Đồng thời, tôi xin cảm ơn các đơn vị: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tỉnh Q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus,1758) tại tỉnh Quảng Ninh”là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Quảng Ninh, ngày 19 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Đà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quí phòng ban trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau đại học, Viện Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản – Hải Phòng và Quí thầy cô giáo trong và ngoài Trường đã giảng dạy và tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Quốc Hùng người đã định hướng và tận tình đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Đồng thời, tôi xin cảm ơn các đơn vị: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Viện Nuôi trồng thủy sản I, các Phòng Kinh tế của thị xã Quảng Yên và Đông Triều, Chi cục Thú Y, Cục Thống kê, UBND các xã phường, thị trấn trên địa bàn nghiên cứuđã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Xin được gửi lời cảm ơn tới các hộ gia đình đã sắp xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến chia sẻ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày19 tháng 12năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Đà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN IV
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VIII
DANH MỤC BẢNG IX
DANH MỤC HÌNH X
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN XI
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi 3
1.2 Tình hình nuôi cá rô phi 4
1.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam 7
1.2.3 Tình hình nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 9
1.3 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống 10
1.3.1 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống ở Việt Nam 13
1.4 Nghiên cứu dinh dưỡng và sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi 14
1.4.1 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá rô phi 14
1.4.2 Sử dụng thức ăn nhân tạo 15
1.5 Nuôi cá rô phi trong ao đất 16
1.5.1 Phương thức nuôi cá rô phi 16
1.5.2 Hình thức nuôi cá rô phi 17
1.5.3 Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC 18
1.6 Thị trường tiêu thụ cá rô phi 19
1.6.1 Thị trường Mỹ 19
1.6.2 Thị trường khác 20
1.6.4 Giá cá rô phi trên thế giới 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 25
3.3.3.Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 27
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
3.1.1.1 Vị trí địa lý 27
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu 27
3.1.1.3 Sông ngòi và thuỷ văn 28
3.1.1.4 Tài nguyên nước 29
3.1.2 Quan hệ giữa đặc điểm kinh tế - xã hội đến phát triển thủy sản tỉnh Quảng Ninh 29
3.1.2.1 Về dân số 29
3.1.2.2 Về cơ cấu lao động và việc làm 30
3.1.2.3 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 30
3.2 Tiềm năng, hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Quảng Ninh 31
3.2.1 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản 31
3.2.2 Tình hình sản xuất giống cá nước ngọt 33
3.3 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 35
3.3.1 Độ tuổi và kinh nghiệm của hộ nuôi 35
3.3.2 Trình độ học vấn và tham gia các lớp tập huấn về NTTS 35
3.3.3 Kỹ thuật nuôi 37
3.3.3.1 Đặc điểm ao nuôi (diện tích, độ sâu ao nuôi, cống cấp, thoát nước) 37
3.3.3.2 Công tác chuẩn bị ao nuôi 38
3.3.3.3 Hình thức và mùa vụ nuôi 40
3.3.3.4 Mật độ, kích thước thả và nguồn gốc cá giống 41
3.3.3.5 Thức ăn và cách cho ăn 42
3.3.3.6 Công tác quản lý ao nuôi 44
3.3.3.7 Công tác phòng và trị trên cá rô phi 45
3.3.4 Tỷ lệ sống, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạch, năng suất 47
Trang 73.3.5 Tình hình tiêu thụ cá rô phi 48
3.3.6 Hiệu quả nuôi cá rô phi thương phẩm 49
3.4 Hiện trạng về công tác quản lý 51
3.4.1 Về công tác quy hoạch 51
3.4.2 Bộ máy quản lý và thực thi nhiệm vụ quản lý 51
3.5 Đánh giá thuận lợi và khó khăn 52
3.5.1 Thuận lợi 52
3.5.2 Khó khăn 53
3.6 Giải pháp phát triển nuôi cá rô phi bền vững tại Quảng Ninh 54
3.6.1 Giải pháp về quy hoạch 54
3.6.2 Giải pháp về con giống 54
3.6.3 Giải pháp về công nghệ, kỹ thuật nuôi và khuyến ngư 55
3.6.3.1.Về công nghệ, kỹ thuật nuôi 55
3.6.3.2 Về công tác khuyến ngư 56
3.6.4 Giải pháp về thức ăn trong nuôi cá rô phi 56
3.6.5 Giải pháp về hoạt động quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng trừ dịch bệnh 57
3.6.6 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 57
3.6.7 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 57
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58
4.1 Kết luận 58
4.2 Đề xuất 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chế độ ăn, khẩu phần ăn theo kích cỡ cá 14
Bảng 1.2 Nhu cầu protein cá rô phi (O.niloticus) giai đoạn cá hương, cá giống 15
Bảng 3.1.Tiềm năng diện tích phát triển nuôi trồng thủy sản ở các huyện/thị 32
Bảng 3.2 Hiện trạng sản xuất giống cá nước ngọt năm 2015 34
Bảng 3.3 Độ tuổi của chủ hộ nuôi cá rô phi 35
Bảng 3.4 Diện tích và độ sâu ao nuôi 37
Bảng 3.5 Công tác cải tạo và chuẩn bị ao nuôi cá rô phi 38
Bảng 3.6 Hình thức và mùa vụ nuôi 40
Bảng 3.7 Mật độ, kích thước, nguồn gốc cá giống 41
Bảng 3.8 Loại thức ăn và phương thức cho ăn 43
Bảng 3.9 Quản lý môi trường ao nuôi cá rô phi thương phẩm 44
Bảng 3.10 Thông tin về dịch bệnh và cách chữa trị trên cá rô phi 46
Bảng 3.11.Tỷ lệ sống, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạch, năng suất 48
Bảng 3.12 Khả năng tiếp cận nguồn cung cấp cá rô phi thương phẩm 48
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sản lượng cá rô phi toàn cầu 5
Hình 1.2.Tỷ lệ sản lượng cá rô phi của một số nước sản xuất chính 7
Hình 2.1.Sơ đồ nội dung nghiên cứu 24
Hình 3.1 Sản lượng NTTS của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 33
Hình 3.2 Trình độ học vấn của hộ nuôi cá rô phi 36
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên đề tài:
Xuất phát từ thực tiễn của nghề nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh tôi
thấy cần thiết phải triển khai thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus
(Linnaeus,1758) tại tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục tiêu đề tài: Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp phát triển
bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus,1758) tại tỉnh Quảng Ninh
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp: Thông qua các cơ quan, ban ngành địa
phương như các báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản của Bộ, Tổng cục Thủy sản và của sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản, Niên giám thống kê của tỉnh, các địa phương được nghiên cứu, khai thác thông tin trên các trang Web
- Thu thập số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi cá rô phi,
cơ sở sản xuất giống, người tiêu thụ sản phẩm tại địa phương, dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa với mục đích nghiên cứu
4 Kết quả nghiên cứu: Quảng Ninh là tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam,
diện tích tự nhiên 610.235 ha Có 14 đơn vị hành chính, khí hậu tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam Dân số trên 1,2 triệu người, kinh tế tăng trưởng 7,5% năm, diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh là 92.428ha Mặc dù có tiềm năng lớn về diện tích mặt nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, nhưng theo số liệu thống kê của Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Ninh năm 2015 toàn tỉnh mới sử dụng 20.667 ha bằng 21,1% tổng diện tích tiềm năng (bảng 3.4) Trong đó diện tích nước ngọt (cá rô phi chiếm 2/3 diện tích) đã sử dụng là 3.407 ha bằng 26,1 % diện tích tiềm năng; Diện tích mặn, lợ đã sử dụng là 17.260 ha bằng 21,7 % diện tích tiềm năng Như vậy, diện tích nuôi trồng thủy sản đưa vào khai thác trong toàn tỉnh còn thấp Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng tập trung chủ yếu ở các vùng chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản và một số
Trang 12Quảng Ninh nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng cho thấy có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển nuôi cá rô phi thương phẩm mang tính bền vững Tuy nhiên bên cạnh đó còn có yếu tố không thuận lợi đó là do đặc điểm địa hình Quảng Ninh là tỉnh ven biển và tiếp giáp với Trung Quốc, cùng với đó là điều kiện thời tiết khí hậu ở Quảng Ninh khá khắc nghiệt, có mùa đông lạnh kéo dài không thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá rô phi, mùa hè nhiệt độ cao kết hợp nắng nóng kéo dài, điều này cũng ảnh hưởng rất lớn cho sản xuất giống và nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh;
