và cung cấp nước mặn và ngọt, hệ thống cung cấp khí, cung cấp ánh sáng cho nuôi cấy sinh khối tảo và các thiết
bị kiểm tra, theo dõi ấu trùng, nghêu giống và môi trường [26]
1.2.2.1 Kỹ thuật nuôi vỗ nghêu bố mẹ
Nghêu bố mẹ thành thục sinh dục tốt hơn nếu trong quá trình nuôi vỗ chúng được cung cấp một lượng tảo tự nhiên kết hợp với hỗn hợp các loài tảo sản xuất được trong trại sản xuất, bởi vì tính đa dạng về thức ăn sẽ tạo nên giá trị dinh dưỡng cao giúp nghêu phát triển tuyến sinh dục Số lượng và chất lượng trứng của nghêu phụ thuộc vào tuổi, kích cỡ của nghêu bố mẹ và chất lượng thức ăn trong quá trình nuôi vỗ Nghêu bố mẹ được lựa chọn những cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh, từ 2-3 năm tuổi, được nuôi vỗ
ở nhiệt độ 18oC trong thời gian từ 6 đến 9 tuần, với thức ăn từ nguồn tự nhiên và bổ
sung hỗn hợp các loài tảo đơn bào Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata,
Trang 23Chaetoceros gracilis, Tahitial isochrysis, hàm lượng 1 lít/0,5 kg nghêu/1 giờ cho tỷ lệ
thành thục cao hơn nhiều so với nghêu thu ngoài tự nhiên [26]
Nuôi vỗ là quá trình làm cho nghêu trưởng thành phát sinh giao tử và chín muồi của buồng trứng, sẵn sàng để tham gia sinh sản Nghêu thường được nuôi vỗ trong vòng 2-8 tuần, nhưng tùy thuộc vào từng thời điểm trong năm và tình trạng sinh lý của nghêu Đối với nghêu đã thành thục có thể được duy trì trạng thái này đến 6 tháng bằng cách lưu giữ chúng ở điều kiện nhiệt độ thấp (18-20°C) và cung cấp một lượng thức ăn dồi dào [26]
Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ thành thục Nghêu (M mercenaria)
(Nancy H Hadley and Jack M Whetstone , 2007)
Độ mặn (‰) 25-35
Nhiệt độ (oC) 18-20
oC đối với lưu giữ và nuôi vỗ nghêu 22-23oC đối với nuôi vỗ tích cực/chuẩn bị cho sinh sản
Xử lý nước Lọc qua lọc 25 µm, đèn cực tím và than hoạt tính
Thay nước Tối thiểu 3 lần/tuần
Mật độ 250 con/m3
Thức ăn Hỗn hợp các loài tảo phù du
Khẩu phần ăn 1-3 x 106 tế bào/nghêu/ngày
Trang 24quá trình thụ tinh được diễn ra sau đó [26]
Biện pháp kích thích nghêu M mercenaria sinh sản bằng cách sốc nhiệt có hiệu
quả tốt, và là biện pháp kích thích sinh sản cho một số đối tượng nhuyễn thể khác Đây
là cơ sở để nghiên cứu biện pháp kích thích sinh sản trên đối tượng nghêu M lyrata
1.2.2.3 Kỹ thuật ương ấu trùng nghêu giai đoạn bơi tự do (D-veliger)
Trứng nghêu thụ tinh được ấp ở mật độ hơn 30 trứng/ml nước trong 24 giờ hoặc cho đến khi nở thành ấu trùng veliger Sau đó, ấu trùng nghêu được san thưa ở mật độ 5-
10 con/ml và cho ăn hỗn hợp các loài tảo đơn bào [26]
Trong khi đó, Liu B., Dong, B., Tang, B., Zhang, T., Xiang, J (2006) đã thí
nghiệm nhằm xác định mật độ ấu trùng nghêu M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí
nghiệm đã tiến hành ở các mật độ 5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger) Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng, nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy mô lớn [24]
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của nghêu
M meretrix đã được tiến hành bởi Tang, B và cs, (2006) với việc sử dụng 5 loài tảo
khác nhau làm thức ăn đơn và phối hợp với nhau Kết quả thí nghiệm cho thấy, ấu trùng
nghêu M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn Giá trị dinh dưỡng của các loài tảo khác được nghiên cứu đối với
ấu trùng Nghêu M meretrix thể hiện qua tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái được xếp theo thứ tự Dunaliella sp > Phaeodactylum tricornutum > Platymonas subcordiformis > Pavlova viridis Đối với hỗn hợp các loài dinh dưỡng lần lượt là 50% I.galbana/50% Dunaliella sp, 50% I.galbana/P tricornutum và 50% I galbana/P
