BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LỤC VĂN LONG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH SINH SẢN ĐẾN HIỆU QUẢ SINH SẢN CỦA NGÁN BỐ MẸ Austriell
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LỤC VĂN LONG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH SINH SẢN ĐẾN HIỆU QUẢ
SINH SẢN CỦA NGÁN BỐ MẸ Austriella corrugata
(DESHAYES, 1843) TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI VỖ TẠI
QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
SINH SẢN CỦA NGÁN BỐ MẸ Austriella corrugata
(DESHAYES, 1843) TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI VỖ TẠI
QUẢNG NINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu viết trong bản luận văn này là trung thực Kết quả nghiên cứu chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào Kết quả có được ở luận văn là do
sự cố gắng làm việc, nghiên cứu và học hỏi một cách nghiêm túc của bản thân
Tác giả
Lục Văn Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phạm Quốc Hùng, TS Nguyễn Xuân Thành, những người đã hướng dẫn giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện nghiên cứu NTTS - Trường Đại học Nha Trang, Trung tâm Khoa học Kỹ thuật và Sản xuất giống Thủy sản Quảng Ninh, Viện Tài nguyên
và Môi trường biển đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm hai đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống ngán (Austriella corrugata) phù hợp với điều kiện sinh thái tại Quảng Ninh” và
đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của ngán phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn lợi ngán tại tỉnh Quảng Ninh - VAST.NĐP.04/15 -16” đã hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất có thể trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời tới các anh, chị đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn./
Tác giả
Lục Văn Long
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1 Hệ thống phân loại của ngán 4
1.1.2 Phân bố 4
1.1.3 Đặc điểm hình thái 5
1.1.4 Môi trường sống 6
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 6
1.2.1 Môi trường tự nhiên nơi ngán sống 7
1.2.2 Dinh dưỡng của ngán 9
1.2.3 Đặc điểm sinh sản 10
1.2.4 Kỹ thuật lưu giữ, nuôi tảo làm thức ăn 16
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả sinh sản 20
2.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản 22
2.3.3 Ảnh hưởng của phương pháp kích thích đến hiệu quả sinh sản 25
2.3.4 Dụng cụ nghiên cứu 29
2.3.5 Thu thập xử lí số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả sinh sản 32
3.3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 32
Trang 63.3.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả của quá trình nuôi vỗ 33
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản 38
3.2.1 Theo dõi các yếu tố môi trường nền trong quá trình thí nghiệm 38
3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả nuôi vỗ 39
3.3 Ảnh hưởng của biện pháp kích thích đến hiệu quả sinh sản 46
3.3.1 Các các yếu tố môi trường bể đẻ của ngán 46
3.3.2 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích khác nhau đến hiệu quả sinh sản 47
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
4.1 Kết luận 51
4.2 Đề xuất 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 56
Trang 7TLSSHQ Tỷ lệ sinh sản hiệu quả
TLTGSS Tỷ lệ tham gia sinh sản
TLTT Tỷ lệ thụ tinh
TLTTSD Tỷ lệ thành thục sinh dục
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Tên khoa học đồng danh của ngán Austriella corrugata 3
Bảng 1 2 Thành phần môi trường dinh dưỡng Calway và F2 17
Bảng 3 1 Biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 32
Bảng 3 2 Ảnh hưởng của độ mặn đến sức sinh sản thực tế, chất lượng ấu trùng 37
Bảng 3 3 Biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 38
Bảng 3 4 Ảnh hưởng của thức ăn đến sức sinh sản, chất lượng ấu trùng 45
Bảng 3 5 Môi trường nước cho đẻ và ấp trứng 47
Bảng 3 6 Kết quả sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt 48
Bảng 3 7 Kết quả sinh sản bằng phương pháp sốc hóa chất 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Mẫu ngán tại bảo tàng tự nhiên London 4
Hình 1 2 Hình dạng bên trong và bên ngoài của ngán 5
Hình 1 3 Mẫu ngán tại Quảng Ninh (tháng 6/2016) 5
Hình 1 4 Khu vực rừng ngập mặn nơi ngán sinh sống 9
Hình 1 5 Hình thái tuyến sinh dục ngán 11
Hình 1 6 Tiêu bản lát cắt các giai đoạn tuyến sinh dục ngán 12
Hình 1 7 Tiêu bản lát cắt tuyến sinh dục lưỡng tính của ngán 12
Hình 1 8 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng ngán 14
Hình 1 9 Ngán giống cấp 1 15
Hình 1 10 Ngán giống sản xuất nhân tạo 16
Hình 2 1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu………20
Hình 2 2 Ngán bố mẹ đưa vào làm thí nghiệm độ mặn 21
Hình 2 3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn 22
Hình 2 4 Ngán bố mẹ đưa vào làm thí nghiệm thức ăn 23
Hình 2 5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn 23
Hình 2 6 Kích thích nâng nhiệt độ bằng heater 26
Hình 2 7 Kích thích hạ nhiệt độ bằng đá lạnh 26
Hình 2 8 Kích thích nâng nhiệt độ bằng đèn hồng ngoại 27
Hình 2 9 Tiêm serotonin kích thích ngán đẻ 28
Hình 2 10 Hóa chất thí nghiệm kích thích ngán sinh sản 28
Hình 2 11 Bể thí nghiệm nuôi vỗ ngán bố mẹ 29
Hình 2 12 Bể ngán sinh sản 29
Hình 3 1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống……… 33
Hình 3 2 Ảnh hưởng của độ mặn đến TLTTSD 34