Cá giống sản xuất trong tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu trong tỉnh nhất là đầu vụ nuôi Làm cho nguồn cá giống kém chất lượng lưu hành Một số cơ sở cá giống không đủ năng lực tổ chức sản xuất cá giống cá rô phi đơn tính, cơ sở vật chất xuống cấp, trình độ kỹ thuật sản xuất cá rô phi đơn tính còn hạn chế, không mạnh đầu tư sản xuất giống cá rô phi Hầu hết các hộ nuôi manh mún, nhỏ lẻ, kỹ thuật nuôi còn dựa vào kinh nghiệm là chính, mức độ đầu tư thâm canh thấp, thiếu các mô hình nuôi đảm bảo an toàn thực phẩm, VietGap Vì vậy chưa tạo ra lượng hàng hoá lớn, kích cỡ thu hoạch nhỏ, không đáp ứng được các yêu cầu hàng hoá xuất khẩu Quy hoạch chi tiết các vùng nuôi còn nhiều bất cập, hệ thống cấp và thoát nước dùng chung cùng với nông nghiệp, không có
hệ thống xử lý nước thải Do đó nguy cơ lây lan và bùng phát dịch bệnh dễ xảy ra.Là tỉnh có tiềm năng và phong trào phát triển nuôi trồng thuỷ sản mạnh, nhưng trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy chế biến thức ăn thuỷ sản nào
Để giải quyết các vấn đề khó khăn tồn tại nêu trên, Quảng Ninh cần có cácgiải pháp: Giải pháp về quy hoạch; giải pháp về con giống; giải pháp về công nghệ nuôi khuyến ngư; giải pháp về thức ăn; giải pháp về hoạt động quan trắc, cảnh báo và phòng trừ dịch bệnh, giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực Nhằm khắc phục những điểm yếu, phát huy các điểm mạnh, lợi thế của địa phương ổn định và phát triển nghề nuôi cá rô phi theo hướng bền vững, tạo ra sản lượng lớn cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo vệ an ninh vùng biên giới của Tổ quốc
5 Kết luận: Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng lớn về diện tích mặt nước với
92.428 ha có thể phát triển nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có 20.667
ha mặt nước (chiếm 21,1%) được đưa vào khai thác sử dụng, trong đó diện tích nuôi
cá rô phi chiếm diện tích rất khiêm tốn là trên 2.000 ha Trình độ kỹ thuật nuôi đã được người dân coi trọng được ứng dụng vào thực tiễn; Công tác quan trắc cảnh báo
Trang 13môi trường và phòng trừ dịch bệnh được chú trọng; Phong trào nuôi cá rô phi của tỉnh
đã hình thành và có điều kiện thuận lợi để phát triển, do đó việc nghiên cứu xây dựng định hướng phát triển nuôi cá rô phi cho tỉnh đảm bảo hiệu quả và bền vững có ý nghĩa rất to lớn; Trong tỉnh hình thành nhiều vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tạo tiền đề
để phát triển nuôi cá rô phi theo hướng công nghiệp tại tỉnh
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những tồn tại đó là: Diện tích, năng suất, sản lượng nuôi cá rô phi toàn tỉnh năm 2015 còn đạt thấp so với tiềm năng sẵn có của tỉnh
Hạ tầng ao nuôi tuy đã được tỉnh quan tâm xây dựng tại các vùng chuyển đổi, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; Kỹ thuật nuôi cá rô phi vẫn còn ở mức độ hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Thiếu các mô hình nuôi VietGAP, ATTP Do vậy mà cá
rô phi nuôi chưa đủ điều kiện để xuất khẩu Sản xuất giống cá rô phi trong tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi cả về số lượng và chất con giống Mặc dù thức ăn công nghiệp đã được người nuôi cá rô phi sử dụng phổ biến, tuy nhiên sử dụng vẫn còn thấp mà chủ yếu vẫn kết hợp thức ăn tự chế biến từ tự nhiên Chưa có chợ đầu mối để trao đổi bán buôn cá thương phẩm Cá rô phi thương phẩm vẫn chỉ tiêu thụ nội địa, năm 2010 thị trường xuất khẩu tại tỉnh đã có, nhưng do sản lượng, chất lượng chưa đáp ứng được nên mới chỉ dừng lại ở đó
6 Đề xuất ý kiến: Cần áp dụng và thực hiện tổng hợp các giải pháp đã đề xuất vào
phát triển nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, cụ thể: Cần xây dựng và thực hiện quy hoạch chi tiết cho các vùng nuôi cá rô phi trên địa bàn toàn tỉnh; Tỉnh ưu tiên
bố trí nguồn vốn hỗ trợ cơ sở hạ tầng các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung đã được UBND tỉnh phê duyệt.; Hỗ trợ các cơ sở sản xuất giống để nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị và đàn cá bố mẹ để thay thế Tỉnh tạo điều kiện quan tâm đầu tư xây dựng hoặc liên doanh liên kết xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn cho cá rô phi trên địa bàn tỉnh; Tăng cường tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng cho người nuôi trong toàn tỉnh; UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan có liên quan cần ưu tiên bố trí đủ vốn để xây dựng hạ tầng tại các khu nuôi cá rô phi tập trung
và triển khai các dự án phát triển nuôi cá rô phi của tỉnh nhằm đảm bảo ATTP để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cá rô phi sang các nước trên thế giới
Trang 14MỞ ĐẦU
Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus,1758) là loài cá dễ nuôi, ít dịch
bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao, giá thành sản xuất thấp do đó các quốc gia hiện nay đang đặc biệt chú trọng phát triển nuôi cá rô phi Thêm vào đó, thịt cá rô phi
có chất lượng thơm ngon, không có xương dăm nên được người tiêu dùng ưa chuộng Xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam sang các thị trường trên thế giới luôn tăng trưởng trong những năm gần đây Năm 2004 xuất khẩu cá rô phi chỉ đạt giá trị 1,946 triệu USD, dự kiến năm 2016 xuất khẩu đạt trên 45 triệu USD, tăng 32% so với năm 2015
Dự báo nhu cầu tiêu thụ và giá sản phẩm cá rô phi trên thế giới tiếp tục tăng trong năm
2016 và các năm tiếp theo
Số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh năm 2015, mới có khoảng 1/4 diện tích tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản được đưa vào sử dụng Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt vẫn chủ yếu sử dụng hình thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và các loài thủy sản được nuôi chủ yếu
là các loài cá truyền thống có giá trị kinh tế thấp Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước
lợ tập trung chủ yếu nuôi tôm sú, tôm chân trắng bán thâm canh và thâm canh, tuy nhiên hiệu quả kinh tế của mô hình này không ổn định, dịch bệnh thường xuyên xảy ra gây rủi ro cao cho người nuôi
Với chủ trương của tỉnh Quảng Ninh “phát triển thủy sản Quảng Ninh toàn diện
cả về nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần theo hướng công nghiệp, sản xuất hàng hóa phục vụ du lịch, dịch vụ cao cấp, đẩy mạnh xuất khẩu, gia tăng giá trị
và bền vững để thủy sản trở thành ngành kinh tế quan trọng” trong đó cá rô phi được
xác định là một trong những đối tượng chủ lực để thực hiện chiến lược trên
Nhằm phát triển nghề nuôi cá rô phi ở tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian qua đã
có nhiều biện pháp được áp dụng và đã đạt được nhiều thành tựu khả quan như: nghiên cứu cải thiện di truyền, cải tiến quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm Nhiều
mô hình, dự án nuôi cá rô phi đã được thực hiện để nhân rộng và cho hiệu quả kinh tế cao, năng suất nuôi đạt 10 - 15 tấn/ha, lợi nhuận 60-80 triệu đồng/ha, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu từ nuôi cá rô phi.Tuy nhiên, để phát triển cá rô phi thành sản phẩm chủ lực, đóng góp vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu chung của ngành thủy sản Quảng Ninh, vấn đề đặt ra cần có các giải pháp hoàn chỉnh về giống,
Trang 15quy trình công nghệ nuôi an toàn thực phẩm, chế biến, tiếp cận thị trường, xuất khẩu…Quảng Ninh nên phát triển nuôi cá rô phi như thế nào cho hợp lý và mang tính bền vững
Trong thực tế nhu cầu tiêu dùng cá rô phi tại thị trường nội địa là rất lớn, mặt khác cá rô phi là đối tượng có thị trường xuất khẩu Chính vì vậy, ngành thuỷ sản tỉnh Quảng Ninh xác định cá rô phi là đối tượng cần được chú trọng phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới
Vấn đề đặt ra cần có những định hướng phát triển nuôi cá rô phi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, phát triển theo hướng bền vững nhằm tạo sản phẩm cá rô phi cung ứng cho nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu, làm tăng thu nhập cho bà con nông ngư dân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản của Tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự đồng ý của trường Đại học Nha Trang
chúng tôi thấy cần thiết phải triển khai thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus,1758) tại tỉnh Quảng Ninh”
* Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá rô phi vằn ở tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất được giải pháp phát triển nghề nuôi cá rô phi vằn mang tính bền vững tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
* Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh
- Tiềm năng, hiện trạng NTTS; hiện trạng kỹ thuật nuôi cá rô phi vằn tại Quảng Ninh
- Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học cá rô phi
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược Perciformes Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, hiện nay con số đó khoảng 100 loài, trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế Theo thống kê của FAO
(2002), trong mấy thập kỷ gần đây có 3 loài phổ biến; cá rô phi vằn (Oreochromis
niloticus), cá rô phi xanh (Oreochromis aureus), cá rô phi đen (Oreochromis mosambica), sản lượng rô phi trên thế giới của 3 loài này chiếm chủ yếu, trong đó sản
lượng rô phi vằn chiếm tới 83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới Cá rô phi vằn được coi là loài có nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém như nước thải,
ít bị bệnh dịch và thịt thơm ngon Đặc biệt chúng có thể chịu đựng được điều kiện môi trường oxy hòa tan thấp
Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường nuôi Cá
rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo và 1 phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn cá con từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu
là động vật phù du (ÐVPD) và 1 ít thực vật phù du (TVPD) Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và TVPD Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo xanh, tảo lục mà 1 số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá Ngoài ra cá rô phi còn ăn được thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác (Bảng 1.1)
Nhu cầu oxy hòa tan (DO): Cá rô phi có thể chịu được mức oxy hòa tan 0,1mg/lít Khi DO trong nước dưới 1mg/lít chúng có thể sử dụng oxy trong không khí Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá giảm sẽ phụ thuộc thời gian kéo dài tình trạng oxy hòa tan trong nước thấp Cá rô phi sống được trong bể nước có giá trị DO 1,2mg/l trong thời gian 36 giờ nếu nước được duy trì chất lượng tốt [28]
Nhiệt độ: Là một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cá Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp Nhiệt độ giới hạn cá rô phi rất rộng từ 11-420C Nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng phát triển của cá vào khoảng 28-
Trang 17300C Ở nhiệt độ thấp hơn 15,50C cá rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn [28]
pH: Trong NTTS, pH của nước từ 6,5-8,5 được coi như là phù hợp cho các loài
cá nuôi pH ảnh hưởng tới tính độc của amonia, nitrit và hydrogen sulfphile pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hướng tới sức khỏe cá Ngưỡng pH giới hạn của cá rô phi nằm trong khoảng từ 4-11 Ngưỡng pH thích hợp 6,5-9[28]
Độ mặn: Cá rô phi thích nghi ở độ mặn rộng O.Niloticus có thể sống ở độ mặn
13-29‰ Môi trường có độ mặn 5-10‰ là thích hợp cho cá rô phi vằn phát triển [28]
Đặc điểm sinh sản: Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện
bình thường ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Cá rô phi O.Niloticus
đực đào hố ở đáy ao, cá cái đẻ trứng vào hố cùng thời điểm đó cá đực tưới tinh dịch vào trứng của cá cái Sau khi trứng đã thụ tinh cá cái nhặt trứng vào miệng và ấp trong miệng Mỗi cá cái trung bình đẻ từ vài trăm đến 2.000 trứng/lứa Thời gian ấp tính từ khi cá cái nhặt trứng từ ổ để ấp trong miệng đến khi thành cá bột khoảng 10 ngày Thời gian ấp tùy thuộc nhiệt độ nước, ở nhiệt độ 300C thời gian kéo dài khoảng 3 ngày Sau khi nở cá bột tiếp tục được cá mẹ bảo vệ đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc lập [32]
1.2 Tình hình nuôi cá rô phi
1.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá chép Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá
rô phi cũng được cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng đang ngày càng cạn kiệt (WFC 2003) Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2014 đạt 4,67 triệu tấn, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2010 – 2014 đạt trung bình 12,3% Do nhu cầu tiêu thụ cá
rô phi ngày càng tăng, thị trường thế giới ổn định, khoa học công nghệ trong nuôi, sản xuất giống cá rô phi ngày càng phát triển và nhiều nước mở rộng diện tích và nâng cao năng suất nên sản lượng cá rô phi toàn cầu trăng trưởng nhanh, dự báo đạt 5,0 triệu tấn vào năm 2015 và còn tiếp tục tăng cao trong những năm tiếp theo
Trang 18Hình 1.1 Sản lượng cá rô phi toàn cầu [27] ĐVT (tấn)
- Châu Á
Tổng sản lượng cá rô phi nuôi toàn cầu năm 2013 đạt 4.677.613 tấn Trong đó châu Á là khu vực chính sản xuất cá rô phi, chiếm > 60% tổng sản lượng cá rô phi toàn cầu Những nước sản xuất cá rô phi chính ở khu vực châu Á bao gồm Trung Quốc (1.600.000 tấn); Indonesia (717.813 tấn); Philippines (275.000 tấn); Thái Lan (220.000 tấn) và Việt Nam (95.000 tấn) (FAO, 2014; số liệu 2013)
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi và tiêu thụ cá rô phi với sản lượng đạt trên 1,6 triệu tấn và là nước xuất khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới Trung Quốc áp dụng khá đa dạng các hình thức nuôi cá rô phi như nuôi trong ao, nuôi ghép với các đối tượng cá truyền thống, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Năm 2013, nước này xuất khẩu 370.000 tấn cá rô phi trị giá 1,3 tỷ USD
Sản lượng cá rô phi của Indonesia trong những năm gần đây đã vươn lên là nước sản xuất cá rô phi lớn thứ 2 châu Á và là nước có sản lượng cá rô phi cao thứ 3 toàn cầu (717.813 tấn); các nước có sản lượng khá cao bao gồm Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam Cá rô phi của Đài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Phippines chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh
Việt Nam sản xuất 95.000 tấn cá rô phi (2013) và tăng nhanh lên 171.360 tấn (2014) Trong những năm tới, Việt Nam đạt mục tiêu phát triển cá rô phi thành đối
Trang 19tượng nuôi chủ lực, tạo sản lượng lớn cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Việt Nam đặt mục tiêu sản lượng cá rô phi đạt 200.000 tấn vào năm 2020 và 300.000 tấn vào năm 2030
- Châu Mỹ
Quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất châu Mỹ là Braxin (300.000 tấn), Mexico (100.000 tấn) và một số nước khác như Ecuado, Colombia với sản lượng thấp hơn Braxil và Mexico nhờ có tiềm năng diện tích, có thị trường nội địa mạnh, đặc biệt
là nhu cầu tiêu thụ cao) Đặc biệt, Braxin là quốc gia có tiềm năng phát triển nuôi cá rô phi do hội tụ các điều kiện thuận lợi về nguồn nước, khí hậu nên giá thành sản xuất thường thấp dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm cá rô phi của nước này trên thị trường thế giới
Ecuado, một quốc gia sản xuất tôm nổi tiếng nhưng trong những năm gần đây đang đối mặt với dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng –WSSV) đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen kẽ tôm – cá đã chứng tỏ được hiệu quả Một quốc gia khác là Pêru tuy mới phát triển nuôi cá rô phi nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai
Điểm mạnh của các nước Trung Mỹ là rất gần thị trường Mỹ nên tiềm năng để
mở rộng sản xuất, nhắm vào phân khúc phi lê tươi xuất khẩu sang thị trường Mỹ với giá trị cao hơn nhiều so với sản phẩm phi lê đông lạnh và đông lạnh nguyên con Đây
là lợi thế lớn của các nước Trung Mỹ khi tham gia vào thị trường xuất khẩu cá rô phi
so với các nước khác
- Châu Phi
Ai cập vào năm 2012 với sản lượng 768.000 tấn/năm , là nước sản xuất cá rô phi có sản lượng cao thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc và chiếm 90% sản lượng cá rô phi của Châu phi Gần đây, một số nước Châu phi bắt đầu tập trung phát triển cá rô phi trong đó Ghana là nước có chính sách tốt, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư những trang trại nuôi cá rô phi lớn trên hồ chứa Trong những năm tới với chính sách và quản lý tốt, nghề nuôi cá rô phi của Ghana tiếp tục phát triển nhanh Tuy vậy, sản lượng cá rô phi của Ghana hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước
Trang 20- Châu Âu
Sản lượng cá rô phi nuôi ở Châu Âu rất ít do nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi
cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng 300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Đức, Pháp và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một số bộ phận dân cư có nguồn gốc từ Châu Á
- Trung Đông
Ả Rập Xê út, Cô Oét và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường nước mặn
nên loài nuôi phổ biến là O.spiluris Do thiếu nguồn nước nên các hoạt động nuôi
thường bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao Syria trong những năm 2011, trước khi xảy ra nội chiến, cá rô phi đã được nuôi khá phổ biến trong các ao lớn, sử dụng nguồn nước ngầm Tuy nhiên, từ khi nội chiến đến nay nghề nuôi thủy sản của Syria trong đó có nghề nuôi cá rô phi đã suy giảm nghiêm trong
Hình 1.2.Tỷ lệ sản lượng cá rô phi của một số nước sản xuất chính (2013)
Nguồn: [8]
1.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam
Ở Việt Nam cá rô phi được nuôi từ những năm 1950, ban đầu là loài rô phi đen
(O.mossambicus) được nhập vào Việt Nam từ Thái Lan Đây là loài cá ăn tạp, có thể
Trang 21sinh trưởng và phát triển tốt ở cả môi trường nước ngọt và nước lợ nhưng lại có rất nhiều nhược điểm như thành thục sớm, chậm lớn, có màu đen xẫm, cỡ cá nhỏ, chịu đựng điều kiện nhiệt độ thấp kém, năng suất nuôi có giá trị thương phẩm thấp nên giá trị kinh tế của loài này thấp
Đến năm 1973, cá rô phi vằn (O.niloticus) được nhập vào nước ta từ Đài Loan
thay thế cho cá rô phi đen Trong thời gian đầu, cá rô phi vằn lớn rất nhanh, thịt thơm ngon, nên đã nhanh chóng được thị trường chấp nhận và trở thành loài cá nuôi kinh tế quan trọng trong các loại thủy vực khác nhau Tuy nhiên, những năm sau đó do việc giữ giống thuần thiếu thận trọng đã để cá rô phi vằn và cá rô phi đen tạp giao trong các
hệ thống nuôi tạo ra con lai cũng mang đặc điểm chậm lớn, cỡ cá nhỏ và giá trị thương phẩm thấp Do vậy nghề nuôi cá rô phi không phát triển được và sản lượng cá rô phi sút giảm đáng kể
Để có thế khôi phục phát triển nghề nuôi cá rô phi nước ta, năm 1994, Viện nghiên cứu NTTS I nhập 2.150 con cá rô phi giống dòng GIFT, 1000 con rô phi dòng
Ai Cập, và cá rô phi dòng Tái ICLARM (trung tấm quốc tế về bảo vệ nguồn lợi thủy sản), Philippines Năm 1996, Viện nghiên cứu NTTS I và II tiếp tục nhập 8.700 cá rô phi giống từ Philippnes Ngay sau đó, cá dòng GIFT , dòng Thái, dòng Ai Cập và dòng Việt (Dòng cá nhập nội từ Đài Loan năm 1973) được nuôi thử nghiệm so sánh đánh giá về tốc độ tăng trưởng ở Viện nghiên cứu NTTS I, Viện nghiên cứu NTTS II và nhiều địa phương khác trên cả nước Kết quả cho thấy, các dòng GIFT có sức tăng trưởng cao hơn các dòng khác [14]
Hiện nay, sản lượng cá rô phi của Việt Nam đạt khoảng 20-30 nghìn tấn (năm 2014) chiếm khoảng 3% tổng sản thủy sản cả nước ta (967.502 tấn) Nhưng trên thực
tế tỷ lệ này lớn hơn rất nhiều do sản phẩm cá rô phi của nước ta chủ yếu phục vụ tại chỗ đáp ứng nhu cầu nội địa Hình thức và phương thức nuôi cá rô phi của nước ta rất
đa dạng như nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi nước thải, nuôi công nghiệp, nuôi kết hợp với vịt, lúa, nuôi lồng trong các loại thủy vực khác nhau từ Bắc vào Nam
Từ năm 2002, Bộ thủy sản mới phát động phong trào nuôi cá rô phi xuất khẩu Năm 2003, sản lượng cá rô phi nuô của cả nước mới hỉ đạt khoảng 30 nghìn tấn và chỉ xuất gần 120.000 USD phi lê cá rô phi đông lạnh, chiếm vị trí rất khiêm tốn so với các nước xuất khẩu khác (TQ xuất khẩu hơn 85 triệu USD-Bộ thủy sản)
Trang 22Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2006 - 2015, Bộ Nông nghiệp và PTNT đặt ra mục tiêu mở rộng diện tích nuôi cá rô phi là 59.159 ha, sản lượng đạt 300.000 - 350.000 tấn/năm trong đó tiêu thụ nội địa chiếm 70% và 30% dành cho xuất khẩu Hàng loạt các đề tài nghiên cứu, các dự án thí điểm nuôi cá rô phi
đã được tiến hành ở Miền Nam, miền Bắc và đã đạt được một số thành tựu khả quan
về sản xuất giống, nâng cao chất lượng giống, sản xuất thức ăn cho cá rô phi và kỹ thuật nuôi cá rô phi thương phẩm
1.2.3 Tình hình nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng về phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước: nước ngọt, lợ, mặn Cá rô phi tại Quảng Ninh được nuôi chủ yếu ở môi trường nước ngọt và nước lợ Nghề nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh bắt đầu phát triển từ những năm 2000 Hình thức nuôi lúc đó chủ yếu là nuôi ghép với các loài cá truyền thống đối với các ao nuôi nước ngọt, còn các đầm nước lợ chủ yếu là nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến vì vậy năng suất nuôi rất thấp Trước tình hình trên, năm
2002 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo Trung tâm Khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thuỷ sản chuẩn bị con giống cá rô phi đơn tính và triển khai thực hiện 123 mô hình nuôi cá rô phi tại các huyện, thị trong tỉnh Thông qua mô hình
đã chuyển tải khoa học kỹ thuật tới bà con nông dân và được bà con nhiệt tình hưởng ứng Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành thuỷ sản Quảng Ninh luôn quan tâm chỉ đạo Chi cục Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông-khuyến ngư; Trung tâm Khoa học
kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ sản xây dựng các dự án, mô hình nuôi cá rô phi đơn tính tại các địa phương, vì vậy phong trào nuôi cá rô phi đã tăng rõ rệt cả về diện tích nuôi, năng suất và sản lượng
Năm 2014, tổng diện tích nuôi cá rô phi toàn tỉnh đạt 1.100 ha, sản lượng 5.000 tấn, năng suất trung bình đạt 4-5 tấn/ha, cụ thể: Nuôi cá rô phi quảng canh, quảng canh cải tiến: Diện tích nuôi khoảng 500 ha, sản lượng đạt 800 tấn Nuôi cá rô phi bán thâm canh: Diện tích nuôi cá khoảng 400 ha, sản lượng đạt 2.200 tấn Nuôi cá rô phi thâm canh: Diện tích nuôi khoảng 200 ha, sản lượng đạt 2.000 tấn [5]
Đặc biệt năm 2009 - 2015 Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt và
triển khai dự án: “Xây dựng tiểu vùng nuôi cá rôphi tập trung tại các vùng chuyển đổi
đất nông nghiệp cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản” Dự án thực hiện với
Trang 23mục tiêu: (1) Xây dựng mô hình nuôi cá rô phi tập trung theo phương pháp thâm canh nhằm phát huy hiệu quả cơ sở hạ tầng vùng chuyển đổi đất nông nghiệp năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, tạo việc làm có thu nhập cao, ổn định cho nông dân ở vùng đất chuyển đổi; (2) Nhằm sản xuất sản phẩm thuỷ sản có chất lượng, trước mắt cung cấp nhu cầu tiêu dùng trong nước, tiến tới nhân rộng mô hình ra toàn bộ các diện tích chuyển đổi đất nông nghiệp năng suất thấp trên địa bàn toàn tỉnh để sản xuất một lượng sản phẩm hàng hoá lớn cung cấp làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu Kết quả dự án cho thấy: Năng suất nuôi trung bình đạt 12,5 tấn/ha, lợi nhuận 50-
60 triệu đồng/ ha, đặc biệt là sự hào hứng nhiệt tình vào cuộc của nông ngư dân
Tuy nhiên, việc phát triển nuôi đối tượng trên phần lớn còn phân tán, quy mô nhỏ, chưa thực sự tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tạo nguyên liệu xuất khẩu
Vì vậy, trong sản xuất còn tồn tại một số vấn đề sau: Việc sản xuất cung ứng giống thuỷ sản còn nhiều bất cập, qui hoạch các trại sản xuất trên toàn tỉnh chưa đồng đều, việc nhập giống cá rô phi bột từ Trung Quốc vào tỉnh theo con đường tiểu ngạch vẫn xảy ra, con giống đáp ứng chưa kịp thời, công nghệ nuôi áp dụng còn hạn chế, khả năng đầu tư còn thấp dẫn đến cá nuôi kích cỡ thương phẩm nhỏ, chất lượng chưa đảm bảo, dịch bệnh thường xảy ra trong quá trình nuôi, vì vậy giá thành cao, hiệu quả kinh
tế nuôi còn thấp, do đó chưa thúc đẩy được sản xuất mang tính hàng hóa tập trung để xuất khẩu sang thị trường các nước trên thế giới [1],[2 ],[3],[4], [5]
1.3 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
1.3.1 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống trên thế giới
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi
mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Ban đầu nguồn cá rô phi giống cung cấp cho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [32] Do nhu cầu con giống ngày càng cao nên người ta đã tiến hành sản xuất giống cá rô phi Có hai phương pháp sản xuất giống
cá rô phi: Sản xuất giống cá rô phi trong ao và sản xuất giống trong giai
Pillay (1990) [32] mô tả kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi trong ao đất Cá bố
mẹ đã thành thục được thả chung trong một ao đã chuẩn bị sẵn và cho ăn hằng ngày Trong thời gian này cá tự sinh sản trong ao, sang tháng thứ 2 chuyển cá bố mẹ sang ao khác và dùng ngay ao cho đẻ làm ao ương cá bột Quá trình nuôi vỗ, cho đẻ tiếp tục được lặp lại ở ao kế tiếp Nhược điểm phương pháp này là kích cỡ cá giống không