Trang 25subcordiformis đối chứng là sử dụng loài I.galbana [30]
Theo Nancy H Hadley and Jack M Whetstone 2007 thức ăn cho ấu trùng là hỗn
hợp các loài tảo: N oculata, I galbana và C calcitrans cho ấu trùng kích thước nhỏ
hơn 150 m và bổ sung thêm loài C gracilis cho ấu trùng cỡ lớn hơn 150 m Trong điều kiện thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp, ấu trùng nghêu Manila thường tăng trưởng bình quân 10 m/ngày Trong khoảng 10 – 14 ngày ương nuôi, ấu trùng đạt kích
cỡ 180 – 210 m chuyển sang giai đoạn biến thái (ấu trùng pediveliger) [26]
Một số kết quả nghiên cứu của Yan và cs, (2006) được tiến hành trên nghêu
Ruditapes philippinarum, đánh giá sự ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương nuôi ấu
trùng, các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và biến thái của ấu trùng Kết
quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo Chlorella sp có thể thay 50% tảo Isochrysis spp trong
việc sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng nghêu mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ
lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng Nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng cho thấy,
ở khoảng mật độ từ 5 – 10 con/ml, ấu trùng phát triển bình thường [31]
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu thu được đang góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất Đây là cơ sở tốt để ứng dụng vào nghiên cứu trên các đối
tượng tương tự như nghêu M lyrata
1.2.2.4 Kỹ thuật ương ấu trùng bò lê và nghêu giống
Ấu trùng nghêu ở giai đoạn xuất hiện bò lê được chuyển tới ương ở hệ thống ương gồm các khay đáy bằng lưới với việc bổ sung nước (cùng thức ăn) từ trên xuống (downweller) hoặc từ dưới lên (upweller) cho đến khi biến thái hoàn toàn thành nghêu giống Hệ thống này có thể dễ dàng quản lý chất lượng môi trường nước, thức ăn, nên mật độ ương cao hơn các hệ thống ương thông thường Sau khi hoàn thành giai đoạn biến thái, nghêu giống spat đạt cỡ 0,8-1,0 mm được chuyển sang hệ thống ương raceway, upwelling hoặc hệ thống ương ương ngoài trời (bè nổi, ao, hồ) với mật độ 1.500.000-2.000.000 con/m2 Mục đích của việc ương giống trong hệ thống này là làm cho giống được thuần hóa với môi trường nuôi nhằm gia tăng tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm [26]
Trang 26Hình 1.4 Hệ thống bè và mương nổi ương nghêu giống
(Nancy và cs, 2007)
1.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trước những năm 2000, các nghiên cứu về nghêu chủ yếu tập trung
vào đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật ương nuôi thương phẩm nghêu Meretrix lyrata (Nguyễn Hữu Phụng, 1996; Trương Quốc Phú, 1996; 1998) và nghiên cứu kỹ
thuật nuôi ngao, nghêu, sò huyết, trai ngọc (Ngô Trọng Lư, 1996)
Kỹ thuật sinh sản nhân tạo nghêu được biết đến từ năm 2003, do Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I và II tiến hành, dựa trên việc nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tu hài, vẹm xanh, hàu cửa sông, điệp Nhưng sản lượng con giống đạt được còn ít, giá thành sản phẩm cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của nghề nuôi thương phẩm Công nghệ sản xuất mới chỉ được hoàn thiện ở quy mô nhỏ trong các nhà xưởng, sản lượng con giống sản xuất được còn ít và không ổn định Theo đánh giá thực
tế, sản lượng nghêu giống từ nguồn sinh sản nhân tạo chỉ chiếm khoảng 1/4 so với nhu cầu Nghêu giống hiện vẫn đang dựa vào nguồn giống thu gom tự nhiên và nguồn giống nhập từ Đài Loan, Trung Quốc Giá nghêu giống biến động theo kích cỡ, mùa vụ và đặc biệt là khả năng tiêu thụ sản nghêu thương phẩm