Hình 3 3 Ảnh hưởng của độ mặn đến TLTGSS 34
Hình 3 4 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ thụ tinh 35
Hình 3 5 Ảnh hưởng của độ mặn đến TLSSHQ 36
Hình 3 6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống 40
Hình 3 7 Ảnh hưởng của thức ăn đến TLTTSD 41
Hình 3 8 Ảnh hưởng của thức ăn đến TLTGSS 42
Hình 3 9 Ảnh hưởng của thức ăn đến TLTT của trứng 43
Hình 3 10 Ảnh hưởng của thức ăn đến TLSSHQ 44
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Ngán (Austriella corrugata Deshayes, 1843) là một loài động vật thân mềm hai
mảnh vỏ, thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, được nhiều người ưa chuộng Ngán được coi
là đặc sản của vùng ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng và có giá bán rất cao trên thị trường, dao động từ 400.000 – 500.000 đồng/kg Ngán thương phẩm cung cấp cho thị trường hiện nay là từ nguồn khai thác ngoài tự nhiên Do thị trường ngày càng ưa chuộng
và thu mua với giá cao, nên ngán ngoài tự nhiên nhanh chóng bị khai thác ngày càng nhiều, cùng với việc chặt phá rừng ngập mặn, khoanh đắp bãi triều để nuôi tôm, dẫn đến nguồn lợi ngán ngày càng bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng Được sự đồng ý của
trường Đại học Nha Trang, đề tài luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn , thức
ăn và phương pháp kích thích sinh sản đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ
Austriella corrugata (Deshayes, 1843) trong quá trình nuôi vỗ tại Quảng Ninh” đã
được thực hiện
Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ có 3 nghiệm thức tương ứng với 3 độ mặn là 18 ± 1 ‰, 23 ±1 ‰ và 28 ± 1 ‰ Thời gian theo dõi 15 ngày/đợt thí nghiệm Bố trí thí nghiệm theo kiểu một nhân tố ngẫu nhiên Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ trong điều
kiện nuôi vỗ gồm 5 nghiệm thức: Sử dụng tảo tươi Nanochloropsis sp.; tảo tươi Isochrysis sp.; tảo tươi Cheatoceros sp.; hỗn hợp 3 loài tảo tươi 1/3 Nanochloropsis sp + 1/3 Isochrysis
sp + 1/3 Cheatoceros sp.; tảo khô 1/2 Schizochytrium + 1/2 Spirulina Thời gian theo dõi
15 ngày/đợt thí nghiệm Ảnh hưởng của phương pháp kích thích đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ: Phương pháp kích thích sốc nhiệt độ gồm 3 nghiệm thức nhiệt độ nước kích thích chênh lệch (tăng giảm) 5, 8 và 11 ᴼC; kích thích ngán sinh sản bằng phương pháp sốc hóa chất gồm 3 nghiệm thức: Hydroxyt amon (NH4OH) nồng độ thấp 0,1M, Oxy già (H2O) 2 nồng độ 1 – 2 %, Serotonin (C10H12N2O) nồng độ 0,5 ppm, tiêm từ 0,4 – 0,5 ml/con Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần Bố trí thí nghiệm theo kiểu một nhân
tố ngẫu nhiên 20 cá thể/lô thí nghiệm
Độ mặn có thể nuôi vỗ ngán bố mẹ từ 23 – 28 ‰ (thích hợp nhất là 28 ± 1 ‰)
Nuôi vỗ ngán bố mẹ bằng thức ăn là hỗn hợp ba loài tảo Nanochloropsis sp., Isochrysis sp., Cheatoceros sp cho hiệu quả sinh sản của ngán cao nhất so với việc sử dụng thức
ăn là tảo đơn loài và bán sẵn trên thị trường (tảo Schizochytrium, tảo Spirulina) Biện
pháp kích thích ngán sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt, với nhiệt độ chênh lệch từ 8
Trang 11– 11 oC, tốt nhất là từ 8 – 9 oC để đảm bảo được hiệu quả sinh sản của ngán và ngán bố
mẹ không bị yếu sau quá trình kích thích sinh sản
Từ khóa: độ mặn, kích thích sinh sản, ngán, thức ăn
Trang 12
MỞ ĐẦU
Ngán (Austriella corrugata Deshayes, 1843) là loài động vật thân mềm hai mảnh
vỏ, thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, được nhiều người ưa chuộng Ngán được coi là đặc sản của vùng ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng và có giá bán rất cao trên thị trường, dao động từ 400.000 – 500.000 đồng/kg Chúng sống ở khu vực dưới triều với nền đáy chủ yếu là bùn cát, phía trong là rừng ngập mặn Tại các tỉnh ven biển miền Bắc nước
ta, ngán phân bố hẹp chủ yếu có ở khu vực Quảng Yên, Tiên Yên, Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà (Quảng Ninh) và Cát Hải (Hải Phòng), cho nên ngán trở thành những loài đặc hữu của những vùng này
Ngán thương phẩm cung cấp cho thị trường hiện nay là từ nguồn khai thác ngoài
tự nhiên Do thị trường ngày càng ưa chuộng và thu mua với giá cao, nên ngán ngoài tự nhiên nhanh chóng bị khai thác ngày càng nhiều, cùng với việc chặt phá rừng ngập mặn, khoanh đắp bãi triều để nuôi tôm, dẫn đến nguồn lợi ngán ngày càng bị cạn kiệt, suy giảm nghiêm trọng Vì vậy, những nghiên cứu về ngán là cần thiết nhằm chủ động sản xuất con giống và phát triển nuôi thương phẩm góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lợi, tạo sản phẩm cung cấp lâu dài và liên tục đáp ứng nhu cầu của thị trường
Do ngán phân bố hẹp, nên những nghiên cứu về đối tượng này còn rất ít Gần đây, trong khi thị trường tiêu thụ ngán ngày càng nhiều thì nguồn lợi ngán tự nhiên ngày càng khan hiếm, các địa phương có ngán phân bố như Hải Phòng, Quảng Ninh đã có những đầu tư bước đầu nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và bảo tồn ngán ngoài tự nhiên Ngán bố mẹ ngoài tự nhiên có tuyến sinh dục phát triển không đồng đều Do ngán sống
ở vùng triều cửa sông, có độ mặn, thức ăn thay đổi theo mùa nên việc tìm ra độ mặn và thức ăn phù hợp trong giai đoạn nuôi vỗ là rất cần thiết Trong qui trình kĩ thuật sản xuất giống, việc nuôi vỗ bố mẹ và kích thích sinh sản tốt sẽ tạo cho việc sản xuất giống
có được đàn bố mẹ thành thục sinh dục đồng đều, tỷ lệ thành thục cao, tạo ra lượng ấu trùng nhiều và khỏe mạnh, hiệu quả sản xuất giống sẽ cao Vì vậy, việc nuôi vỗ bố mẹ, kích thích ngán sinh sản là một trong những công đoạn kỹ thuật ban đầu, rất quan trọng quyết định thành công của việc sản xuất giống Một trong các yếu tố kỹ thuật để nuôi
vỗ ngán bố mẹ là phải tìm hiểu được độ mặn và thức ăn phù hợp để việc nuôi vỗ đạt hiệu quả Cụ thể là các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục, tỷ lệ tham gia sinh sản của ngán bố mẹ; sức sinh sản thực tế của ngán cái; tỷ lệ thụ tinh của trứng, tỷ lệ nở ra
Trang 13ấu trùng chữ D, chất lượng ấu trùng thu được sau quá trình nuôi vỗ ngán bố mẹ cần đạt giá trị tối ưu Khi có đàn bố mẹ tốt, thì việc tìm ra phương pháp kích thích sinh sản để
có được thời gian hiệu ứng nhanh, tỷ lệ tham gia sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ hình thành
ấu trùng chữ D cao, ấu trùng và ngán bố mẹ khỏe mạnh sau khi kích thích, cũng cần phải được tìm hiểu
Được sự đồng ý của trường Đại học Nha Trang, đề tài luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn , thức ăn và phương pháp kích thích sinh sản đến hiệu quả sinh sản
của ngán bố mẹ Austriella corrugata (Deshayes, 1843) trong quá trình nuôi vỗ tại Quảng
Ninh” đã được thực hiện
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được độ mặn , thức ăn phù hợp cho ngán bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ, phương pháp kích thích sinh sản thích hợp
Nội dung nghiên cứu
(1) Nghiên cứu ảnh hưởng của các độ mặn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ
(2) Nghiên cứu ảnh hưởng của các thức ăn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ
(3) Nghiên cứu và lựa chọn các biện pháp kích thích sinh sản ngán
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và
kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm các đối tượng động vật thân mềm (ĐVTM) hai mảnh vỏ như ngao, tu hài, hầu, vẹm, điệp, sò [31; 32; 34; 35] Tuy nhiên, do phạm
vi phân bố hẹp nên đối tượng ngán chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu, chủ yếu mới chỉ
có một số nghiên cứu về mô tả hình thái, phân loại, định danh và phát hiện sự phân bố của chúng Hiện nay, các tài liệu mới chỉ có những nghiên cứu bước đầu về hình thái
học, phân loại, phân bố địa lý, phát hiện loài của họ ngán (Lucinidae) nói chung Những
vấn đề sinh học, sinh thái, sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản còn chưa được quan tâm nghiên cứu Trên thế giới chưa có bất cứ một nghiên cứu nào về sinh học, sinh thái học
đối tượng ngán (Austriella corrugata) được công bố [21; 22; 36]
Theo tài liệu Sealifebase - cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn cầu, nhằm cung cấp các thông tin về phân loại, phân bố, sinh thái của các sinh vật biển, thì ngán có nhiều tên khoa học
đồng danh (synonyms), do các tác giả đặt tên ở các thời điểm khác nhau (Bảng 1 1)
Bảng 1 1 Tên khoa học đồng danh của ngán Austriella corrugata
Như vậy, tác giả Deshayes (1843) và một số tác giả khác ở các thời điểm khác nhau đã đặt ngán ở các giống khác nhau với các tên khác nhau, tuy nó cùng một loài,
cùng mẫu vật Hiện nay, tên khoa học của ngán là Austriella corugata (Deshayes, 1843)
đã được chấp nhận sử dụng
Mẫu vật của thế giới về đối tượng ngán thu từ Indonesia với kích thước 50 mm và mẫu thu từ Vịnh Bắc Bộ Việt Nam kích thước 56 mm, đang được lưu giữ tại bảo tàng
tự nhiên London, Vương quốc Anh với mã số NMR 16740 và 67319 (Hình 2 1) [6]
Tên khoa học đồng danh (Synonym) Tác giả và thời điểm định danh
Trang 15Hình 1 1 Mẫu ngán tại bảo tàng tự nhiên London 1.1.1 Hệ thống phân loại của ngán
Theo Đỗ Công Thung (2015) và tài liệu của Sealifebase ngán có hệ thống phân
loại như sau [16]:
Loài: Austriella corrugata (Deshayes, 1843)
Ngán có tên tiếng Anh là Corrugate lucine, Mangrove Lucina Một số tài liệu ghi tên tiếng Anh là Mud clam hoặc Mangrove mud clam là những tên dùng chung cho những loài sống trong bùn nơi có rừng ngập mặn [21; 36]
1.1.2 Phân bố
Trên thế giới ngán phân bố ở giữa Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương trong khu vực từ vịnh Bengal và Sri Lanka tới phía Đông Indonesia và phía Đông Polynesia; từ phía Bắc Nhật Bản đến phía Nam Queensland Trên bản đồ đã có 15 nước và vùng lãnh
Trang 16thổ công bố sự xuất hiện của loài này đó là Úc, Trung Quốc, Fr Polynesia, Đài Loan, Sri Lanka và 10 nước thuộc khu vực Đông Nam Á có đường bờ biển [21; 22; 30; 38]
Ở Việt Nam, ngán phân bố tự nhiên tại các vùng rừng ngập mặn: sú, vẹt và bùn lầy ở tỉnh Quảng Ninh (huyện Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn, Yên Hưng), Hải Phòng (Cát Hải, Đồ Sơn), Bà Rịa – Vũng Tàu (Long Sơn) [2; 14]
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Ngán (Austriella corrugata) là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ và là một trong
số vài loài có kích thước tương đối lớn trong họ Lucinidae Ngán có vỏ gần tròn, cứng,
mặt ngoài có lớp sừng mỏng màu tro thẫm Gờ sinh trưởng rõ ràng Đỉnh vỏ ở giữa mép lưng Mặt trong vỏ màu trắng, có lớp xà cừ mỏng Ống siphon ngắn [21, 37, 38] Hình dạng bên trong và bên ngoài của ngán tại Hình 1 2 và mẫu ngán thu tại Quảng Ninh tháng 6/2016 tại Hình 1 2
Hình 1 2 Hình dạng bên trong và bên ngoài của ngán
Hình 1 3 Mẫu ngán tại Quảng Ninh (tháng 6/2016)
Trang 171.1.4 Môi trường sống
Ngán là loài ĐVTM sống chui rúc mình trong bùn, ở các bãi rừng ngập mặn từ trung triều đến độ sâu nước 10 m Chúng trao đổi chất với môi trường bên ngoài thông qua 2 ống thoát hút nước Môi trường sống của ngán là những nơi có bùn nhiều trong rừng ngập mặn [28] Một số loài vi khuẩn sống cộng sinh trên mang ngán có khả năng
ô xy hóa sulphide, cung cấp năng lượng cho quá trình chuyển hóa thành các chất hữu
cơ, đây là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho chúng Ngán thường vùi sâu dưới lớp bùn đáy từ 10 cm đến 40 cm và chỉ bò trên nền đáy khi thay đổi chỗ ở Ngán là loài rộng muối, độ mặn thích hợp từ 10 – 25 ‰, thích hợp nhất là khoảng 20 ‰ Không phát hiện thấy ngán ở vùng biển xa bờ [21; 22; 26; 27; 30; 38] Glover (2008) [21] cho rằng kích
cỡ tối đa của ngán (A corrugata) là 70 mm, thường từ 50 – 60 mm Tuy nhiên, tại Quảng
Ninh đã thu được những cá thể ngán có kích thước hơn 80 mm [7]
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Động vật thân mềm ở Việt Nam cũng đang được quan tâm nghiên cứu, đầu tư để phát triển sản xuất giống và nuôi thương phẩm, bảo vệ nguồn lợi Theo đề án phát triển Nuôi trồng thủy sản (NTTS) giai đoạn 2010 – 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 332/2010/QĐ – TTg, ngày 3 tháng 3 năm 2011 thì mục tiêu phát triển động vật thân mềm đến năm 2020 là 400.000 tấn, tăng trưởng trung bình là 16% năm Đây là một trong những căn cứ pháp lý để phát triển nghiên cứu sản xuất, bảo vệ nguồn lợi ĐVTM (Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thủy sản)
Với chiều dài bờ biển trên 3260 km, có nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, có tính đa dạng sinh học cao Việt Nam được coi là nước có nhiều tiềm năng để phát triển nghề nuôi hải sản nói chung và nghề nuôi động vật thân mềm nói riêng Trong những năm gần đây, ở Việt Nam nghề nuôi động vật thân mềm hai mảnh vỏ đã phát triển, đặc biệt ở các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau Hiện nay, các đối tượng thân mềm hai mảnh vỏ đưa vào nuôi bao gồm nghêu Bến Tre, ngao dầu, sò huyết, hầu, tu hài, vẹm xanh [12] Các đối tượng nuôi này đã được nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo đáp ứng một phần nhu cầu con giống cho người nuôi thương phẩm
Ở Việt Nam, ngán mới chỉ bắt đầu được quan tâm nghiên cứu ở Quảng Ninh, Hải Phòng do ngán có tiềm năng nuôi lớn, nhu cầu thị trường cao, trong khi đó nguồn tự
Trang 18nhiên ngày càng cạn kiệt Một số công trình nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ phân loại và vùng phân bố, được đề cập trong các báo cáo về đánh giá nguồn lợi động vật đáy, động vật thân mềm hai mảnh vỏ [2; 4; 14; 15; 20]
Thời gian gần đây, khi nghiên cứu về nguồn lợi động vật thân mềm trong đó có đối tượng ngán, ở vùng biển ven bờ miền Bắc Việt Nam PGS.TS Đỗ Công Thung và các cộng
sự thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường biển năm 2007 đã xác định được trong hai lớp
mảnh vỏ (Bivalvia) có 368 loài với nhiều loài có giá trị kinh tế Họ ngán (Lucinidae) xác định được 5 loài là Austriella corrugata, Lusicoma sp, Codakia punctata, Codakia sp, Lucina philippiana Loài ngán (A corugata) phân bố tại các vùng rừng ngập mặn Quảng
Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vũng Tàu [2; 14; 20]
Năm 2012, trong khuôn khổ luận văn cao học Đỗ Hồng Hưng [1] đã nghiên cứu
“Một số đặc điểm sinh học sinh sản” của quần thể ngán tại một số vùng của tỉnh Quảng Ninh, kết quả nghiên cứu đã xác định được một vài đặc điểm sinh học sinh sản như hình thái tuyến sinh dục, tuyến sinh dục đực màu trắng, tuyến sinh dục cái màu đen Sức sinh sản khoảng 1 triệu trứng/cá thể Mùa vụ sinh sản chính vào tháng 6 tháng 7 Cơ cấu giới tính là 1 : 1 ở nhóm kích thước > 30 mm, ở nhóm < 30 mm đực nhiều hơn cái Tuy nhiên, tiêu bản lát cắt, mẫu thu còn hạn chế, chưa thể hiện đầy đủ các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục Hầu như những kết quả nghiên cứu là những ghi nhận ban đầu
do thời gian thực hiện chưa đủ trong chu kì trong một năm, việc nghiên cứu chưa được thực hiện lặp lại để có những đánh giá toàn diện
1.2.1 Môi trường tự nhiên nơi ngán sống
Bắt đầu từ năm 2012, đối tượng ngán đã được thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh đầu tư và giao cho Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu về đối tượng ngán của Nguyễn Xuân Thành và cộng sự tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã đạt được một số kết quả như sau [5]:
Môi trường sống của ngán ngoài tự nhiên gắn liền với rừng ngập mặn với những
cây rộng muối như sú (Aegiceras corniculatum), trang (Kendelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris), tầng mặt thường được phơi cạn khi thủy triều rút, xen kẽ với
ngập nước, do đó có nhiều mùn bã hữu cơ của cây ngập mặn và bị tác động của ô xi không khí
Trang 19Ngán là những loài biến nhiệt, máu lạnh, các yếu tố môi trường bên ngoài là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất, đào bới, hô hấp, khả năng sử dụng thức ăn của ngán Trong các yếu tố sinh thái thì nhiệt độ và độ mặn là những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phân bố, sinh trưởng, sống sót của động vật thủy sinh [25; 33] Theo các kết quả quan trắc môi trường tự nhiên nơi ngán sống, độ mặn có sự biến đổi theo mùa, con nước triều, hướng gió, mùa khô độ mặn giao động 20 – 28 ‰ trung bình giao động trong khoảng 25 ‰, mùa mưa độ mặn giao động từ 6 – 15 ‰, đạt giá trị trung bình trong khoảng 13 ‰ Môi trường sống của ngán ngoài tự nhiên ở độ mặn 10 - 30‰ Tốc độ sinh trưởng của ngán liên quan chặt chẽ với môi trường sống Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý và chi phối sinh trưởng của ngán Trong điều kiện đầy đủ thức ăn, khi nhiệt độ tăng thì tốc độ sinh trưởng nhanh [25; 11] Môi trường ngán sống tại vùng triều Quảng Ninh nhiệt độ trung bình thay đổi theo mùa, mùa khô giao động trong khoảng 17 – 24 ºC, trung bình 21 °C, mùa mưa giao động trong khoảng 26 – 33 oC, trung bình 30,3 °C Môi trường sống của ngán ngoài tự nhiên ở nhiệt độ 17 – 33 oC Trong môi trường nước, pH mùa khô giao động từ 7,02 – 8,01, trung bình đạt 7,8; mùa mưa giao động từ 7,5 – 8,5 đạt giá trị trung bình 8,2 [6; 9] Mùa sinh sản của ngán là những tháng giao mùa, các yếu tố môi trường
ít biến động Nhiệt độ giao động khoảng 27 - 30 oC, độ mặn từ 18 – 28 ‰, pH từ 7,8 – 8,2, hàm lượng ô xy hòa tan (DO > 5 mgO2/lít
Môi trường trầm tích khu vực rừng ngập mặn nhìn chung bùn sét bột phân bố ở
bãi triều lầy có hàm lượng ổn định (60 – 65 %) Bùn lầy có độ nhão lớn Tùy từng độ
sâu khác nhau trầm tích có những tầng màu khác nhau như nâu, nâu xám, xám, xám xanh Tầng màu nâu, nâu xám bề mặt thay đổi cả về chiều dầy và biến đổi cả về màu sắc ở các vùng có liên quan đến tốc độ lắng đọng trầm tích và mức độ ô xi hóa khử Tầng màu xám xanh nằm ở dưới tầng mặt màu xám, xám nâu, được tạo thành bởi mùn
bã hữu cơ và các hợp chất vô cơ Fe và Mn, trong điều kiện yếm khí, môi trường khử
mạnh Độ ướt trầm tích là từ 45 – 55 %
Trầm tích có thành phần cơ học gồm: Phổ biến là bùn bột, đường kính trung bình hạt trầm tích (Md) từ 0.05 – 0.01 mm, tỷ lệ từ 60 - 90 % và bùn sét đường kính trung bình hạt trầm tích (Md) < 0.01 mm, tỷ lệ 40 – 10 % Rừng ngập mặn ảnh hưởng lớn đến quá trình lắng đọng trầm tích trên các bãi triều ven biển, hệ số chọn lọc (So) từ 3 – 5
Trang 20trong trầm tích tầng mặt,ở tầng sâu độ chọn lọc tốt So từ 1,5 đến 2, 5 tương đương với trầm tích bột, bột cát
Hàm lượng của các muối dinh dưỡng nơi ngán cư trú cao hơn môi trường xung quanh [6]:
Hàm lượng nitrit, nitrat tại nơi ngán cư trú biến đổi theo mùa, với mùa mưa cao hơn mùa khô nhưng đều cao hơn so với môi trường xung quanh Hàm lượng nitrit dao động từ 20 - 35 µg/L Hàm lượng nitrat dao động từ 126,8 µg/L đến 193,9 µg/L
Hàm lượng ammoni tại khu vực ngán cư trú cao hơn so với trên mặt bãi triều và lạch triều, dao động trong khoảng 170 - 180 µg/L
Hàm lượng phosphat tại nơi ngán cư trú cao thường dao động từ 23 µg/L đến 35 µg/L cao hơn so nền chung toàn Miền Bắc (12,6 µg/L đến 32,7 µg/L)
Nhu cầu oxy hóa học (COD) dao động từ 3,76 đến 5,67mg/L, cũng cao hơn vùng biển ven bờ phía Bắc
Các kết quả điều tra của Viện Tài nguyên và Môi trường biển cho thấy, ngán sinh sống trên bãi triều, rễ và tán rừng ngập mặn, rìa và chân rừng ngập mặn Ngán sống vùi trong bùn trong chân rừng ngập mặn Rừng ngập mặn có khả năng tích lũy trầm tích, các hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng
Hình 1 4 Khu vực rừng ngập mặn nơi ngán sinh sống 1.2.2 Dinh dưỡng của ngán
Cho đến nay chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về dinh dưỡng của ngán Các kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy thành phần thức ăn chủ yếu của các đối tượng sống trong rừng ngập măn là các loài tảo đơn bào, những mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong bùn từ sự phân hủy lá, rễ cây trong rừng ngập mặn [10; 17; 38]
Trang 21Căn cứ các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2013) [6], giai đoạn
ấu trùng chữ D (Veliger) thức ăn phù hợp là tảo Nannochloropsis occulata và Isochrysis galbana, sử dụng đơn loài tảo N occulata trong 1 – 2 ngày đầu, từ ngày thứ 2 trở đi sử dụng đa loài bổ sung thêm tảo I galbana để đa dạng hóa nguồn dinh dưỡng Giai đoạn
ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo) thức ăn phù hợp nhất là tảo Chaetoceros mueleri, I galbana
cũng được ấu trùng sử dụng, nên việc bổ sung thêm loài có kích cỡ phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả sinh sản, việc sử dụng đa loài làm thức ăn sẽ tốt hơn sử dụng đơn loài Giai
đoạn ấu trùng chân bò sống đáy (spat) thức ăn phù hợp là tảo C muelleri, sử dụng đa
loài làm thức ăn sẽ nâng cao hiệu quả ương nuôi ấu trùng, các loài tảo có kích thước
tương đương với C muelleri như Chroomonas salina, Tetraselmis chui, C calcitrans
được đề nghị bổ sung vào công thức thức ăn để nâng cao sức hiệu quả ương nuôi [6]
1.2.3 Đặc điểm sinh sản
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của ngán chưa có nhiều Năm 2012,
Đỗ Hồng Hưng đã cung cấp một số dẫn liệu ban đầu về mùa vụ sinh sản, hình thái tuyến sinh dục, sức sinh sản [1] Năm 2015, trên cơ sở nghiên cứu chi tiết hơn về đặc điểm sinh học của ngán, Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2015) [5] ngoài xác định chính xác mùa vụ sinh sản, cơ cấu giới tính, sức sinh sản, đã bổ thêm một số dẫn liệu mới về sự phát triển lưỡng tính của ngán, các giai đoạn phát triển trong vòng đời của ngán Theo các tác giả, ngán có một số đặc điểm sinh học sinh sản như sau [5]:
Hình thái tuyến sinh dục
Nhìn bên ngoài không thể phân biệt được ngán đực, ngán cái Phân biệt đực (♂), cái (♀) đối với ngán chỉ được xác định vào mùa sinh sản khi mổ (Hình 2 5)
Khi thành thục sinh dục tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn II và III thì tuyến sinh dục con cái có màu đen thẫm, tuyến sinh dục con đực có màu trắng sữa; tuyến sinh dục căng phồng chiếm gần hết khối nội tạng
Trang 22Hình 1 5 Hình thái tuyến sinh dục ngán
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Các kết quả quan sát hình thái tuyến sinh dục (TSD), tế bào sinh dục, tiêu bản lát cắt, chia sự phát triển tuyến sinh dục của ngán thành 5 giai đoạn Hình ảnh tiêu bản lát cắt các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngán (giai đoạn I – IV) thể hiện tại Hình 2.6 (độ phóng đại 10 x 10 ):
Giai đoạn 0: Quan sát tế bào sinh dục chưa phát hiện tế bào sinh dục đực và tế bào sinh dục cái bằng mắt thường cũng như quan sát trên kính hiển vi Về hình thái tuyến sinh dục lúc này trong và xẹp lép Tế bào sinh dục là một dải nhỏ
Giai đoạn I (giai đoạn TSD còn non): TSD con đực có màu sữa, con cái có màu nâu, thể tích đã tăng lên, sản phẩm sinh dục còn kết dính khó tan trong nước Trứng có hình cầu, dày đặc, kích thước bắt đầu tăng do tích luỹ noãn hoàng, chưa phân biệt được nhân Tinh trùng là những chấm nhỏ không chuyển động Tiêu bản cho thấy bắt đầu xuất hiện nang trứng và tinh nang Nang trứng rỗng bên trong, trên vách nang có một lớp tế bào nhỏ bắt màu hồng nhạt
Giai đoạn II (phát dục): Thể tích tuyến sinh dục tăng nhanh Trứng tăng nhanh về kích thước, nhân trứng lớn và đã nhìn rõ Trứng có hình cầu dính với nhau như tổ ong Tinh trùng dày đặc, vận động yếu ớt Nang trứng bắt đầu phồng lên, bên trong các noãn bào phát triển lấp đầy khoảng trống của nang trứng Nang tinh phát triển mạnh, phồng to Giai đoạn III (chín sinh dục): Giai đoạn này thể tích tuyến sinh dục tăng đến mức tối đa, nhìn bên ngoài tuyến sinh dục có dạng căng tròn Sản phẩm sinh dục có thể chảy
ra khi ta ấn nhẹ vào phần thân mềm Sản phẩm sinh dục nhanh chóng hoà tan vào trong nước, ta có thể nhìn thấy từng hạt trứng trên lam kính bằng mắt thường.Trứng rời từng hạt, hạt trứng có dạng tròn có cuống Tinh trùng hoạt động mạnh trong nước Nang trứng
Trang 23phồng to, bên trong chứa đầy trứng chín Trứng có hình tròn, bầu dục Kích thước trứng lớn, màu hồng nhạt, nhìn rõ hạch nhân Nang tinh bước sang giai đoạn chín, lúc này có
thể phân biệt được các tinh bào
Giai đoạn IV (thoái hoá): Tuyến sinh dục co lại và mềm nhũn Bề mặt tuyến sinh dục bị chia cắt bởi các đường trong suốt dạng rễ cây Mật độ trứng trên lam kính còn không đáng kể, xuất hiện nhiều vết rách của nang trứng.Trên lam kính còn lác đác một vài tinh trùng chuyển động Lúc này ngán đã đẻ xong, trong nang trứng còn sót lại một vài tế bào trứng Tuyến sinh dục đực chứa các nang tinh rỗng và bị rách nát, dọc theo các vách nang còn sót lại từng đám nhỏ tinh trùng chưa phóng hết ra ngoài trong quá trình sinh sản
Hình 1 6 Tiêu bản lát cắt các giai đoạn tuyến sinh dục ngán
Ghi chú: Tuyến sinh dục ngán đực: A – giai đoạn I; B – giai đoan II; C – giai đoạn III; D – giai đoạn IV Tuyến sinh dục ngán cái: E – giai đoạn I; F – giai đoan II; G – giai đoạn III; H – giai đoạn IV
Trang 24Hình 1 7 Tiêu bản lát cắt tuyến sinh dục lưỡng tính của ngán
Mùa vụ sinh sản và kích thước thành thục sinh dục lần đầu
Mùa vụ sinh sản của ngán được xác định bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mùa vụ sinh sản chính rộ nhất từ tháng 6 đến tháng 8, bắt đầu từ tháng 10 trong quần đàn
tỷ lệ thành thục của ngán giảm đi đáng kể từ tháng 10, tháng 11 và tháng 3 vẫn có ngán
bố mẹ tham gia sinh sản nhưng với tỷ lệ ít hơn, chất lượng sinh sản giảm đi rõ rệt Kích thước thành thục sinh dục lần đầu của ngán được xác định nằm trong nhóm
có kích thước từ 30 mm trở lên
Sức sinh sản của ngán
Sức sinh sản trung bình của các nhóm ngán có sức sinh sản tuyệt đối (Fa) giao động từ 372.580 - 1.980.613 trứng/cá thể, trung bình đạt 1.090.530 trứng/cá thể Sức sinh sản tương đối tính theo khối lượng toàn thân (Frg1) đạt trung bình 21.626 trứng/gam Sức sinh sản tương đối tính theo khối lượng thân mềm (Frg 2) đạt trung bình 80.070 trứng/gam
Các giai đoạn phát triển của ngán
Ngán được kích thích sinh sản, sản phẩm sinh dục được giải phóng vào môi trường nước, trứng chưa thụ tinh có dạng quả gần tròn Trứng sẽ tròn dần khi được đưa vào môi trường nước Trứng sau khi thụ tinh tế bào chất trở lên đặc và nhân dần biến mất Kích thước trứng từ 110 - 130 µm Dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển phôi là thể cực Thời gian xuất hiện thể cực thứ nhất khoảng 20 phút và thể cực thứ 2 là 40 phút từ khi thụ tinh hoàn thành Thời gian này có thể dao động và phụ thuộc vào nhiệt độ, độ mặn và
Trang 25chất lượng trứng thụ tinh Trứng phát triển sang giai đoạn bơi tự do (trochophore) sau khoảng 4 - 5 giờ và chuyển sang giai đoạn ấu trùng Veliger (ấu trùng chữ D) sau khoảng
11 – 14 giờ, tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường Các giai đoạn phát triển của ngán thể hiện tại Hình 1 8
Hình 1 8 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng ngán
Ghi chú: A -Trứng thụ tinh; B- giai đoạn Veliger (chữ D); C- Umbo (đỉnh vỏ); D- giai đoạn Spat (chân bò)
Giai đoạn ấu trùng chữ D (Veliger)
Ấu trùng Veliger xuất hiện sau 11 – 14 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng có dạng chữ
D, có hai nắp vỏ và có vành tiêm mao giữa hai nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao miệng Giai đoạn này kéo dài từ 5 - 6 ngày trước khi chuyển sang giai đoạn Umbo và kích thước ấu trùng cuối giai đoạn ấu trùng chữ D dao động từ
150 - 170 µm
Giai đoạn ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo)
Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành các cơ quan bao gồm: giai đoạn Umbo
sơ kỳ, bắt đầu xuất hiện mầm cơ khép vỏ Quan sát trên kính hiển vi thấy ruột và một số
cơ quan trong suốt Giai đoạn Umbo trung kỳ xuất hiện đỉnh vỏ Giai đoạn hậu kỳ đỉnh
vỏ, ấu trùng xuất hiện điểm mắt, kích thước ấu trùng tăng nhanh, kích thước ấu trùng cuối giai đoạn đạt 250 - 320 µm, cuối giai đoạn Umbo hậu kỳ xuất hiện điểm mắt ở gần phía đỉnh vỏ, một số cá thể hình thành chân bò, thời gian giai đoạn này kéo dài khoảng sau 7 – 10 ngày, tùy thuộc vào điều kiện môi trường và dinh dưỡng dấu hiệu kết thúc giai đoạn này là ấu trùng không còn sống trôi nổi bắt đầu chuyển sang giai đoạn sống đáy vùi mình
Giai đoạn ấu trùng chân bò (Spat)
Sau khi xuất hiện chân bò, hoạt động bơi của ấu trùng giảm dần, ấu trùng chuyển xuống bò dưới đáy, lúc này vành tiêm mao và điểm mắt thoái hoá dần Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành chân, màng áo và một số cơ quan khác Ấu trùng chuyển
Trang 26sang hoàn toàn sống sống vùi dưới đáy cát bùn Giai đoạn này từ 12 - 17 ngày Kích thước ấu trùng ở cuối giai đoạn này khoảng 510 - 580 µm
Giai đoạn con giống cấp 1
Khi ấu trùng xuống đáy hoàn toàn, sau khoảng từ 25 – 30 ngày tùy điều kiện môi trường và dinh dưỡng, ấu trùng spat chuyển sang giai đoạn con giống cấp 1
Hình 1 9 Ngán giống cấp 1
Giai đoạn con giống cấp 1 nhanh chóng phát triển hoàn thiện về hình thái, chúng có hình thái giống con ngán trưởng thành hoàn toàn, kích thước từ 1200 – 1500 µm, vỏ lúc này vẫn trong suốt có thể nhìn thấy các bộ phận cơ thể dưới kính hiển vi (Hình 2 8) Từ con giống, trong môi trường nền đáy của các khu rừng ngập mặn ngán tiếp tục sinh trưởng và phát triển thành con trưởng thành
Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành và cộng sự tại Viện Tài nguyên
và Môi trường biển đã bước đầu sản xuất thành công con giống ngán, với số lượng gần 60.000 con giống kích cỡ 8 – 12 mm (Hình 1 10), số ngán giống được thả ra môi trường
tự nhiên có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 27Hình 1 10 Ngán giống sản xuất nhân tạo 1.2.4 Kỹ thuật lưu giữ, nuôi tảo làm thức ăn
Trong quá trình làm thí nghiệm cần phải nuôi tảo làm thức ăn cho ngán Các kỹ thuật nuôi tảo đã được Nguyễn Xuân Thành và cộng sự (2013) [6] tìm hiểu như sau:
Đối tượng tảo nuôi
Các loài tảo làm thức ăn cho nuôi vỗ, ương nuôi ấu trùng và con giống ngán đó là:
(Nanochloropsis oculata, Isochrysis galbana, Chaetoceros spp., Tetraselmis chui, Chroomonas salina) Nguồn giống tảo được mua tại Viện Công nghệ sinh học, Trung
tâm quốc gia giống hải sản Miền Bắc – Viện NTTS I, Viện nghiên cứu Hải sản
Môi trường dinh dưỡng
Môi trường dinh dưỡng cơ bản được sử dụng trong lưu giữ và nuôi sinh khối tảo chủ yếu là môi trường F2 và môi trường Calway với hàm lượng 1ml/1 lít nước biển (Bảng 1 2)
Trang 28Bảng 1 2 Thành phần môi trường dinh dưỡng Calway và F2
Môi trường f/2 Môi trường Conway
Cách pha môi trường
Môi trường f/2: Cân 75 g NaNO3 cho vào bình thuỷ tinh đựng 300 ml, lắc đều hoặc đốt trên ngọn lửa đèn cồn cho tới khi tan hết Pha riêng NaH2PO4 và C6H8O7.H2O vào trong một bình thuỷ tinh khác, lắc đều cho tới khi tan hết Pha FeCl3 riêng, lọc sạch bẩn qua giấy lọc hoặc bông thấm nước và cho vào dung bình chứa dung dịch NaH2PO4
và C6H8O7.H2O sau đó cho tiếp vào bình chứa dung dịch NaNO3, bổ sung dung dịch vi lượng, chuẩn nước cất cho đến khi đạt 1 lít
Môi trường Conway: Cân đủ 2 chất NaNO3 và EDTD hoà tan trong một bình thuỷ tinh riêng, tiếp tục cân đủ MnCl2, NaH2PO4, H3PO4 hoà tan riêng trong bình thuỷ tinh khác Pha FeCl3 riêng, lọc sạch bẩn qua giấy lọc hoặc bông thấm nước và hoà tan vào bình chứa hỗn hợp các dung dịch MnCl2, NaH2PO4, H3PO4, tiếp tục cho vào bình chứa dung dịch NaNO3 và EDTD, bổ sung dung dịch vi lượng, chuẩn nước cất cho đến khi đạt 1 lít
Để nuôi các loài tảo silic (Chaetoceros) sử dụng Silicat pha loãng (1 ml silicat đậm
đặc pha trong 100 ml nước cất) với hàm lượng sử dụng 0,1 ml cho 1lít nước biển Bổ sung vitamin B1, B12 với hàm lượng 100 mg/1lít nước biển và 1000 µg/1lít nước biển
Trang 29Kỹ thuật nuôi tảo sinh khối cấp 1
- Thực hiện trong phòng có gắn điều hoà nhiệt độ, điều chỉnh và duy trì nhiệt độ
ổn định trong khoảng 22 ᴼC Chiếu sáng bằng đèn neon 40 W và sục khí 24/24
- Nguồn giống được lấy từ tủ lưu giống và nuôi vào các bình thuỷ tinh hình cầu hoặc hình trụ có dung tích từ 5 – 20 lít
- Nguồn nước: Nước biển để lắng lọc qua ống lọc 1µm, đun sôi để nguội Nhiệt độ nước khi cấy tảo phải được cân bằng với nhiệt độ trong bình nuôi
- Bổ sung môi trường dinh dưỡng F2 hoặc Calway và vitamin B1, B12
- Sục khí phù hợp
- Tảo đạt mật độ 4 x 106 – 6 x 106 tế bào/ml có thể dùng làm tảo giống cung cấp cho các trại sản xuất
Kỹ thuật nuôi sinh khối tảo cấp 2 làm thức ăn cho ngán
- Nuôi sinh khối tảo trong các túi nilon loại 70 lít hoặc trong các thùng nhựa có dung tích 120 lít hoặc các bể 2,5 m3 hoặc các bể có thể tích lớn hơn
- Nguồn nước được lọc qua ống lọc 1 µm
- Sục khí 24/24
- Cấy truyền bằng cách rút bớt cho ăn, cấp nước và bổ sung môi trường dinh dưỡng
Các đối tượng vi tảo biển có đạt mật độ nuôi cao, tảo N oculata (45 - 46.106 tb/ml);
T chuii (17 -18.106 tb/ml); I galbana (23 - 24.106 tb/ml); C salina (18- 19.106 tb/ml)
và Chaetoceros (16 - 17.106 tb/ml), tại thời điểm tảo đạt mật độ cao, ta có thể thu hoạch
để cung cấp cho ấu trùng ngán
Trong quá trình nuôi sinh khối tảo là một số loài tảo khó nuôi như I galbana hay Chromonas thường có hiện tượng tàn lụi sau những cơn mưa lớn vào mùa hè, gây thiếu
thức ăn trong quá trình sản xuất cần được chú ý để xây dựng kế hoạch chuẩn bị thức ăn
Đánh giá tổng quan chung: Qua nghiên cứu tổng quan trong và ngoài nước cho
thấy, đối tượng ngán phân bố hẹp nên chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, mang tính
hệ thống được công bố, nhất là các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc sản xuất giống và bảo vệ nguồn lợi ngán ngoài tự nhiên như điều tra nguồn lợi, đánh giá trữ
Trang 30lượng, điều kiện môi trường sống, đặc điểm sinh học Tại Quảng Ninh thời gian gần đây, do nguồn lợi ngán ngoài tự nhiên ngày càng cạn kiệt nhu cầu cấp bách của thị trường con giống ngán, để cung cấp cho nhu cầu thử nghiệm nuôi thương phẩm Vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu chuyên sâu để có những hiểu biết rõ ràng về đối tượng này làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc sản xuất giống nhân tạo, tiến tới chủ động cung cấp con giống, nuôi thương phẩm, giảm áp lực khai thác ngoài tự nhiên góp phần bảo
vệ và tái tạo nguồn lợi trong tương lai
Trang 31Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ngán Austriella corrugata tại Quảng Ninh
Thời gian nghiên cứu: Tháng 2/2016 đến tháng 10/2016
Địa điểm nghiên cứu: Trại sản xuất giống thủy sản Tân An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2 1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả sinh sản
Vật liệu nghiên cứu
Tổng số 180 cá thể ngán bố mẹ có kích thước chiều dài trung bình 54,07 ± 8,59
mm, khối lượng 60,2 ± 16,3 g, tuyến sinh dục chín không đều (giai đoạn II, giai đoạn III) được thu từ bãi triều Đài Xuyên, Vân Đồn, Quảng Ninh, thông qua ngư dân khai thác ngán (Hình 2 2)
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn và phương pháp kích thích sinh sản đến
hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ Austriella corrugata (Deshayes, 1843) trong quá
trình nuôi vỗ tại Quảng Ninh
Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ
Kết luận và đề xuất
Trang 32Hình 2 2 Ngán bố mẹ đưa vào làm thí nghiệm độ mặn
7 hàng năm) đã quan trắc được [6] Thí nghiệm có 3 nghiệm thức tương ứng với 3 độ mặn
là 18 ± 1 ‰, 23 ±1 ‰ và 28 ± 1 ‰ Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Mỗi lô thí nghiệm nuôi 20 cá thể ngán Ở mỗi lô thí nghiệm, ngán được đánh dấu số thứ tự trên vỏ bằng sơn,
để thuận tiện trong việc theo dõi, đánh giá (Hình 2 2) Thời gian theo dõi 15 ngày/đợt thí nghiệm Bố trí thí nghiệm theo kiểu một nhân tố ngẫu nhiên Tất cả các yếu tố phi thí nghiệm khác như nhiệt độ, ánh sáng, sục khí, thức ăn được bố trí hoàn toàn như nhau
Sử dụng cùng phương pháp kích thích sinh sản bằng cách sốc nhiệt, nhiệt độ nước trong
bể kích thích chênh lệch 8 – 10 °C (tăng và giảm) so với nhiệt độ nước trong bể đẻ Điều kiện môi trường bể cho đẻ và nuôi ấu trùng tương đương nhau giữa các lô thí nghiệm (nhiệt độ 28 °C, độ mặn 25 ‰)
Trang 33Hình 2 3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn
Thức ăn cho ngán trong các lô thí nghiệm là các loài vi tảo Nanochloropsis occulata, Isochrysis galbana và Cheatoceros spp được nuôi và thu sinh khối Ngoài ra còn bổ sung vi tảo dị dưỡng (Schizochytrium), được quay li tâm thu sinh khối do Viện
Công nghệ sinh học cung cấp, để chủ động trong việc đảm bảo nguồn thức ăn cho thí nghiệm Nguồn tảo giống được lấy từ Viện Công nghệ sinh học và Trung Tâm quốc gia giống Hải sản miền Bắc – Viện nghiên cứu NTTS I
Các chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả của quá trình nuôi vỗ ngán bố mẹ: Tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục, tỷ lệ tham gia sinh sản của ngán bố mẹ; sức sinh sản thực tế của ngán cái; tỷ lệ thụ tinh của trứng, tỷ lệ sinh sản hiệu quả (tỷ lệ nở ra
ấu trùng chữ D), chất lượng ấu trùng
2.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản
Vật liệu nghiên cứu
Tổng số 300 cá thể ngán bố mẹ có kích thước chiều dài trung bình 54,8 ± 11,7 mm, khối lượng 59,83 ± 20,04 g, tuyến sinh dục chín không đều (giai đoạn II, giai đoạn III) được thu từ bãi triều Đài Xuyên, Vân Đồn, Quảng Ninh, thông qua ngư dân khai thác ngán (Hình 2 4)
Trang 34Hình 2 4 Ngán bố mẹ đưa vào làm thí nghiệm thức ăn
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ được bố trí theo Hình 2 5
Hình 2 5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn
Căn cứ vào các loại thức ăn đã được nghiên cứu, sử dụng nuôi một số loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ đạt kết quả tốt [3; 13; 24], Tuy nhiên, mỗi loài thân mềm lại
có những loại thức ăn phù hợp khác nhau Vì vậy, chúng tôi tiến hành thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản của ngán bố mẹ trong điều kiện nuôi vỗ Năm nghiệm thức thức ăn đã được tiến hành thử nghiệm nuôi vỗ ngán bố mẹ và được đánh giá hiệu quả sinh sản thông qua tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục, tỷ lệ tham gia sinh sản của ngán bố mẹ; sức sinh sản thực tế của ngán cái; tỷ lệ thụ tinh của trứng, tỷ lệ sinh sản