Trang 24đồng đều mặt khác do kích cỡ cá ương không đều nên có hiện tượng những con lớn tấn công con nhỏ hơn Để hạn chế nhược điểm này hàng ngày người ta tiến hành vớt
cá bột khi thấy chúng bơi thành đàn trong ao rồi chuyển sao ao ương riêng Phương pháp cho sinh sản cá rô phi trong ao đất dễ áp dụng, giá thành sản xuất rẻ nên được áp dụng nhiều nước như ở Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines…[32]
Phương pháp sản xuất giống trong giai, lồng được áp dụng trong ao đất, các mặt nước hở Giai được làm bằng lưới nylon 10x2x1 m Mật độ thả cá bố mẹ 4 con/m2, tỷ
lệ đực cái là 1:3 Khi thấy cá bột xuất hiện tiến hành thu cá bột đưa sang ương trong giai kích cỡ 10x2x1,5 m, mật độ khoảng 1000 con/m2 phương pháp này ưu điểm là quản lý tốt sự sinh sản đàn cá bố mẹ được áp dụng trong chọn giống và tạo ra con lai toàn đực ở nhiều nước trong đó có Việt Nam [32]
Nuôi cá thương phẩm bằng con giống lấy từ tự nhiên và cá thuần để nuôi thường chậm lớn và không kiểm soát được mật độ do thành thục sớm, dễ sinh sản tự nhiên trong ao nuôi Trong quá trình ấp trứng trong miệng cá cái thường ngừng tăng trưởng Để nâng cao tốc độ lớn của cá nuôi và việc kiểm soát mật độ thả dễ dàng người nuôi cá rất quan tâm đến sử dụng các đàn cá rô phi đơn tính đực Nuôi cá rô phi đơn tính do cá không có khả năng sinh sản, giúp kiểm soát được quần đàn cá trong ao,
cá có thể tận dụng tốt dinh dưỡng cho sinh trưởng Để tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực có nhiều phương pháp khác nhau: (a) Chọn cá đực, cá cái riêng biệt dựa vào khác biệt hình thái bên ngoài giữa cá đực và cá cái, (b) chuyển giới tính bằng hormone, (c) phương pháp lai xa và tạo cá siêu đực [32]
Tạo ra đàn cá đơn tính đực bằng cách loại bỏ cá cái dựa vào quan sát bộ phận sinh dục ngoài bằng mắt thường là phương pháp sơ khai, đơn giản, tốn nhiều nhân công, chỉ thực hiện khi đã phân biệt rõ cá đực, cá cái bằng hình thái ngoài (khi cá đạt
cỡ 5-10g/con) Sự chính xác phương pháp này thấp và phụ thuộc tay nghề của người chọn đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Israel trong những năm 1970 Tuy nhiên, hiện nay rất ít cơ sở sản xuất giống sử dụng phương pháp này để sản xuất cá rô phi đơn tính đực
Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng cho ăn hormone được áp dụng rộng rãi trên thế giới trong vòng 20 năm gần đây, cá rô phi 5-7 ngày tuổi sau khi tiêu hết noãn hoàng được cho ăn thức ăn có trộn hormone (thường dùng 17α-Methyltestosterone, liều lượng 60mg/kg thức ăn) trong khoảng thời gian 21 ngày Công nghệ này tương
Trang 25đối đơn giản, dễ áp dụng và đầu tư thấp hơn so với phương pháp lai xa và chọn cá đực bằng tay Kết quả ổn định, tạo đàn cá có tỷ lệ đực khá cao đạt 92%-100% Hiện công nghệ này được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất rô phi đơn tính đực ở Thái Lan, Phillippines, Braxil, Israel, Trung Quốc Tuy nhiên những lo ngại về ảnh hưởng của hormone sử dụng đến môi trường và sức khỏe con người đã thúc đẩy việc tìm kiếm các công nghệ khác tạo cá rô phí đơn tính đực [32]
Công nghệ lai xa và công nghệ cá siêu đực được xây dựng trên cơ sở khoa học
di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi cho lai hai loài O.urolpis O.hurnorum với
O.mossambicus tạo ra thế hệ con đơn tính đực, các nghiên cứu sau này được tiến hành
trên nhiều loài khác nhau: Lai xa ngoài tạo ra thế hệ con lai toàn đực, thì lai xa còn cải thiện tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh Tuy nhiên, tỷ lệ đực ở đàn con lai dao động 70-100% và phụ thuộc vào mức độ thuần chúng cá bố mẹ Tỷ lệ đực cái còn có
sự khác biệt khi sử dụng các loài khác nhau Do vậy, ngay ở Trung Quốc, Đài Loan, Israel mới được sử dụng ở một phạm vi nhất định Để có đàn cá toàn đực vẫn phải kết hợp lai xa với công nghệ chuyển đổi giới tính có điều chỉnh thời gian và hàm lượng hormone trong thức ăn hoặc tiến hành chọn cá đực bằng tay ở đàn cá lai khi cá giống đạt cỡ 10-20 g/con
Gần đây, dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi bằng việc tạo
ra các cá cái giả (XY) và kỹ thuật lai phân tích hướng tới tạo hàng loạt cá rô phi đực có kiểu gen giới tính (YY) Khi sử dụng cá siêu đực (YY) sinh sản với cá cái thường (XX) tạo đàn cá toàn đực (XY) Tuy nhiên, tỷ lệ cá đực tạo ta không ổn định, khác nhau trên từng cá cái
Trong vòng 20 năm gần đây, nhiều nước đã tiến hành những nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giống cá rô phi, đặc biệt nâng cao tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh và khả năng chịu mặn của cá thông qua chọn giống Dự án cải thiện chất lượng di truyền cá rô phi (GIFT) được tiến hành từ năm 1988 dưới sự hợp tác của 4 tổ chức: Trung tâm quốc tế quản lý nguồn lợi đông vật thủy sản (ICLARM), Cục thủy sản và nguồn lợi thủy sản Phillippines (BFAR), trung tâm nước ngọt trường đại học miền Trung Luzon (FAC/CLSU) và Viện nghiên cứu NTTS Nauy (AKVAFORSK) bằng nguồn kinh phí Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) Từ năm 1988-1995, dự án đã tiến hành chương trình chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi vằn dựa trên chọn lọc gia đình đã tạo ra rô
Trang 26phi vằn dòng GIFT Chúng được nuôi thử nghiệm và được dùng làm giống nuôi ở nhiều nước trên thế giới Chúng có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với các dòng rô phi khác Hiện nay chúng là loài rô phi nuôi phổ biến nhất
1.3.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống ở Việt Nam
Năm 1951, lần đầu tiên cá rô phi đen (O.mossambicus) được nhập vào Việt Nam
từ Thái Lan [16], Năm 1973, cá rô phi vằn (O.niloticus) đã được di nhập vào miền Nam nước ta từ Đài Loan, đến năm 1977 chúng được chuyển ra miền Bắc nuôi
Tuy nhiên, do không quản lý tốt dẫn đến sự lai tạp với loài cá rô phi đen (O.mossambicus) khiến cho chất lượng di truyền của loài cá rô phi vằn này bị thoái hóa, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 bị giảm sút nghiêm trọng [16]
Từ năm 1993-1994, một số dòng cá rô phi đã được nhập nội: Cá rô phi vằn dòng thái và cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 nhập từ Thái Lan Cá rô phi
vằn dòng Swansea và cá rô phi xanh (O.aureus ) nhập từ Phillipines, cá rô phi hồng (Oreochromis sp) nhập từ Đài Loan và Thái lan
Qua nuôi thử nghiệm tại một số địa phương cho thấy cá rô phi dòng GIFT thể hiện sự vượt trội về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá ở nước ta [16] Sức tăng trưởng cá dòng GIFT cao hơn các dòng cá khác hiện có ở Việt Nam 15-20% Hiện nay, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi quan tâm và nuôi phổ biến ở nước ta
Năm 1997, Viện NCNTTS I dã tiến hành nghiên cứu lai xa: O.niloticus dòng Egypt-AIT lai với O.aureus, Cá siêu đực O.niloticus dòng Egypt-Swansea lai với cá cái đực O.niloticus nhằm tạo ra đàn cá đơn tính tỷ lệ trung bình 65,3%-83,2% [16] Do tỷ lệ
cá đực tạo ra không ổn định nên kỹ thuật này không được áp dụng phổ biến tại nước ta
Năm 1994-1997, Viện NCNTTS I áp dụng thành công công nghệ chuyển giới tính cá rô phi bằng hormone từ Viện Công nghệ Châu Á Trứng cá rô phi được thu từ khi cá mẹ đang ấp trong miệng đưa vào ấp nhân tạo trong hệ thống khay ấp Cá sau khi tiêu hết noãn hoàng được đưa ra giai cắm trong ao để ương, cá được cho ăn thức ăn bằng bột nghiền mịn trộn với 17α-Methyltestosterone với liều lượng 60mg/kg thức ăn, vitamin C được bổ sung 10g/1kg thức ăn Sau 21 ngày xử lý cá đạt tỷ lệ sống 72,2%,
tỷ lệ đực trên 95% Đến nay công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính được áp dụng rộng rãi trên cả nước
Trang 27Số cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở nước ta tăng liên tục trong mấy năm qua Năm 2002, cả nước mới có 10 cơ sở sản xuất giống rô phi đơn tính đực, đến năm
2004 đã có tới 57 cơ sở Đến nay lên đến khoảng 235 cơ sở sản xuất trên toàn quốc Các cơ sở sản xuất giống hầu hết tập trung tại phía Nam Mấy năm gần đây một số cơ
sở tại các địa phương miền Bắc đã nhập công nghệ sản xuất lai xa khác loài từ Trung Quốc, Đài Loan song sản lượng cá hương tạo ra còn hạn chế về chất lượng Viện NCNTTS I đã chuyển giao công nghệ lai xa cho nhiều trung tâm giống các tỉnh miền Bắc bước đầu đã mang hiệu quả, chất lượng
1.4 Nghiên cứu dinh dưỡng và sử dụng thức ăn nuôi cá rô phi
1.4.1 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá rô phi
Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi thay đổi tùy thuộc từng giai đoạn phát triển
Để đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu tăng trưởng, sinh sản và các chức năng sinh lý của cá thì cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng như: protein, lipid, năng lượng, vitamin và khoáng Cá rô phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5- 2%), P (1- 1,5%), K, Na chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rô phi yêu cầu về hàm lượng đạm thấp hơn Ðiều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn công nghiệp cho cá rô phi Để cụ thể hơn về khẩu phần ăn của cá rô phi ở các kích cỡ khác nhau thể hiện qua Bảng 1.1
Bảng 1.1 Chế độ ăn, khẩu phần ăn theo kích cỡ cá Trọng lượng cá
(g/con)
Hàm lượng protein (%)
Lượng cho ăn (%
trọng lượng)
Số lần cho ăn trong ngày
Trang 28Bảng 1.1 Nhu cầu protein cá rô phi (O.niloticus) giai đoạn cá hương, cá giống
Nguồn: [20]
Thức ăn có tỷ lệ protein bằng 0% tăng trưởng của cá là âm (Cá tiêu hao nội sinh trong dị hóa mô làm mất protein) nghĩa là cá bị giảm trọng lượng Ở trên mức này đạt đến mức tăng trưởng tối đa (là tăng trưởng tối ưu) và sau đó là mức ổn định nghĩa là tiếp tục tăng khẩu phần protein trong tức ăn nhưng tốc độ tăng trưởng cá không tăng [31]
Nhu cầu khẩu phần protein cho sinh trưởng cá giai đoạn nhỏ cao hơn giai đoạn
cá lớn, phụ thuộc kích cỡ cá và tuổi [32] Ngoài ra khẩu phần protein tối ưu của cá rô
phi vằn (O.niloticus) có kích cỡ 0,4-0,5 g/con là 45% với cá có kích cỡ 15-22g/con
khẩu phần protein là 35% Khẩu phần protein và tần suất cho ăn cá rô phi nuôi thương phẩm qua (Bảng 1.3)
Lipid cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của cá, tạo màng tế bào, vận chuyển các chất tan trong lipid (Vitamin A, D, E, K) Nhu cầu khẩu phần lipid cá rô phi từ 5% đến 12% tùy theo giai đoạn phát triển, nhu cầu tỷ lệ protein và năng lượng (P/E) tối ưu là 29,9
1.4.2 Sử dụng thức ăn nhân tạo
Sử dụng các loại phân bón (vô cơ và hữu cơ) để làm giàu nguồn thức ăn tự nhiên cho cá trong ao nuôi là một giải pháp cung cấp thức ăn cho cá nuôi Tuy nhiên, phương pháp này làm năng suất nuôi không cao và ảnh hưởng tới chất lượng VSATTP của cá nuôi nếu không biết sử dụng hợp lý
Hình thức nuôi cá rô phi bán thâm canh và thâm canh, mật độ cá thả tăng, nguồn thức ăn tự nhiên không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cá nuôi Vì vậy cần phải
bổ sung dinh dưỡng cho cá bằng thức ăn nhân tạo để nâng cao năng suất nuôi
Có hai loại thức ăn nhân tạo là thức ăn công nghiệp được các hãng, công ty sản xuất và thức ăn tự chế biến tại chỗ của người nuôi cá
Trang 29Thức ăn tự chế biến tại chỗ từ các nguyên liệu có sẵn ở các địa phương: cám gạo, cám ngô, bột sắn, cá tạp…Đây là hình thức chế biến thức ăn khá phổ biến ở nhiều nước Châu Á Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, giá thành rẻ Tuy nhiên, thức ăn tự phối chế theo kinh nghiệm, nguyên liệu không được kiểm tra chất lượng dinh dưỡng thường xuyên nên khó đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng Loại thức ăn này không nổi, dễ hòa tan nếu không có chế độ cho ăn thích hợp sẽ làm môi trường nước
ao nuôi nhanh chóng ô nhiễm
Thức ăn công nghiệp dùng cho cá, hiện nay có nhiều công ty sản xuất Các nhãn hiệu phổ biến được nhiều người nuôi biết đến như: Proconco, C.P, Cargilll, Kinh Bắc…và các loại thức ăn của những nhà sản xuất mới, mang nhãn hiệu Greenfish, Con
cá vàng, Con Rồng Thức ăn công nghiệp có nhiều loại thức ăn khác nhau về kích cỡ viên, chất lượng dinh dưỡng, thường hàm lượng protein tổng số dao động từ 20-35% Thức ăn công nghiệp có mặt trên thị trường nước ta là thức ăn viên nổi, ưu điểm dễ kiểm soát việc sử dụng thức ăn của cá, hạn chế lãng phí thức ăn, hàm lượng đạm và kích cỡ thức ăn thích hợp với từng giai đoạn phát triển của cá Tuy nhiên, giá thành cao hơn so với thức ăn tự chế biến
Theo ước tính toàn quốc có khoảng gần 40 nhà máy sản xuất thức ăn cho NTTS với tổng công suất khoảng 800.000 tấn/năm, trong đó có khoảng 40.000 – 50.000 tấn thức ăn được sản xuất cho nuôi cá rô phi Tuy nhiên, không có sự phân bố đồng đều giữa các khu vực mà tập trung chủ yếu các tỉnh phía Nam Vì vậy thức ăn tại khu vực miền Bắc, miền Trung phải chuyển từ phía Nam ra Các nguyên liệu chủ yếu (đậu tương, bột cá, dầu cá, chất bổ sung…) dùng để sản xuất thức ăn các nhà máy hiện đều nhập từ nước ngoài Làm giá thành sản xuất nuôi cá rô phi tăng, dẫn đến giảm lợi nhuận trong nuôi cá rô phi
1.5 Nuôi cá rô phi trong ao đất
1.5.1 Phương thức nuôi cá rô phi
Nuôi cá rô phi trong ao đất là hình thức nuôi phổ biến ở nhiều nước Phương thức nuôi đa dạng từ nuôi quảng canh cải tiến nuôi bán tham canh và thâm canh Tùy thuộc vào điều kiện tiềm năng đất đai, khả năng đầu tư và trình độ nuôi mỗi nơi mà người ta chọn lựa hình thức nuôi phù hợp
Trang 30Nuôi quảng canh cải tiến ở cá rô phi chủ yếu áp dụng với con giống hỗn tính, thức ăn cho cá dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên và phân bón xuống ao Bón phân trong nuôi cá rô phi nhằm cung cấp thức ăn tự nhiên trong ao, phân hữu cơ còn làm tăng mùn bã hữu cơ trong ao, đồng thời kích thích vi khuẩn, động thực vật phù du phát triển Phương thức nuôi này áp dụng một số nước như: Bangladesh, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Indonesia và các nước Châu Phi [35]
Nuôi thâm canh là phương thức trung gian giữa nuôi quảng canh và nuôi thâm canh Nuôi bán thâm canh thực hiện trong ao sử dụng phân bón và bổ sung thức ăn nhân tạo Phương thức nuôi này áp dụng phổ biến ở Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi
Ở Ai Cập, sản lượng cá rô phi nuôi bán thâm canh chiếm 75% tổng sản lượng NTTS các nước Thức ăn nhân tạo cho cá cũng được sử dụng nhiều loại khác nhau: thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế từ ngô, đỗ tương, bột cá, cám gạo và một số phế phụ phẩm khác Ở Bangladesh, Israel hầu hết người nuôi dùng thức ăn công nghiệp Trong khi đó ở Việt Nam, thức ăn nuôi cá rô phi dựa vào chủ yếu thức ăn tự nhiên, phế phụ phẩm, phân bón, thức ăn công nghiệp chỉ sử dung mang tính bổ sung (đặc biệt
là ở phía Bắc) Nuôi bán thâm canh của Philipines trong ao diện tích từ 0,25-1ha, độ sâu 1m, mật độ thả 5-8con/m2, sau 3-4 tháng nuôi, kích cỡ thương phẩm 200-300g/con, năng suất đạt 4-8 tấn/ha
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi với mật độ cao, sử dụng thức ăn nhân tạo kèm theo chế độ thay nước và sục khí Nuôi thâm canh ở Đài Loan năng suất lên đến
17 tấn /ha, ở Israel là 10 tấn/ha Ở Việt Nam, nuôi thâm canh cá rô phi ở quy mô thí nghiệm lên 20-25 tấn/ha [25] Nuôi cá rô phi thâm canh ở Philipines mật độ 15con/m2,
cá được cho ăn thức ăn nhân tạo, sục khí, thay nước Năng suất nuôi đạt 20 tấn/ha, sau
3 tháng nuôi kích cỡ đạt 200-250g/con
1.5.2 Hình thức nuôi cá rô phi
Hình thức nuôi cá rô phi trong ao chủ yếu là: nuôi đơn và nuôi ghép
Nuôi ghép cá rô phi với các loài cá khác trong ao nhằm tận dụng không gian sống và nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao Khi thực hiện nuôi ghép cá rô phi với cá
chép (C Carpio) thì tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn nhanh hơn so với khi nuôi
đơn Trong ao nuôi ghép, quá trình tìm kiếm thức ăn cá chép đào bới đáy ao giúp cho chu chuyển dinh dưỡng đáy ao và nước được đẩy nhanh, năng suất sinh khối tảo tăng lên và thức ăn tự nhiên của cá tăng lên
Trang 31Nuôi ghép cá rô phi thường được thực hiện trong ao bán thâm canh và quảng canh cải tiến ở nhiều nước trên thế giới Nuôi ghép cá rô phi thường được thực hiện nhiều trong hệ thông: VAC hoặc cá – lúa Các loài nuôi ghép với cá rô phi là các loài
cá chép, trắm, mè, trôi và một số loài cá dữ như cá chim trắng, cá lóc (chuối)
Ở Việt Nam cá rô phi thường được nuôi ghép với các loài cá: Trắm, chép, trôi, mè một số vùng còn thả cá rô phi lẫn với tôm sú
Ở Thái Lan, các loài cá nuôi ghép với cá rô phi bao gồm: cá trôi, cá mè hoa, cá
mè trắng Hình thức nuôi ghép được thực hiện 2 dạng: nuôi ghép với cá truyền thống trong ao nước ngọt và nuôi ghép với tôm Trong ao nuôi ghép tôm-rô phi, mật độ thả tôm 31-62,5 con/m2, cá rô phi thả sau tôm trên 20 ngày với mật độ cá từ 0,1-0,37 con/m2, năng suất nuôi tôm mang lại cao hơn so với nuôi đơn tôm 29%
Tại Israel người ta lại nuôi ghép cá rô phi với cá trôi Ấn Độ, mè trắng và cá đối
(mullet) hoặc nuôi ghép cá rô phi đơn tính với cá chép (C Carpio) và cá mè trắng (H