Năm 2005 - 2006 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II đã thực hiện đề tài cấp
Bộ về “Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi nghêu Bến Tre Meretrix lyrata”, thực hiện tại 3 tỉnh Bến Tre, Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả
đề tài đã đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi nghêu
Trang 27trong vùng nghiên cứu; xác định vị trí phân bố nghêu giống, nghêu bố mẹ và đặc điểm vùng phân bố; đặc điểm sinh học cơ bản nghêu giống và nghêu bố mẹ
Năm 2008 chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Australia (SARDI) và Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ (ARSINC) đã nghiên cứu viết tài liệu kỹ thuật sản xuất giống Nghêu Bến Tre Tài liệu này được viết cho mọi độc giả, đặc biệt là nông dân, các nhà nghiên cứu và sinh viên ở Việt Nam
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu thu được đang góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất Đây là cơ sở tốt để ứng dụng vào nghiên cứu trên các đối
tượng tương tự như nghêu M lyrata Những năm gần đây, một số nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống nghêu M lyrata đã được triển khai, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện
quy trình sản xuất ở quy mô lớn
Ở Nam Định, kỹ thuật sinh sản nhân tạo nghêu (Meretrix lyrata) được biết đến từ
những năm 2006, thực hiện Quyết định số 39/QĐ - BTS ngày 9 tháng 01 năm 2006 của
Bộ trưởng bộ Thủy sản về việc phê duyệt dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống
nghêu (Meretrix sp) và Hợp đồng số 07/HĐ- KNQGTS ngày 01 tháng 3 năm 2006 về
việc chuyển giao công nghệ sản xuất giống nghêu giữa Trung tâm khuyến ngư Quốc gia
và Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 Viện nghiên cứu NTTS 1 đã thực hiện dự án
"Chuyển giao và tiếp nhận công nghệ sản xuất giống nghêu (Mertrix sp)" Công nghệ
được chuyển giao cho các đơn vị: Trung tâm khuyến ngư tỉnh Thái Bình và Trung tâm khuyến ngư tỉnh Nam Định
Công nghệ sản xuất giống nghêu hiện tại ở Việt Nam so với nước ngoài còn chưa đồng bộ và ổn định do các yếu tố môi trường như độ mặn, nhiệt độ còn dựa vào
tự nhiên Việc sản xuất chủ yếu tiến hành trong các trại giống quy mô nhỏ, năng lực sản xuất được tối đa khoảng 30–80 triệu giống trong một vụ sản xuất, không thể đáp ứng đủ nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm
1.3.1 Về công nghệ sản xuất giống
1.3.1.1 Nuôi vỗ nghêu bố mẹ
Nghêu bố mẹ được thu gom từ vùng nuôi, sau đó được chuyển về trại giống
Trang 28Chúng được vệ sinh, loại bỏ các sinh vật bám ở ngoài vỏ trước khi cho vào bể nuôi vỗ Nghêu có tập tính đào bới và ẩn mình xuống nền đáy cát, tiêu thụ thức ăn tốt hơn nếu chúng được nuôi ở nền đáy phù hợp Trong hệ thống nuôi vỗ, nền đáy được bổ sung là đáy cát, với độ dày khoảng 10 cm
Nước sử dụng để nuôi không qua bộ lọc tinh, vì thế đã tạo nên tính đa dạng trong thức ăn thu được từ nước biển tự nhiên, vì vậy có hiệu quả hơn trong việc phát triển tuyến sinh dục
Sốc nhiệt: sử dụng máy nâng nhiệt hoặc đá lạnh để thay đổi nhiệt độ trong bể đẻ khoảng 4oC nếu con bố mẹ có nguồn gốc từ tự nhiên Nếu con bố mẹ được nuôi vỗ, nhiệt độ nước nên được nâng lên tới 28oC trong vòng 45 phút Lặp lại phương pháp này
Trang 29lần 2 nếu không có hiện tượng sinh sản diện ra trong lần 1 Nếu qua hai lần kích thích
mà không thu được nghêu sinh sản, thì con bố mẹ chưa được sẵn sàng về độ chín sinh dục Chuyển chúng trở lại bể tiếp tục nuôi vỗ để cho sinh sản lần tới[15]
Biện pháp kích thích nghêu M lyrata sinh sản bằng cách sốc nhiệt giống với biện pháp kích thích nghêu M mercenaria do Nancy H Hadley và cs, (2007) đã nghiên cứu
Sốc độ mặn: tăng độ mặn lên 32 ppt bằng việc cấp nước biển vào bể đẻ trong thời gian 30 phút và giảm tới 15 ppt bằng việc sử dụng nước ngọt trong thời gian 30 phút tiếp sau đó Phương pháp này cũng có thể tiến hành lần 2 nếu nghêu không sinh sản ở lần 1 và tiếp tục nuôi vỗ trở lại nếu cả hai lần kích thích không thành công [15]
Chu Chí Thiết và Martin S Kumar, (2008), kích thích nghêu M lyrata bằng biện
pháp sốc nhiệt và sốc độ mặn, trong đó biện pháp sốc nhiệt cho hiệu quả tốt hơn Kết quả này trùng khớp với kết quả nghiên cứu của Trần Văn Tam (2010) Đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu biện pháp sốc nhiệt khô (phơi)
1.3.3.3 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nghêu giai đoạn bơi tự do (D -veliger)
Ấu trùng được tiến hành ấp trong bể nhỏ (500l) sau 24 giờ khi chuyển sang giai đoạn đỉnh vỏ thẳng (D-veliger), chúng được chuyển qua bể có kích thước lớn hơn (3000l) để tiếp tục ương nuôi ở mật độ 10 con/ml Ấu trùng thường trải qua giai đoạn bơi lội tự do trong vòng 5-7 ngày rồi biến thái chuyển sang giai đoạn xuống đáy Các yếu tố môi trường như: độ mặn, pH, ô xy hoà tan, độ mặn, nhiệt độ được ghi chép hàng ngày để đảm bảo ấu trùng được ương nuôi trong điều kiện thuận lợi Tuy nhiên, nghêu
M lyrata là loài thân mềm nhiệt đới, chúng có thể phát triển trong điều kiện có sự biến
động mạnh về các điều kiện môi trường: độ mặn dao động trong khoảng 10 đến 30 ppt,
ô xy hoà tan từ 3 đến 5 mg/l, nhiệt độ nước từ 22 đến 31oC
* Thay nước và vệ sinh ấu trùng
Nước trong bể ương được thay từ từ 100% sau 2 ngày ương nuôi, bể ương sau đó được vệ sinh, tẩy trùng bằng dung dịch HCl 1% hoặc dung dich iốt 1%, để khô ráo 1 ngày trước khi sử dụng Trong quá trình thay nước, ấu trùng được lọc bằng việc sử dụng rây lọc và chuyển qua bể ương mới Quá trình lọc ấu trùng được tiến hành trong nước,
tránh tính trạng ấu trùng bị va đập gây dập vỡ
Trang 30* Tỷ lệ cho ăn và chế độ cho ăn
Theo Trần Văn Tam, (2010), trong giai đoạn ấu trùng đỉnh vỏ thẳng, loại tảo
thích hợp nhất là Nanochloropsis occulata, từ ngày thứ 3 trở đi bổ sung thêm tảo Chaetoceros calcitrans [12]
Theo Chu Chí Thiết và Martin S Kumar, (2008) thức ăn cho ấu trùng bơi tự do và
ấu trùng sống đáy được sử dụng bởi hỗn hợp 3 loài tảo: Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros sp Tỷ lệ cho ấu trùng ăn được duy trì với mật độ 100.000 tế bào/ml hỗn hợp 3 loài tảo kể trên Tần suất cho ăn được điều chỉnh 4 giờ/lần vào ban ngày Sau 5 đến 7 ngày ấu trùng sẽ chuyển sang giai đoạn sống đáy[14]
Một số công trình nghiên cứu công nhận tảo Nanochloropsis occulata và Chaetoceros calcitrans được coi là thức ăn tốt nhất cho các đối tượng nuôi, ngoài
thành phần dinh dưỡng là các vitamin thiết yếu, còn chứa một hàm lượng đáng kể các acid béo không no HUFA n – 3, và những acid béo này có thể dễ dàng trở thành nguồn dinh dưỡng cho ấu trùng các đối tượng hải sản Đặc biệt ở giai đoạn lấy dinh dưỡng ngoài đầu tiên của ấu trùng các đối tượng nuôi hải sản như: cá, giáp xác, và động vật thân mềm
Tuy nhiên Chu Chí Thiết và Martin S Kumar, (2008) việc sử dụng phân gà hoặc các loại phân của động vật khác với tỷ lệ 500kg/ ha ao với độ sâu khoảng 1m, nhằm bổ sung nguồn dinh dưỡng cho tảo, giảm chi phí sản xuất [14] Bởi vì nguồn nước sau khi được lọc qua lọc cát, cấp vào các ao nuôi cấy tảo vẫn còn một số tế bào tảo tự nhiên, là nguồn tảo giống để phát triển sinh khối, làm thức ăn cho nghêu sau quá trình bón phân (vô cơ, hữu cơ) Thành phần tảo tự nhiên phong phú, đa dạng nên có thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cung cấp cho nghêu cao hơn so với một số loài tảo đơn bào
1.3.3.4 Giai đoạn sống đáy và ương nuôi con giống sau khi xuống đáy
Hệ thống bể ương nuôi ấu trùng xuống đáy là hệ thống gồm 1 bể hình chữ nhật, kích thước 2 m x 0,6 m x 1 m, lắp đặt 10 rây hình trụ ở trên Bơm chìm được đặt ở đáy bể để bơm nước và tảo vào trong rây, đồng thời tạo dòng nước và ôxy cho ấu trùng ở trong rây
Ấu trùng được ương nuôi trong rây với mật độ 200.000 con/rây Nước trong bể được
Trang 31thay 50% hàng ngày và 100% trong 2 ngày Trong thời gian thay nước, rây và ấu trùng đồng thời được vệ sinh bằng nước ngọt để loại bỏ sinh vật bám, thức ăn dừ thừa
Thức ăn được duy trì với mật độ 150.000 tế bào/ml bằng hỗn hợp 3 loài tảo như ở phần ương nuôi ấu trùng Tần suất cho ăn 4 giờ/lần Độ mặn được duy trì ở mức 25ppt Các yếu tố môi trường khác (ôxy hoà tan, pH, nhiệt độ) được ghi chép hàng ngày để bảo đảm ấu trùng được phát triển ở điều kiện tốt nhất
Hình 1.6 Hệ thống bể hình trụ (trái) và toàn bộ hệ thống ương nuôi ấu trùng
xuống đáy (phải)
Hình 1.7 A- Ấu trùng nghêu xuống đáy thành con giống;
B - nền đáy nhân tạo -vỏ nhuyễn thể và cát
Khi kích thước ấu trùng đạt đến 500m, gọi là con giống, chúng có thể được thu hoạch và tiếp tục ương trong ao nước lợ đáy cát hoặc ở vùng bãi triều lặng sóng Đây là một công đoạn nhằm tăng tỷ lệ sống của con giống trước khi đem thả ngoài môi trường tự nhiên thông qua việc thuần hoá chúng, và làm quen với điều kiện tự nhiên một cách từ từ
Trang 32CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Hình 2.1 Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Tháng 11 năm 2015 đến tháng 11 năm 2016
2.1.3 Địa điểm
Công ty TNHH thủy sản Minh Phú xã Bạch Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Nguồn nước
Nước được bơm trực tiếp từ biển vào ao lắng 3- 4 ngày, sử dụng thuốc tím để diệt khuẩn, các chất lơ lửng được lắng đọng Sau đó, nước được bơm vào ao chứa qua hệ thống lọc thô Hệ thống lọc thô này có thể loại bỏ được các chất dạng hạt, trầm tích và các sinh vật có kích thước lớn hơn 20 – 40µm, mà chúng có thể gây hại trực tiếp cho
Trang 33động vật nuôi, hoặc bám vào đường ống dẫn nước, gây ô nhiễm nước, tiết chất độc Sau khi được lọc qua hệ thống lọc thô, tùy thuộc vào nhu cầu làm sạch của nước ở từng khu vực sử dụng trong trại giống, mà ta tiếp tục được lọc qua hệ thống lọc tinh, kích thước
2.2.2 Thức ăn
Sản xuất thức ăn (tảo) là khâu quan trọng đầu tiên trong sản xuất giống nhuyễn thể Thành công trong việc sản xuất sinh khối tảo sẽ quyết định đến sự thành công của sản xuất giống Bắt đầu cho một mẻ sản xuất, số lượng và chất lượng tảo phải được chuẩn bị sẵn sàng, đáp ứng được yêu cầu
Nguồn thức ăn sẽ được sản xuất và cung cấp đầy đủ về thành phần, số lượng và kịp thời trong quá trình sản xuất Trong quá trình triển khai nghiên cứu kỹ thuật ương
nuôi có sử dụng một số loại thức ăn sau: Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans Ngoài ra còn sử dụng hỗn hợp tảo tự nhiên trong ao gây nuôi bằng phân gà ủ
hoai mục
* Nuôi sinh khối tảo Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans
Nước từ ao chứa qua hệ thống lọc bông với kích thước 0,5 µm và 0,2 µm, được bơm vào trong túi PE thể tích 60l hoặc trong bể xi măng dưới điều kiện ánh sáng tự nhiên
Tảo gốc lưu giữ trong phòng được đưa vào trong bể và trong túi để ương nuôi với mật
độ ban đầu là 150.000 tế bào/ml
Môi trường nuôi cấy tảo: Môi trường F/2
Mật độ tảo đạt 6 x 106 - 9 x 106 thì sử dụng làm thức ăn cho tảo