Mlitrix)
Ở Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là ở Ecuador và Peru nơi dịch bệnh đốm trắng xảy
ra ở tôm, người ta mở rộng diện tích nuôi ghép cá rô phi với tôm trong các đầm nước
lợ Dẫn đến sản lượng cá rô phi của nước này ngày càng tăng ví dụ năm 1990 là 18 tấn đến năm 2000 là 15.000 tấn Nuôi ghép cá rô phi với tôm để hạn chế dịch bệnh ở tôm, nâng cao tỷ lệ sống và lợi nhuận
Nuôi đơn cá rô phi thường là những ao nuôi bán thâm canh, thâm canh hoặc siêu thâm canh trong bể Nuôi đơn cá rô phi thực hiện trong hệ thống bón phân hoặc nuôi trong hệ thống VAC sử dụng thức ăn nhân tạo Nuôi đơn cá rô phi trong ao đất không phổ biến như nuôi ghép Tại Israel, nuôi cá rô phi đơn tính trong ao đất theo phương thức thâm canh cho năng suất 10 tấn/ha Tại Châu Phi, nuôi đơn trong ao đất quy
mô gia đình đóng góp 38-93 % tổng sản lượng cá rô phi khu vực năng suất từ 5-16 tấn/ha/năm Tại Việt Nam nuôi đơn cá rô phi cho năng suất 10-23 tấn/ha/vụ [25]
1.5.3 Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC
Nuôi cá kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm trong hệ thống VAC được xem như là biện pháp tận dụng chất thải ra ngoài hệ thống canh tác Chất thải của một modul này
sẽ là đầu vào của modul khác Phế phụ phẩm, rau xanh tạo ra từ trồng trọt được sử dụng làm thức ăn cho cá Thức ăn thừa, phân trong các hệ thống chăn nuôi đưa xuống
ao làm thức ăn cho cá và hệ động thực vật phù du trong ao, năng suất sinh học ao nuôi
Trang 32sẽ tăng, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá Ngược lại, bùn nạo vét từ đáy ao nuôi cá có thể sử dụng vào trồng trọt trong trang trại Bằng cách tận dụng nguồn phế thải từ chăn nuôi sẽ hạn chế được ô nhiễm môi trường đồng thời nâng cao hiệu quả nuôi cá [14]
Hệ thống VAC giúp nông hộ tạo nhiều sản phẩm đầu ra, giảm chi phí sản xuất Tận dụng lao động trong gia đình, lao động thời vụ
Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC được áp dụng phổ biến tại các nước Châu Á
và Việt Nam Tại Thái Lan, năng suất nuôi cá rô phi kết hợp với nuôi vịt đạt 10,1 tấn/ha/năm Nuôi kết hợp chăn nuôi cũng được áp dụng nhiều ở các nước Châu Phi Tại Nigeria một số nông dân nuôi cá rô phi vằn kết hợp với nuôi gà, số lượng gà nuôi
1000 con/ha/ao, lượng phân thải tương đương khoảng 3,6 tấn/ha/tháng (tính theo khối lượng khô), năng suất đạt 14,9 tấn/ha Hình thức nuôi cá kết hợp chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao do tận dụng nguồn phân làm thức ăn cho cá, song chất lượng cá không đảm bảo yêu cầu VSATTP [22]
1.6 Thị trường tiêu thụ cá rô phi
1.6.1 Thị trường Mỹ
Mặc dù Mỹ là quốc gia sản xuất cá rô phi, song do như cầu tiêu thụ cá rô phi trong nước cao, sản lượng trong nước không đáp ứng nhu cầu nên Mỹ đã phải nhập khẩu cá rô phi
Nếu trước kia cá rô phi được coi là sản phẩm có giá trị thấp chỉ phù hợp với một số nười thì nay chúng được thay thế dần thị trường truyền thống các loài cá thịt trắng Cá rô phi được ưa chuộng bởi thịt trắng, thơm ngon, không có xương răm, dễ chế biến thành nhiều món ăn
Đến nay, Mỹ tiếp tục là nhà nhập khẩu các sản phẩm cá rô phi lớn nhất thế giới
Ở Mỹ, loài cá này là năm sản phẩm thủy sản được người tiêu dùng ưa chuộng hàng đầu
Năm 2009, Mỹ nhập khẩu 183.295 tấn sản phẩm cá rô phi, trị giá 696,1 triệu USD Trung Quốc là nhà cung cấp số 1 cho thị trường này, năm 2009 Xuất khẩu 129.871 tấn, trị giá 407,6 triệu USD
Các nhà xuất khẩu lớn khác cho thị trường Mỹ gồm Êcuađo, Honđurat, Côxtarica và Inđônêxia Tuy nhiên thị phần của các nước này chỉ ở mức khiêm tốn
Sản phẩm chính nhập khẩu vào Mỹ là philê đông lạnh, cá nguyên con đông lạnh, philê tươi ướp đá và cá nguyên con tươi ướp đá
Trang 331.6.2 Thị trường khác
Châu Âu là thị trường có tiềm năng lớn Trong đó, Anh là nước nhập khẩu cá rô phi nhiều nhất Châu Lục Ngoài ra, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan cũng là thị trường tiêu thụ
cá rô phi Italia, Thụy Điển và Đan Mạch cũng tiêu thụ cá rô phi với số lượng nhỏ Cá
rô phi được tiêu thụ tại các thành phố lớn của Châu Âu nơi có người nhập cư từ Châu Phi, Châu Á và Trung Quốc Gần đây, người dân Châu Âu đang chuyển sang ăn cá rô phi, dấu hiệu tiêu dùng có sự gia tăng rất nhanh qua các năm Hiện tại, các nước này đang nhập khẩu cá rô phi chủ yếu từ Đài Loan Ngoài ra còn nhập khẩu từ một số nước: Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan, Việt Nam, Malaisia, Costa Rica, Jamaica [69], gần đây có thêm Uganda, Tanzania, Kenya và Zimbabwe
EU là một thị trường tiêu thụ cá rô phi mới nổi, sự phát triển của thị trường còn rất chậm Trong đó Pháp có bước chuyển biến khá rõ, nhập khẩu 2.900 tấn cá rô phi của Trung Quốc trong năm 2009, trong khi vài năm trước chưa hề có Nhìn chung,
EU đang mở rộng dần thị trường tiêu thụ cá rô phi và năm 2010 tổng nhập khẩu cá rô phi EU đạt 20.000 tấn
Các nước Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc nhập khẩu cá rô phi trực tiếp từ Châu Á Các nước xuất khẩu cá rô phi sang nhật là Đài Loan, Inđônêsia và Thái Lan Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Nhật Bản ở dạng phi lê đông lạnh
Các nước Ả rập được xem là thị trường tiềm năng tiêu thụ cá rô phi Hiện tại các nước này nhập khẩu cá rô phi từ Ai Cập Các nước như Sau di Abrabia, Kuwait, Jordan và Quatar nhập khẩu cá rô phi từ Đài Loan
1.6.3.Thị trường tiêu thụ cá rô phi Việt Nam
Cá rô phi đang là đối tượng nuôi có thị trường tiêu thụ tốt trong nước và xuất khẩu Gần đây, một số doanh nghiệp tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Thanh Hóa
đã xuất khẩu sản phẩm cá rô phi vào thị trường Mỹ và EU mang lại giá trị xuất khẩu cao Hiện nay nhiều nhà nhập khẩu hài lòng với cá rô phi Việt Nam và đánh giá trội hơn cá rô phi Trung Quốc về chất lượng Cá rô phi Việt Nam đang có tiềm năng và được lòng khách hàng Quốc tế nhờ chất lượng Theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam trong năm
2016 sẽ tăng mạnh đạt kim ngạch 45 triệu USD, tăng 32% so với năm 2015 Đồng thời, VASEP dự báo hoạt động chế biến và xuất khẩu cá rô phi sẽ tiếp tục phát triển
Trang 34Nam trong những năm qua có xu hướng tăng trưởng tích cực, đặc biệt có giai đoạn tăng trưởng 76%-265% Thị trường nhập khẩu cá rô phi Việt Nam cũng tăng mạnh, từ
8 thị trường năm 2005 đã lên tới 68 thị trường trong năm 2015 Trong đó, Mỹ, Colombia và EU là 3 thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất của Việt Nam
Hiện tại Mỹ đang đứng đầu danh sách những thị trường nhập khẩu cá rô phi Việt Nam, chiếm khoảng 23% tỷ trọng xuất khẩu Việt Nam cũng là nguồn cung lớn thứ 3 của thị trường này chỉ sau Trung Quốc và Đài Loan, chiếm 10% thị phần.Trong
6 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu cá rô phi sang thị trường này đạt hơn 2 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái Cá rô phi tươi/ướp lạnh phile (mã HS 0304) được nhập khẩu nhiều nhất sang thị trường này, chiếm 74-84% giá trị nhập khẩu; tiếp
đó là cá rô phi đông lạnh nguyên con
1.6.4 Giá cá rô phi trên thế giới
Giá các sản phẩm chế biến từ cá rô phi trên thi trường thế giới không có sự biến động lớn trong những năm qua Các sản phẩm chế biến từ cá rô phi có 3 loại chủ yếu: Phi lê đông lạnh, phi lê tươi, đông lạnh nguyên con Từ năm 1992-2004, giá cá đông lạnh nguyên con nhập khẩu tại các nước có giá từ 1,08 đô la/kg (năm 2002) đến 1,57
đô la/kg (năm 1996) Sản phẩm phi lê đông lạnh có giá từ 2,77 đô la/kg năm 1994 đến 4,52 đô la/kg năm 1997 Sản phẩm phi lê tươi có giá 4,75 đô la/kg năm 1998 đến 5,94
đô la/kg năm 2001
Hiện nay, do sản lượng cá rô phi trên thế giới liên tục tăng vì giá cả cũng diễn biến theo chiều hướng giảm dần Tại Bắc Kinh và Thượng Hải, hồi tháng 6/2005 giá
cá trung bình là 2,3 USD/kg, đến tháng 1/2006 giảm xuống chỉ còn 1,6USD/kg
Tuy nhiên do sản lượng năm 2008 sụt giảm mạnh trước ảnh hưởng của thời tiết khắc nhiệt, giá đã tăng 36%, nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến nhu cầu tiêu giảm và dìm giá nhiều loại thuỷ sản xuống, trong đó có cá rô phi đơn giá trung bình XK cá rô phi Trung Quốc năm 2009 giảm còn 2,75 USD/kg so với 3 USD/kg năm 2008 Đến năm 2010 giá cá rô phi tăng 20% do sản lượng Trung Quốc giảm Hầu hết sản lượng cá rô phi sản xuất nội địa tại Malaysia đều phục vụ nhu cầu trong nước Hiện tại, cá rô phi tươi sống tại thị trường này có giá khoảng 4 $/kg ở các chợ trời truyền thống Giá tại siêu thị cao hơn khoảng 50%
Trang 35Tại Bangladesh, cá rô phi nuôi là một sản phẩm khá mới trên thị trường nhưng ngày càng phổ biến ở khu vực thành thị Ngành sản xuất cá rô phi và cá da trơn tại nước này đạt sản lượng hàng năm khoảng 500 ngàn tấn Trên thị trường bán lẻ, giá cá
rô phi tươi sống nguyên con khoảng 1,3-2 $/kg Nông dân thu được lợi nhuận khoảng 0,9-1,25 $/kg Một lượng nhỏ cá rô phi được xuất khẩu sang thị trường Trung Đông và
Mỹ Giá cá rô phi đóng gói cỡ 500-600g xuất sang thị trường Trung Đông có giá khoảng 2,1 $/kg
Lượng xuất khẩu sang Mỹ và Mexico, hai thị trường tiêu thụ chính, đồng loạt tăng trong suốt năm 2010 Giá cá rô phi phile đông lạnh tăng 7,2% so với năm 2009, lên mức 3,53 $/kg Lượng xuất khẩu sang các thị trường châu phi như Bờ Biền Ngà, Cameroon, Angola, Congo, Namibia và Zambia cũng tăng lên Thị trường cá phile đông lạnh tại Ba Lan, Tây Ban Nha, Đức, Canada và Ukraine liên tục tăng trưởng
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của Nga giảm 15% do nước này tăng cường thúc đẩy người tiêu dùng sử dụng sản phẩm nội địa Xuất khẩu cá rô phi từ Đài Loan – một trong những nhà cung cấp lớn trên thế giới, cũng tăng chậm Các sản phẩm xuất khẩu phổ biến là izumidae phile dùng cho làm sashimi chất lượng cao, hiện ngày càng phổ biến trong giao dịch các sản phẩm sushi và sashimi Cơ quan thủy sản Đài Loan đã đứng sau một kế hoạch hỗ trợ nhằm thúc đẩy những nông dân nuôi cá rô phi Đài Loan liên kết với các công ty chế biến thủy sản để tăng xuất khẩu các loại sản phẩm cá rô phi phile bỏ xương, bỏ da để tăng giá xuất khẩu Giá các sản phẩm này xuất khẩu điều kiện ở mức khoảng 6,5 $/kg Giai đoạn tháng 1 – 9/2010, Đài Loan xuất khẩu 24,56 ngàn tấn cá rô phi nguyên con và 2,95 ngàn tấn cá rô phi miếng và phile Thị trường Mỹ chiếm gần 54% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Đài Loan
Trang 362 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghề nuôi cá rô phi vằn(Oreochromis niloticus) ở tỉnh Quảng Ninh
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh
- Chọn 2 địa phương có phong trào nuôi cá rô phi phát triển nhất trong tỉnh để nghiên cứu đó là: Thị xã Quảng Yên và thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh Trong đó:Thị xã Quảng Yên chọn 2 xã: Sông Khoai 1 và Sông Khoai 2, mỗi xã chọn 15 hộ; Thị xã Đông Triều chọn 3 xã, phường: Phường Kim Sơn, xã Yên Đức và xã Hoàng Quế mỗi xã, phường chọn 10 hộ
- Địa điểm nghiên cứu tình hình thị trường tiêu thụ cá rô phi tại một số chợ lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 37- Địa điểm điều tra hiện trạng sản xuất giống: Trung tâm Khoa học kỹ thuật và sản giống thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Cơ sở hợp Doanh sản xuất giống cá rô phi đơn tính Đài Loan, Cơ sở sản xuất giống thủy sản Thành Đạt thị xã Đông Triều
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4 đến hết tháng 12 năm 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
Hình 2.1.Sơ đồ nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh
Hiện trạng kỹ thuật nuôi và sản xuất giống cá rô phi
Hiện trạng công tác quản lý
Sản xuất
và cung ứng con giống
Tiêu thụ sản phẩm
Về công tác thực hiện quy hoạch vùng nuôi
Bộ máy quản lý và thực thi nhiệm vụ quản lý
Thuận lợi và khó khăn
Kết luận và đề xuất giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi vằn tại Quảng Ninh
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thông qua các cơ quan, ban ngành địa phương như các báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản của Bộ, Tổng cục Thủy sản và của sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản, Niên giám thống kê, các huyện, thị và thành phố trên địa bàn tỉnh; khai thác thông tin trên các trang Web…
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi cá rô phi, cơ sở sản xuất giống và người tiêu thụ sản phẩm tại địa phương, dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa với mục đích nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
- Phương pháp chọn mẫu hộ:
+ Các bước tiếp theo chọn mẫu đối tượng điều tra: Thực hiện chọn mẫu phân
tầng, theo 3 cấp: Cấp huyện, cấp xã và hộ nuôi cá rô phi
Chọn mẫu nghiên cứu cho vùng nghiên cứu: Chọn 2 địa phương đại diện, bao gồm:Thị xã Quảng Yên và thị xã Đông Triều Các hộ nuôi sẽ được chọn nghiên cứu đại diện, với 30 hộ cho mỗi huyện
+ Chọn hộ: Số lượng hộ mẫu điều tra tại các xã mẫu như sau:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn mẫu hộ, cụ thể
như sau:
+ Bước 1: Lập bảng kê hộ nuôi các đối tượng chọn điều tra trong xã mẫu và sắp
xếp thứ tự hộ theo quy mô diện tích từ lớn nhất đến nhỏ nhất
+ Bước 2: Căn cứ vào danh sách hộ nuôi trong bảng kê đã được lập, tính khoảng cách chọn hộ (k) theo công thức:
=
Khoảng cách chọn hộ (k)
Tổng số hộ nuôi trong xã
Số hộ mẫu
Trang 39Hộ đầu tiên được chọn ngẫu nhiên trong khoảng cách đầu của danh sách hộ có nuôi hộ nuôi các đối tượng điều tra của xã Sử dụng phần mềm Excel của MS Office
để chọn ra ngẫu nhiên một hộ nằm trong khoảng cách đầu chọn hộ theo câu lệnh tại một ô bất kỳ trên bảng tính Excel như sau:
=RANDBETWEEN(1,k) Trong đó: k là khoảng cách chọn hộ được xác định theo công thức trên
Các hộ tiếp theo được chọn bằng cách cộng khoảng cách k; Giả sử hộ đầu tiên được chọn là hộ có số thứ tự C thì các hộ được chọn tiếp theo là: C+k, C+2k, C+3k,
Ví dụ: Xã A có 75 hộ nuôi, tiến hành chọn 25 hộ mẫu điều tra, tính khoảng cách chọn hộ: h = 75/25 = 3
Sử dụng câu lệnh RANDBETWEEN (1,3) để chọn ngẫu nhiên hộ đầu tiên, giả
sử được chọn là hộ thứ 2 trong danh sách (C = 2) thì các hộ tiếp theo sẽ là hộ số 5, 8,
11, 14,… Trường hợp hộ được chọn khi điều tra không còn ở tại xã vì một lý do nào
đó thì chọn hộ sát trên hoặc sát dưới trong danh sách để thay thế hộ đó
- Điều tra cơ sở sản xuất giống: Đề tài điều tra toàn bộ 03 cơ sở sản xuất giống
cá rô phi hiện có trên địa bàn tỉnh
3.3.3.Phương pháp xử lý số liệu
+ Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập sẽ được mã hoá và xử lý theo các nội dung qua các bộ câu hỏi điều tra Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel trên máy vi tính
+ Phân tích số liệu: Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả: Các chỉ số giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm
Trang 403 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh có tọa độ địa lý từ 20040’ đến 21040’ độ vĩ bắc và 106026’ đến
108031’ độ kinh đông Bề ngang từ Đông sang Tây, nơi rộng nhất là 195 km Bề rộng
từ Bắc xuống Nam khoảng 102km Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Tòong, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực tây là sông Vàng Chua xã Bình Dương, huyện Đông Triều Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái Diện tích toàn tỉnh hiện nay là 6.102,4 km2 Là tỉnh địa đầu vùng Đông Bắc
tổ quốccó vị trí địa lý chiến lược về kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh quốc gia, có tiềm năng thế mạnh phát triển ngành thuỷ sản
Quảng Ninh là cửa ngõ hội nhập thế giới của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vành đai với Trung Quốc”; có biên giới trên đất liền và dưới biển với Trung Quốc (khoảng 120 km trên đất liền, 191 km trên biển); có cửa khẩu quốc tế Móng Cái, 3 khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Hoành
Mô, Bắc Phong Sinh), 4 cảng khẩu trên biển (Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia)
Là một trong các tỉnh có các đảo, quần đảo thuộc Vịnh Bắc Bộ gần đường phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc giúp Quảng Ninh trở thành trung tâm trung chuyển hàng hoá xuất khẩu của Miền Bắc sang thị trường quốc tế đặc biệt với Trung Quốc Với vị trí này, Quảng Ninh có cơ hội hợp tác sâu rộng kinh tế, khoa học kỹ thuật, trong đó có kinh tế thuỷ sản với Trung Quốc (nước có sản lượng thuỷ sản lớn nhất thế giới) Đồng thời Quảng Ninh trở thành địa bàn có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế kết hợp với an ninh quốc phòng
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Khu vực tỉnh Quảng Ninh thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa hè nóng và
ẩm, mùa đông khô và lạnh Tuy nhiên, do đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình bị chi phối bởi khí hậu duyên hải, chịu ảnh hưởng và tác động nhiều của biển, tạo cho khu vực có những đặc trưng khí hậu riêng, những tiểu vùng sinh thái hỗn hợp miền núi, ven biển Theo số liệu do Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quảng Ninh thì Quảng Ninh có đặc trưng khí hậu như sau: