1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết anadara granosa (linnaeus, 1758) theo hướng bền vững tại đầm thị tường, tỉnh cà mau

78 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHẠM VĂN DEN HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT Anadara granosa Linnaeus, 1758 THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẦM THỊ TƯỜNG, TỈNH CÀ MAU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM VĂN DEN

HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT Anadara granosa (Linnaeus, 1758)

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẦM THỊ TƯỜNG,

TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM VĂN DEN

HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT Anadara granosa (Linnaeus, 1758)

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẦM THỊ TƯỜNG,

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Anh Tuấn

Chủ tịch Hội đồng:

PGS.TS Phạm Quốc Hùng

Khoa sau đại học:

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Hiện trạng và đề xuất giải pháp phát

triển nghề nuôi sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758) theo hướng bền vững tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa

từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Cà Mau, ngày 15 tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Văn Den

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ

từ Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi trồng thủy sản, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập, nghiên cứu, hoàn thành khóa học và

đề tài tốt nghiệp

Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Anh Tuấn người đã dìu dắt tôi trên còn đường nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn chu đáo cho tôi trong suốt thời gian định hướng, triển khai đề tài và viết luận văn tốt nghiệp Tôi cũng xin gửi lời cảm

ơn đến PGS TS Trương Quốc Phú - Trường đại học Cần Thơ, ThS Ngô Văn Lương - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau đã có những góp ý, chỉnh sửa giúp tôi hoàn thiện báo cáo

Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản, lãnh đạo UBND huyện Phú Tân, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Tân và các đồng nghiệp, các bạn trong lớp cao học CH56,

và cuối cùng là gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Phạm Văn Den

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Đặc điểm sinh học của sò huyết 4

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 4

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố 4

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 7

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 8

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 9

1.2 Tình hình khai thác và nuôi sò 10

1.2.1 Tình hình khai thác và nuôi sò huyết trên thế giới 10

1.2.2 Tình hình khai thác và nuôi sò huyết ở Việt Nam 11

1.2.3 Tình hình chung của nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau 13

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau 15

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 15

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 20

1.3.3 Điều kiện tự nhiên của Đầm Thị Tường 22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

Trang 6

vi

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung của đề tài 23

2.2.2 Thu thập số liệu 24

2.2.3 Phương pháp phân tích sinh hóa mẫu sò huyết nuôi 25

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi sò huyết 27

3.1.1 Tuổi của chủ hộ nuôi 27

3.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi 27

3.1.3 Số nhân khẩu và lao động của hộ nuôi 28

3.1.4 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi 28

3.1.5 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi 29

3.1.6 Quy mô của hộ nuôi 30

3.1.7 Cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý 30

3.2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi sò huyết 31

3.2.1 Hình thức và mùa vụ nuôi 31

3.2.2 Hệ thống công trình nuôi 32

3.2.3 Nguồn giống 34

3.2.4 Chăm sóc và quản lý 37

3.2.5 Bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị 39

3.2.6 Thu hoạch 40

3.3 Hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của nghề nuôi sò huyết 41

3.3.1 Hiệu quả kinh tế - xã hội 41

3.3.2 Hiệu quả môi trường 42

Trang 7

vii

3.4 Các giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững 43

3.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề nuôi sò huyết 43

3.4.2 Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững 46

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Khuyến nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 61

Trang 8

viii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

AOAC: Hiệp hội các nhà phân tích hóa học chính thức

BAP: Thực hành nuôi thủy sản tốt

CoC: Quy tắc ứng xử trong nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm DM: Hàm lượng chất khô toàn phần

DOFM: Department of Fisheries Malaysia (DOFM)

FAO: Tổ chức nông lương thế giới

GDP: Tổng sản phẩm nội địa (quốc nội)

GRDP: Tổng sản phẩm trên địa bàn

KT-XH: Kinh tế - Xã hội

SUMA: Hỗ trợ Nuôi trồng Thuỷ sản nước lợ và nước mặn

TTBQ: Tăng trưởng bình quân

UBND: Ủy ban Nhân dân

VietGAP: Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt ở Việt Nam

Trang 9

ix

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng sò huyết ở Cà Mau giai đoạn 2013 – 2016 13

Bảng 3.2 Diện tích và sản lượng sò huyết nuôi ở Đầm Thị Tường từ 2013 – 2016 14

Bảng 3.3 Cấu trúc tuổi của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 120) 27

Bảng 3.4 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi 28

Bảng 3.5 Trình độ văn hoá của chủ hộ nuôi 29

Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của chủ hộ 29

Bảng 3.7 Hình thức quản lý, diện tích bãi nuôi 30

Bảng 3.8 Hình thức nuôi sò huyết 31

Bảng 3.9 Hình dạng bãi nuôi 33

Bảng 3.10 Nguồn gốc sò giống nuôi tại Đầm Thị Tường 34

Bảng 3.11 Mật độ thả giống 35

Bảng 3.12 Đánh giá chất lượng giống 36

Bảng 3.13 Khó khăn về nguồn giống 36

Bảng 3.14 Kiểm tra hệ thống nuôi 39

Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế nghề nuôi sò huyết 41

Bảng 3.16 Thành phần sinh hóa của thịt sò huyết nuôi tại Đầm Thị Tường 42

Bảng 3.17 Ước tính sơ bộ lượng nitơ mà sò huyết nuôi đồng hóa ở Đầm Thị Tường và toàn tỉnh Cà Mau 43

Trang 10

x

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình thái sò huyết 4

Hình 1.2 Bản đồ phân bố của sò huyết (màu đỏ) trên thế giới 5

Hình 1.3 Vị trí địa lý tỉnh Cà Mau 16

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài 23

Hình 3.1 Một góc của bãi nuôi 33

Hình 3.2 Khai thác sò giống 34

Hình 3.3 Chòi canh giữ sò huyết nuôi 38

Hình 3.4 Dụng cụ thu hoạch sò huyết 40

Hình 3.5 Sò huyết thương phẩm được thu hoạch 42

Hình 3.6 Cây vấn đề xác định nguyên nhân của sự phát triển nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường chưa bền vững 47

Trang 11

xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Đề tài được thực hiện với vấn đề nghiên cứu là “Hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết Anadara granosa (Linnaeus, 1758) theo hướng bền vững tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau” Mục tiêu của đề tài cung cấp những thông tin khoa học và thực tiễn về tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh

tế xã hội làm cơ sở cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường theo hướng hiệu quả và bền vững

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2015 - 10/2016 tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý tại địa phương, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra qua phiếu và phỏng vấn trực tiếp toàn bộ

120 hộ nuôi trên Đầm Thị Tường Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủ hộ nuôi sò huyết đều là nam giới, tuổi trung bình là 46 Các hộ nuôi không có trình độ chuyên môn chiếm tới 93,3%, nuôi chủ yếu theo quy mô nhỏ 1 - 9 ha/hộ và không có sự liên kết Sò huyết được nuôi theo hình thức nuôi đơn hoặc nuôi kết hợp trong các ao nuôi tôm, cá Nguồn giống sò hoàn toàn được khai thác từ tự nhiên, cỡ giống 1.000 - 3.000 con/kg

thả giống, san thưa và bảo vệ, không có các can thiệp vào môi trường và phòng trị bệnh Sau 9 - 12 tháng nuôi, sò đạt cỡ từ 40 - 60 con/kg, các hộ tiến hành thu hoạch theo hình thức thu tỉa 23,3% hoặc toàn bộ 76,7% Tổng chi phí nuôi khoảng 200 triệu đồng/ha, năng suất đạt 6 - 8 tấn/ha, giá bán 65.000 đồng/kg, tổng thu 390 - 520 triệu đồng/ha, lợi nhuận 235 - 300 triệu/ha, tỷ suất lợi nhuận 136 - 152% Tỷ lệ thành công của các hộ nuôi khoảng 70% Nghề nuôi sò huyết đã tạo công ăn việc làm cho hơn 3.500 lao động trực tiếp Để nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường phát triển theo hướng bền vững, các cơ quan chuyên môn cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp tập trung vào sản xuất giống nhân tạo, bảo vệ và khai thác hiệu quả nguồn giống tự nhiên, cải tiến kỹ thuật nuôi, củng cố và phát triển thị trường, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ hợp lý, hoàn thiện công tác quy hoạch, khắc phục ô nhiễm môi trường và kiểm soát dịch bệnh, tăng cường các hoạt động đào tạo và khuyến ngư

Từ khóa: Đầm Thị Tường, kỹ thuật nuôi, phát triển bền vững, sò huyết

Trang 12

2

MỞ ĐẦU

Sò huyết là một trong những loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế cao, giàu

dinh dưỡng Chúng phân bố rộng tại nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, trong đó

có Việt Nam Trong vài năm trở lại đây, nghề nuôi sò huyết ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh ở nhiều tỉnh thành phía nam Trong đó, phải kể đến Cà Mau với chế độ thủy triều thuận lợi đã tạo nên những vùng sinh thái thuận lợi cho sinh sản, sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sò huyết

Nghề nuôi sò huyết ở Cà Mau chỉ mới phát triển từ năm 2013 Tuy nhiên, nghề nuôi sò huyết đã có những bước phát triển đáng kể, đạt được nhiều kết quả tích cực

Sò huyết được nuôi theo 2 hình thức là nuôi đơn và nuôi ghép với tôm, cá nhằm cân bằng chu trình vật chất trong thủy vực, gia tăng hiệu quả kinh tế, góp phần gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều ngư dân địa phương Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch nên nghề nuôi sò huyết hiện nay phải đối mặt với nhiều khó khăn, trở ngại như thiếu hụt con giống, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát Bên cạnh đó, các nghiên cứu đánh giá về hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh kế xã hội của nghề nuôi sò huyết vẫn chưa được quan tâm dẫn đến những khó khăn trong việc quản lý, phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững

Trước thực trạng trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Nha trang, tôi thực

hiện đề tài “Hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết Anadara

nhằm đánh giá hiện trạng và đưa ra những giải pháp triển ổn định, bền vững

Mục tiêu của đề tài: Đánh giá hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị

Tường, tỉnh Cà Mau từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi

sò huyết tại địa phương

Nội dung nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu với 2 nội dung chính:

1 Đánh giá hiện trạng của nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường

2 Đề xuất một số giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững

Trang 13

3

Ý nghĩa của đề tài: Đề tài góp phần cung cấp những thông tin khoa học về

hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau làm tài liệu tham khảo cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất Đề tài cũng giúp định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường theo hướng bền vững

Trang 14

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm sinh học của sò huyết

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

Sò huyết là một loài sò trong họ Arcidae được phân loại từ rất lâu đời bởi các nhà phân loại học Về phân loại, sò huyết thuộc ngành động vật thân mềm Mollusca,

lớp hai mảnh vỏ Bivalvia, bộ Arcoida, họ Arcidae, giống Anadara, loài Anadara

granosa Linnaeus, 1758

Sò huyết có tên tiếng Anh là blood cockle, blood clam, cocker granulated shell, chest shell; tên tiếng Việt là sò huyết, sò trứng hay sò tròn Danh pháp đồng loại gồm

Arca (Tegillarca) granosa Linnaeus, 1758; A bisenensis Shrenck and Reinhart, 1938;

A obessa Kotaka, 1953; A granosa kamakurensis Noda, 1966

Hình 1.1 Hình thái sò huyết

Theo Nguyễn Chính (1996) [1], sò huyết có vỏ dày chắc, có dạng hình trứng, cá thể lớn có vỏ dài 60 mm, cao 50 mm, rộng 49 mm Mặt ngoài của vỏ gờ phóng xạ rất phát triển, có khoảng 18 - 21 gờ Trên mỗi gờ phóng xạ có nhiều hạt hình chữ nhật, các hạt này thường rõ nét ở cá thể trưởng thành và mờ hơn ở những cá thể già Bản lề hình thoi, rộng, màu nâu đen, có nhiều đường đồng tâm Mặt trong của vỏ có màu trắng sứ, mép vỏ có nhiều mương sâu tương ứng với đường phóng xạ của mặt ngoài Mặt khớp thẳng, có nhiều răng nhỏ, vết cơ khép vỏ sau lớn có hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn có hình tam giác

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố

Trang 15

5

Hầu hết các loài thuộc giống Anadara thường phân bố ở vùng trung triều hoặc

hạ triều Loài A tuberculosa ở Nam và Trung Mỹ là loài sò điển hình phân bố ở trung triều Loài A senilis phân bố hầu hết từ vùng trung triều đến dưới triều ở phía tây của châu Phi Hai loài A subcrenata và A broughtonii phân bố rất rộng ở vùng hạ triều của vùng biển Nhật Bản và Hàn Quốc và loài A trapezia bắt gặp ở vùng trung triều

thấp đến hạ triều ở ven biển Australia Theo Faulkner (2010) [30], sò huyết có khả năng phân bố rộng, trải dài từ vùng Trung Đông đến Đông Á

Hình 1.2 Bản đồ phân bố của sò huyết (màu đỏ) trên thế giới

Khi khảo sát vùng biển Sagihe (Indonesia), Rondo (1994) [43] bắt gặp 6 loài

thuộc giống Anadara là A cornea, A nodifera, A antiquata, A inflata, A granosa và

A pilula Chúng phân bố ở nơi có đáy bùn, cát và bùn cát, san hô Ở những nơi đáy

mềm, chúng thường phân bố với mật độ cao hơn, từ 40 - 48 con/m2 Tanaka (1971)

[46] cho rằng, loài A broughtonii phân bố ở đáy bùn điển hình Ting và ctv (1972) [47], Broom (1985) [24], Oon (1986) [39]… cũng có kết luận tương tự đối với loài A

subcrenata và A granosa ở vùng ven biển Selangor của Malaysia Nhìn chung, các

loài trong giống sò huyết đều phát triển tốt ở các đầm phá, vũng vịnh nông, nền đáy

mềm, bùn dày từ 46 – 76 cm Tuy nhiên, loài A natiquata lại sống ở đáy cát thuộc

vùng triều Boonruang and Janekarn (1983) [22] cũng tìm thấy sò huyết ở Thái Lan phân bố ở những nền đáy có tỷ lệ cát chiếm tới 70 - 80%

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) [1] nhận thấy sò huyết phân

bố chủ yếu ở vùng triều đến nơi có độ sâu vài chục mét nước Sò navi (Arca

navicularis) sống ở nơi có chất đáy cứng, nhiều cát sỏi, vỏ động vật thân mềm, sâu 5 –

Trang 16

6

20 m Hai loài sò huyết và sò lông (A antiquata) sống ở vùng có đáy bùn pha cát hoặc

bùn có lẫn vỏ động vật thân mềm Sò lông phân bố rộng ở hầu hết các vùng ven biển

Sò huyết cũng là loài phân bố rộng, từ Quảng Ninh đến Cà Mau Trong đó, Kiên Giang và Quảng Ninh là hai địa phương có sản lượng cao nhất Theo Nguyễn Hữu Phụng (1999) [10], sò huyết chủ yếu phân bố ở các vùng có đáy bùn nhuyễn hoặc bùn cát với cỡ hạt từ 0,003 - 0,062 mm

Về độ mặn, không phải tất cả các loài thuộc giống Anadara đều rộng muối Nhiều nghiên cứu nhận thấy sò huyết thường phân bố ở những bãi bùn ven bờ nơi có

độ mặn từ 28 - 31‰ Tuy nhiên, các vùng này vào mùa mưa độ mặn cũng giảm thấp xuống tới 5 - 10‰ [24] Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết giai đoạn 20 - 28 mm, Pathansali (1966) [41] nhận thấy, ở độ mặn 8‰, sò huyết chết sau 8 ngày; ở độ mặn 12‰, chúng không hoạt động và chỉ sống được thêm vài ngày; ở độ mặn 17‰, chỉ khoảng 50% số cá thể hoạt động; ở 23‰, sò hoạt động bình thường Đối với sò bột, độ mặn thích hợp từ 21 - 25‰, dưới 3,8‰ hay trên 39‰ đều làm sò chết sau 2 - 3 ngày Tương tự, Davenport and Wong (1986) [25] cũng nhận thấy sò huyết đóng vỏ, không hoạt động khi nuôi ở độ mặn dưới 19‰, dưới 16‰ chỉ có khoảng 50% sò còn sống, dưới 10‰ sò chết hoàn toàn sau một tuần thí

nghiệm Kusukabe (1959) [35] cũng nhận thấy độ mặn thích hợp cho loài A

subcrenata là từ 25 - 30‰ Theo Yurimoto et al (2014) [56], độ mặn thấp do mưa lũ

thường xuyên là nguyên nhân gây chết hàng loạt sò huyết tại khu vực Selangor (Malaysia) Ở Việt Nam, một số nghiên cứu nhận thấy độ mặn thích hợp cho sò huyết

từ 19 - 24‰, tuy nhiên, có thể cao hơn ở loài A nodifera (30‰) Ngoài ra, độ mặn còn

ảnh hưởng đến tốc độ lọc tảo, sinh trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết giống (3 – 7 mm), trong đó, tốt nhất ở độ mặn 15‰ Sò huyết có thể sinh sản nhân tạo trong môi trường nước xanh kết hợp với cá rô phi ở độ mặn 20‰ [12]

Nhiệt độ là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sinh

lý, trao đổi chất, hoạt động chức năng của cơ thể nhiều loài động vật thân mềm Khi

tiếp xúc với nhiệt độ cao đột ngột, vẹm xanh (Mytilus californiaus) có thể gia tăng tốc

độ lọc thức ăn lên tới 60% so với bình thường Tuy nhiên, khi nhiệt độ lên quá cao, tốc

độ lọc sẽ giảm dần Theo Vakily (1992) [52], nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của một số loài động vật hai mảnh vỏ dao động từ 25 – 32oC Trong điều kiện thức ăn đầy

Trang 17

7

đủ, Angell (1986) [21] nhận thấy tốc độ tăng trưởng của loài C paraibanensis gia tăng

cùng với sự gia tăng của nhiệt độ Thời gian phơi bãi, nhiệt độ và độ mặn là những yếu

tố ảnh hưởng đáng kể lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của động vật thân mềm hai mảnh

vỏ Khả năng thích ứng với nhiệt độ của sò huyết còn phụ thuộc vào vùng địa lý mà

chúng phân bố tự nhiên như loài A tuberculosa từ 17 - 37oC, loài A granosa từ 25 -

33oC trong khi loài A subcrenata từ 6 - 27oC [47], [23] Ở Việt Nam, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của sò huyết từ 28 - 32oC [6]

Sò huyết có khả năng thích ứng rất tốt với điều kiện oxy thấp trên nền đáy Khi tiếp xúc với điều kiện môi trường bất lợi như nhiều khí độc hoặc thiếu oxy, sò huyết

có khả năng điều chỉnh cơ thể để thích ứng với môi trường [45] Khi tách ra khỏi môi trường nước để trong không khí, Davenport and Wong (1986) [25] nhận thấy sò huyết

có thể chịu đựng khá tốt nhưng tỷ lệ sống giảm dần sau 24 giờ, rồi chết nhiều sau 48 giờ Hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho sò huyết là từ 5,0 - 7,0 mg/l [5]

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của sò huyết nhìn chung tương đối chậm Ngoài tự nhiên, sò huyết 6 tháng tuổi mới đạt chiều dài 4 - 5 mm Trong nuôi nhân tạo, phải mất hơn một năm chúng mới đạt cỡ 30 mm [24] Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng của sò huyết có thể được cải thiện nếu thức ăn được cung cấp đầy đủ, san thưa mật độ, môi trường thích hợp Khi nuôi với mật độ nhỏ hơn 10,5 con/m2, sò huyết có thể đạt chiều dài 18 – 32

mm sau 9 tháng nuôi Ngược lại, ở mật độ nuôi 525 - 1.050 con/m2, phải sau 10 - 12

tháng, sò huyết mới đạt kích thước này [41]

Tương tự như nhiều loài động vật thân mềm khác, tốc độ sinh trưởng của sò huyết phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là giai đoạn phát triển Từ năm thứ hai trở

đi, tốc độ sinh trưởng của sò huyết chậm hơn nhiều so với năm đầu [41] Sò huyết chỉ sinh trưởng nhanh trong 1 - 2 năm đầu, sau đó giảm rõ rệt từ năm thứ 3 trở đi Tuổi thọ trung bình của sò huyết khoảng 7 - 8 năm Sò nuôi ở vùng hạ triều lớn nhanh hơn so với vùng trung triều do có nguồn thức ăn dồi dào [16] Tốc độ tăng trưởng trung bình của sò huyết là 3 mm/tháng Trong đó, giai đoạn 6 - 10 mm, tốc độ sinh trưởng nhanh nhất (5 mm/tháng) trong khi giai đoạn từ 30 mm, tốc độ sinh trưởng giảm rõ rệt [9] Tốc độ sinh trưởng của sò huyết cũng phụ thuộc lớn vào môi trường nuôi, tốc độ dòng

Trang 18

8

chảy, mức độ ô nhiễm của thủy vực [28] Chúng đều là những yếu tố cần được cân nhắc trong quá trình chọn địa điểm nuôi thương phẩm

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Các loài trong giống Anadara dinh dưỡng bằng cách chọn lọc mồi Thức ăn được chuyển đến miệng nhờ quá trình vận động, lọc của các tiêm mao trên các tơ mang Đồng thời, nhờ sự vận động của mép màng áo và các tiêm mao, dòng nước mang thức ăn và oxy vào trong cơ thể và các mảnh vụn lớn sẽ được đẩy ra ngoài Chu

kỳ đóng mở nắp vỏ để lọc thức ăn và hô hấp diễn ra 1 - 2 phút/lần Thành phần thức ăn chủ yếu của sò huyết là tảo silic, các mảnh vụn hữu cơ và nguyên sinh động vật Kích

cỡ thức ăn phụ thuộc vào kích cỡ của sò Giai đoạn nhỏ, chúng lọc các hạt thức ăn cỡ dưới 10 µm, giai đoạn lớn hơn chúng lọc cỡ hạt 10 - 100 µm [24] Khi đạt 2 năm tuổi, thức ăn chủ yếu là tảo khuê sống bám trên nền đáy [5]

Thành phần thức ăn của sò thay đổi theo môi trường, mùa vụ và vùng sinh thái Các loại thức ăn phổ biến ngoài tự nhiên của sò chủ yếu là mùn bã hữu cơ chiếm tới 93%, còn lại là sinh vật phù du chiếm 7% trong đó các loài vi tảo chiếm tới 92% [4] Cường độ bắt mồi của sò huyết gia tăng tỷ lệ thuận với sự gia tăng của nhiệt độ nước trong phạm vi thích hợp [9] Tốc độ lọc thức ăn của sò huyết còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, độ mặn, thành phần và số lượng thức ăn [8], [36] Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng đối với động vật thân mềm 2 mảnh vỏ và có ảnh hưởng lớn đến sức sinh sản Nhiều tác giả đưa ra mối tương quan giữa số lượng, chất lượng của thực vật phù du với sự hình thành và phát triển của tế bào sinh dục của động vật thân mềm

Các khu vực nuôi sò huyết chủ yếu nằm ở khu vực cửa sông, ven biển, nơi nhận được nhiều chất dinh dưỡng từ nhiều nguồn khác nhau [32] Sò huyết là loài ăn lọc, chúng lọc nước liên tục để thu nhận các chất hữu cơ, ngăn ngừa hiện tượng phú dưỡng [53] Bên cạnh đó, chúng còn có khả năng hấp thu các kim loại nặng tích tụ trong cơ thể [20], [31] Do đó, sò huyết được sử dụng như một chỉ thị sinh học môi trường để phát hiện mức độ độc của môi trường trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản Nhờ vào đặc điểm này, sò huyết được ứng dụng vào mô hình nuôi ghép trong các ao tôm, cá thâm canh không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn cải thiện chất lượng nước [11], [33], [38]

Trang 19

9

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Giới tính, kích cỡ thành thục và tỷ lệ đực cái

Các loài thuộc giống Anadara có thể lưỡng tính hoặc phân tính Khi nghiên cứu

về giới tính của sò huyết, Broom (1985) [24] nhận thấy hầu hết các cá thể bắt gặp là phân tính đực cái rõ ràng, trong 300 cá thể, chỉ bắt gặp một cá thể lưỡng tính Tuy

nhiên, ở loài A senilis, Yoloye (1974) [55] và Yankson (1982) [54] nhận thấy, giai

đoạn trước 5 tháng tuổi, tất cả các mẫu thu được đều là sò đực, từ 6 tháng tuổi, có vài

cá thể lưỡng tính, gần 12 tháng tuổi, tỷ lệ đực cái là 1 : 3 Đồng thời, tỷ lệ này sẽ thay đổi thường xuyên trong quần đàn sò huyết trưởng thành

Kích thước thành thục sinh dục của sò huyết có sự khác biệt tùy theo loài Nhìn chung, chúng thành thục từ giai đoạn 6 tháng tuổi, tương ứng với kích cỡ 18 - 21 mm

[41] Tuy nhiên, loài A senilis thành thục sinh dục sớm hơn từ khi đạt chiều dài từ 10 -

20 mm trong khi loài A tuberculosa và A broughtonii chỉ thành thục khi đạt kích cỡ

từ 36 mm và từ 48 mm [49], [54] Tỷ lệ đực cái vào mùa sinh sản của sò huyết cũng có

sự khác biệt tùy theo loài 1 : 1 ở loài A granosa nhưng lại là 1 : 2 ở loài A indica, A

subcrenata và A senilis [24], [34], [47], [54] Giới tính của sò huyết nhìn chung có thể

phân biệt qua màu sắc của tuyến sinh dục, con đực thường có màu kem còn con cái có màu cam Tỷ lệ giới tính thường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giai đoạn phát triển, nhiệt độ và độ mặn [54]

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết ở Trà Vinh, Trương Sỹ Kỳ và ctv (1996) [3] nhận thấy kích thước thành thục lần đầu là 22

mm, tỷ lệ đực : cái xấp xỉ 1,5 : 1,0, sức sinh sản tuyệt đối từ 0,52 - 2,41 triệu trứng Theo Nguyễn Thị Xuân Thu và Nguyễn Văn Hà (1999) [15], tỷ lệ đực cái trong quần đàn tự nhiên ở đầm Nha Phu có sự thay đổi theo tháng và nhóm kích thước nhưng ổn định trong khoảng 1,0 : 2,2, sức sinh sản tuyệt đối từ 0,23 - 1,29 triệu trứng

Mùa vụ sinh sản

Trang 20

10

Theo Pathansali (1966) [41] và Broom (1985) [24], sò huyết có thể sinh sản quanh năm nhưng tập trung vào một số thời điểm nhất định Ở Malaysia, mùa vụ sinh sản chính từ tháng 6 - 10 và cao nhất vào tháng 8 - 9 Sự thay đổi nhiệt độ và độ mặn theo mùa được cho là có liên quan đến mùa vụ sinh sản của sò huyết [24], [35], [39] Các loài sò khác trong giống sò huyết phân bố ở nhiều vùng địa lý khác nhau cũng thể

hiện tập tính sinh sản theo mùa như trên loài A senilis, A subcrenata, A boughtonii

[55] Ở Việt Nam, sò huyết cũng sinh sản quanh năm có sự khác biệt theo vùng, tập trung từ tháng 3 - 6 ở vùng ven biển Trà Vinh và từ tháng 12 đến tháng 6 ở vùng biển Nam bộ [3], [10]

Sự phát triển của tuyến sinh dục sò

Bằng phương pháp mô học, một số nghiên cứu đã phân chia sự phát triển tuyến sinh dục của sò huyết thành 4 hoặc 5 giai đoạn Theo cách phân chia thứ nhất, 4 giai đoạn gồm giai đoạn chưa phát triển, giai đoạn phát triển, giai đoạn chín, giai đoạn sau khi đẻ [34] Theo cách phân chia thứ hai, 5 giai đoạn gồm: giai đoạn non, giai đoạn phát triển, giai đoạn chín, giai đoạn đẻ và giai đoạn sau khi đẻ [44], [56]

Quá trình phát triển của phôi

Vào mùa sinh sản, sò đẻ trứng và tinh trùng vào nước Trứng sò huyết rất nhỏ, đường kính chỉ khoảng 60 µm Trứng thụ tinh sẽ phát triển qua các giai đoạn phân cắt, hình thành phôi nang, phôi vị, ấu trùng bánh xe (Trochophora) và ấu trùng diện bàn (Veliger), ấu đỉnh vỏ (Umbo) và ấu trùng Spat Tổng thời gian phát triển phôi và biến thái ấu trùng khoảng 28 - 30 ngày [5]

1.2 Tình hình khai thác và nuôi sò

1.2.1 Tình hình khai thác và nuôi sò huyết trên thế giới

Năm 2011, tổng sản lượng sò huyết của thế giới là 393.000 tấn, trong đó, Maylaysia là nước đóng góp nhiều nhất [29] Sò huyết chiếm đến 94% sản lượng động vật thân mềm xuất khẩu tại quốc gia này [26] Theo DOFM, với lợi thế nguồn giống tự nhiên sẵn có, môi trường thích hợp, nghề nuôi sò huyết của Malaysia nhanh chóng phát triển [26] Năm 1995, diện tích và sản lượng sò huyết nuôi đạt 4.735 ha và 100.000 tấn Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tổng sản lượng sò huyết của

Trang 21

11

Malaysia có xu hướng giảm dần Năm 2010, mặc dù diện tích nuôi tăng lên 100.000 ha nhưng sản lượng chỉ đạt 78.000 tấn Năng suất ban đầu khoảng 21 tấn/ha nay giảm xuống còn 10 tấn/ha [42]

Theo Devakie (1986) [27], mật độ sò huyết thả nuôi phụ thuộc vào kích thước Với cớ 3 - 5 mm, mật độ thả nuôi từ 684 - 720 kg/ha tương ứng với 7.200 - 10.800 con/m2 Chất đáy thích hợp cho nuôi sò huyết là cát, đất sét và đất bùn Cỡ sò huyết giống nuôi thích hợp từ 4 - 10 mm tương ứng với mật độ khoảng 5.000 con/kg [39]

Ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của sò huyết ngoài bãi nuôi gồm thành phần chất đáy, độ mặn và độ dốc của nền đáy Vùng thích hợp cho nuôi sò là vùng triều, đáy bùn mịn, mềm, ít sóng gió, gần cửa sông, độ mặn từ 10 - 30‰

Theo Narasimham (1980) [37], khi nuôi thương phẩm sò huyết từ cỡ 23,0 mm

và 5,5 g/con, mật độ 175 con/m2, sau 5,5 tháng, sò đạt kích cỡ 39,2 mm, 28,5 g/con, tốc độ tăng trưởng 2,9 mm/tháng, tỷ lệ sống đạt 83,4% Sản lượng này gần gấp đôi so với sản lượng trung bình sò huyết nuôi tại Malaysia (20,7 tấn/ha/năm) Từ năm 1980, Philippines tiến hành nhiều nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm sò huyết từ quy mô thí nghiệm đến các bãi nuôi tự nhiên Kết quả đã sản xuất giống nhân tạo thành công tuy nhiên con giống tự nhiên vẫn được ưa chuộng hơn

Ở Indonesia, sò là đối tượng động vật thân mềm quan trọng nhất, theo sau là điệp, trai và hầu Nghề nuôi sò huyết phổ biến từ năm 1965 và chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên Sò được khai thác quanh năm, mùa cao điểm từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Kích thước sò khai thác từ 1 - 5 cm Vùng khai thác giống có độ mặn 25‰, sâu từ 1,4 m, đáy bùn nhão dày 25 cm, độ trong 2 m Trung tâm sản xuất sò lớn nhất ở Indonesia là phía Bắc đảo Sumatra với khoảng 85% tổng lượng giống cả nước Trong giai đoạn từ năm 1978 – 1983, sản lượng sò huyết hàng năm đạt 28.993 tấn/năm

Theo Tookwinas (1985) [48], nghề nuôi sò huyết ở Thái Lan bắt đầu từ năm

1930 Tuy nhiên bị gián đoạn vào năm 1972 - 1973 do môi trường bị ô nhiễm nặng Nguồn giống chủ yếu được nhập từ Malaysia

1.2.2 Tình hình khai thác và nuôi sò huyết ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Nguyễn Hữu Phụng (1999) [10], sản lượng sò huyết của nước ta

tập trùng vào 4 loài A granosa, A antiquata, A subcrenata và A navicularis Ở ven

Trang 22

12

biển miền Bắc (Quảng Ninh - Thừa Thiên Huế), sản lượng 2 loài A granosa và A

subcrenata đạt 2.000 – 2.200 tấn/năm Vùng ven biển miền Trung (Đà Nẵng – Vũng

Tàu), sản lượng A granosa từ 20 – 25 tấn/năm, sò A antiquata từ 20.000 – 25.000 tấn/năm và sò A navicularis từ 1.000 – 1.200 tấn/năm Các tỉnh ven biển Nam bộ, sản

lượng sò huyết đạt 16.000 – 17.000 tấn/năm Riêng ở Kiên Giang, nơi được xem có sản lượng sò huyết lớn nhất cả nước, mỗi năm khai thác 6.500 – 7.000 tấn Sản lượng

sò huyết khai thác ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hàng năm đạt 1.500 – 2.000 tấn Tuy nhiên, Nguyễn Trọng Nho và ctv (2003) [7] đã xác định sản lượng sò ở Đầm Nại còn khoảng 350 tấn, giảm rất nhiều so với các năm trước Nguyễn Thị Xuân Thu và Nguyễn Văn Hà (1999) [15] cũng ước tính sản lượng sò huyết ở Đầm Nha Phu (Khánh Hòa) chỉ còn đạt khoảng trên 100 tấn

Về hình thức khai thác, nhìn chung phương tiện khai thác còn thô sơ, quy mô nhỏ Đại bộ phận người khai thác là lao động nghèo, vốn đầu tư ít Do lao động mang tính chất mùa vụ nên năng suất lao động thấp Sò huyết được khai thác bằng hai hình thức chính là bắt bằng tay (bắt mánh) và dùng ngư cụ kéo rà

Nghề nuôi sò ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1990 với chỉ 2 loài A granosa và A

nodifera Hiện nay, nguồn giống cho nuôi sò huyết vẫn chủ yếu từ tự nhiên, nguồn

giống sản xuất nhân tạo chiếm tỉ lệ rất thấp Hiện nay, Kiên Giang và Quảng Ninh vẫn

là 2 tỉnh có nghề nuôi sò phát triển nhất Tuy nhiên, do nguồn giống khai thác tự nhiên đang dần cạn kiệt do khai thác quá mức, việc mở rộng vùng nuôi đối tượng này đang gặp rất nhiều khó khăn

Để nghề nuôi sò huyết phát triển, bên cạnh các biện pháp tăng cường bảo vệ và duy trì nguồn lợi tự nhiên, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh sản của sò là cơ

sở khoa học cho việc sản xuất giống nhân tạo, đáp ứng nhu cầu về con giống cho người nuôi là hết sức cần thiết Từ năm 1996, đã có một số đề tài nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản của sò huyết như Trương Sỹ Kỳ và ctv (1996) [3], Nguyễn Thị Xuân Thu và Hoàng Thị Bích Đào (1999) [14], Hoàng Thị Bích Đào (2005) [2] Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã tiến hành sản xuất giống thành công sò huyết nhưng tỷ lệ sống chỉ đạt 0,3% Dưới sự tài trợ của dự án SUMA (2001 - 2002), cơ quan này cũng đã sản xuất giống nhân tạo sò huyết thành công giúp cải thiện tỷ lệ sống lên đến giai đoạn con non đạt 1,88%

Trang 23

13

Những hạn chế trong sinh sản nhân tạo sò huyết có thể là do những nghiên cứu

cơ bản chưa được tiến hành một cách đầy đủ, có hệ thống, đồng bộ, số mẫu và thời gian nghiên cứu còn ít, chưa tìm được môi trường sống, chế độ dinh dưỡng thích hợp cho các giai đoạn ấu trùng và con non Do đó, những thành tựu đạt được trong sản xuất giống nhân tạo sò huyết thời gian qua hạn chế hơn nhiều so với các đối tượng động vật thân mềm khác như vẹm xanh, trai ngọc, ốc hương…

1.2.3 Tình hình chung của nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau

1.2.3.1 Sự hình thành và phát triển nghề nuôi sò huyết tại Cà Mau

Cà Mau có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Với 3 mặt giáp biển, hệ thống sông ngòi chằng chịt, 2 chế độ thủy triều đặc trưng (nhật triều Biển Tây và bán nhật triều Biển Đông) đã tạo nên 3 vùng sinh thái mặn, ngọt, lợ khác nhau Khí hậu ở Cà Mau quanh năm ôn hoà với 2 mùa mưa nắng rõ rệt

Cà Mau là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm lớn về thủy sản đặc biệt là nuôi tôm Năm 2015, diện tích nuôi tôm của Cà Mau đạt trên 266.000 ha (chiếm 40% cả nước), sản lượng tôm đạt 500.000 tấn (25% cả nước), kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (42% cả nước) Giá trị thủy sản chiếm 30% GDP của tỉnh Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho trên 140.000 lao động tại địa phương

Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng sò huyết ở Cà Mau giai đoạn 2013 – 2016

Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 TTBQ*

Diện tích (ha) 1.125 1.350 1.830 2.770

Sản lượng (tấn) 2.812 4.050 5.490 11.080

*TTBQ - Tăng trưởng bình quân, nguồn [17] và tính toán của tác giả

Nghề nuôi sò huyết của Cà Mau mới thật sự phát triển kề từ năm 2013 với hình thức khai thác, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên là chủ yếu Từ năm 2013 - 2016, diện tích nuôi sò huyết có tốc độ tăng trưởng bình quân 35,6%/năm về diện tích (1.125 ha lên

Trang 24

14

2.770 ha), 17,8%/năm về năng suất (2,5 - 4,0 tấn/ha) và 60,5%/năm về sản lượng (2.812 - 11.080 tấn) Phần lớn diện tích nuôi sò huyết chủ yếu nuôi kết hợp trong vuông nuôi tôm quảng canh và nuôi tại một số vùng bãi bồi ven biển và Đầm Thị Tường Tuy diện tích có tốc độ tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, nuôi sò huyết mới chiếm 0,01% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ Mặc dù các cơ quan chuyên môn đã có chủ trương và các chính sách hỗ trợ, nhưng tốc độ phát triển vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra

1.2.3.2 Tình hình nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường

Đầm Thị Tường được hình thành do sự bồi lắng phù sa từ 2 hệ thống sông chính là sông Đốc và sông Mỹ Bình Đầm được bao bọc bởi các cây rừng ngập mặn như dừa, đước, vẹt, bần Ven bờ xung quanh đầm là các khóm, ấp nuôi trồng thủy sản Trên mặt đầm là hàng loạt những ngôi nhà sàn, các phương tiện khai thác thuỷ sản Đầm Thị Tường nằm trên địa phận 3 huyện gồm Trần Văn Thời, Phú Tân và Cái Nước Phía Bắc giáp xã Phong Lạc, Phong Điền; phía Đông giáp xã Hoà Mỹ, Phú Thuận; phía Nam giáp xã Phú Mỹ Diện tích đầm khoảng 700 ha, chia làm 03 vùng

đầm trên, đầm giữa và đầm ngoài Đầm có chiều dài 10 km và chiều rộng 2 km

Bảng 3.2 Diện tích và sản lượng sò huyết nuôi ở Đầm Thị Tường từ 2013 – 2016

Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 TTBQ*

Sản lượng (tấn) 525 1.040 2.150 2.500

*TTBQ - Tăng trưởng bình quân, nguồn [17] và tính toán của tác giả

Đầm Thị Tường có tiềm năng, lợi thế rất lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi sò huyết Với diện tích lớn, nhiều cửa sông lớn, nhỏ nối liền với biển, chế độ thủy triều đặc trưng đã tạo nên một vùng sinh thái lý tưởng cho sinh sản, sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, tạo nguồn con giống

Trang 25

15

thủy sản tự nhiên dồi dào cung cấp cho các vùng nuôi lân cận Trong thời gian qua, đầm đã được người nuôi và các cơ quan chức năng quan tâm đầu tư phát triển nên đã đạt được nhiều kết quả tích cực Hiện tại, diện tích nuôi sò huyết tại đầm là 250 ha với

120 hộ nuôi, năng suất trung bình đạt 10 tấn/ha

Từ khi được chính thức đưa vào nuôi thương phẩm tại Đầm Thị Tường, sò huyết thể hiện khả năng thích nghi rất tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao Diện tích nuôi, năng suất, sản lượng sò nuôi hàng năm tăng lên đáng kể Trong giai đoạn từ năm

2013 - 2016, diện tích nuôi tăng 3,3 lần (từ 75 - 250 ha), năng suất tăng 1,4 lần, sản lượng tăng 4,8 lần (từ 525 - 2.500 tấn) Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 51,2%/năm về diện tích, 13,1%/năm về năng suất và 73,7%/năm về sản lượng Lợi nhuận từ nuôi sò huyết đạt từ 200 - 300 triệu đồng/ha/vụ, cá biệt có hộ lãi trên 400 triệu đồng/ha/vụ Như vậy, so với những chỉ tiêu chung của toàn tỉnh, có thể nhận thấy, mặc dù diện tích nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường chỉ chiếm khoảng 9% nhưng năng suất gấp 2,5 lần, sản lượng chiếm 22,5% vào năm 2016 Các chỉ tiêu tăng trưởng

về diện tích, năng suất, sản lượng của nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường đều cao hơn so với mặt bằng chung của tỉnh Cà Mau

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được trong thời gian qua thì nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường cũng đang gặp một số khó khăn về ô nhiễm môi trường do xả thải, bùng phát dịch bệnh, cạnh tranh lợi ích giữa các hoạt động nuôi trồng và khai thác khác trên đầm Bên cạnh đó, ý thức của người nuôi còn thấp, chưa tuân thủ chặt chẽ các khuyến cáo của các cơ quan chức năng về mùa vụ nuôi, mật độ nuôi, bảo vệ môi trường chung của vùng nuôi đã gây thiệt hại cho một số hộ nuôi, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Cà Mau là tỉnh cực nam của tổ quốc, có vị trí địa lý từ 80o30’ đến 90o10’ vĩ độ Bắc và từ 104o80’ đến 105o05’ kinh Đông Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Kiên Giang; phía Đông tiếp giáp tỉnh Bạc Liêu; phía Nam tiếp giáp Biển Đông; phía Tây tiếp giáp Vịnh

Trang 26

Về địa lý kinh tế trong đất liền, Cà Mau nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long (Cà Mau, Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang) với các

Trang 27

17

trung tâm lớn như điện lực Ô Môn, công nghiệp vật liệu xây dựng Kiên Giang, công nghiệp tàu thủy, công nghiệp chế biến thủy sản, cụm khí điện đạm Cà Mau, du lịch sinh thái Hà Tiên, Phú Quốc, Châu Đốc, rừng ngập Cà Mau Cà Mau là điểm đến của một số tuyến quốc lộ và đường thủy quan trọng như quốc lộ 1 A từ Thành phố Hồ Chí Minh - Bạc Liêu – Cà Mau – Năm Căn - Đất Mũi – Ngọc Hiển, quốc lộ 63 từ Cà Mau – Kiên Giang; Tuyến đường Quản Lộ - Phụng Hiệp; tuyến đường thủy Cà Mau – Thành phố Hồ Chí Minh…

Khí hậu, thời tiết

Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt cao vào loại trung bình trong tất cả các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Nhiệt độ bình quân hàng năm là 27,6oC (15 - 38oC); độ ẩm trung bình hàng năm

là 81% (73 - 86%); tổng lượng mưa bình quân hàng năm là 2.350 mm (1.940 - 2.800 mm); số ngày mưa bình quân hàng năm là 165 ngày, tập trung chủ yếu vào tháng 7, 8, 9; lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 1.004 mm; tốc độ gió là 3 - 4 m/giây; tổng số giờ nắng trung bình 2.226 giờ/năm, tập trung từ tháng 1 - 4; nhiệt độ, lượng bức xạ và lượng mưa cao; lượng bốc hơi phân bổ theo mùa; độ ẩm không khí cao nhất là tháng 9, 10; mùa mưa, chỉ số ẩm ướt (lượng mưa/lượng bốc hơi) là 4,1 lần; vào mùa khô, chỉ số khô hạn (lượng bốc hơi/lượng mưa) là 2,2 lần

Địa hình, thổ nhưỡng

Bán đảo Cà Mau là vùng bồi tụ từ phù sa và phù sa biển, hình thành các dải đất cao ven các sông rạch lớn, ven bờ biển Có nhiều bãi bồi tiếp giáp với biển, ven biển

có rừng ngập mặn; rừng tràm nằm sâu trong vùng nội đồng Nhìn chung, địa hình tỉnh

Cà Mau tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi đá (ngoài biển có một số cụm đảo gần bờ), cao trình phổ biến từ 0,5 – 1,0 m so với mực nước biển Nếu giữ nguyên độ cao tự nhiên chỉ phù hợp cho các loại cây chịu ngập nước như: rừng ngập mặn, rừng tràm, lúa nước, nuôi thủy sản Việc trồng cây ăn trái, xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình dân dụng, khu dân cư đòi hỏi chi phí tôn cao mặt bằng rất tốn kém Phía Bắc có địa hình thấp (0,2 – 0,5 m) thuận lợi cho việc tận dụng trữ lượng nước mưa để sản xuất nông nghiệp nhưng cũng tạo thành những vùng trũng đọng nước chua phèn gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp Phía Nam có địa hình

Trang 28

và xây dựng dân dụng rất tốn kém do yêu cầu xử lý nền móng phức tạp; tính ổn định của các công trình xây dựng bị hạn chế, thường bị lún nền

Chế độ thủy văn

Về thủy văn, tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông (bán nhật triều không đều) và vịnh Thái Lan (nhật triều không đều) Biên độ triều biển Đông tương đối lớn, từ 3,0 – 3,5 m vào ngày nước cường và từ 1,8 – 2,2 m vào các ngày nước kém

Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển nên phần lớn diện tích đất liền của tỉnh đã bị nhiễm mặn và chế độ thủy triều rất phức tạp Chế độ thủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản xuất như giao thông đi lại theo con nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm… Chế

độ thủy triều không đều của biển Đông và vịnh Thái Lan đã hình thành một số vùng giáp nước, là những khó khăn cho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa lớn làm bồi lắng nhanh ở các sông, kênh thủy lợi Ngoài ra, trong mùa khô, nước biển dâng cao, gây tình trạng xâm thực mặn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Vì vậy, công tác ngăn mặn là việc phải làm hàng năm, quan trọng của địa phương

Đặc điểm thủy triều trên các tuyến sông, kênh rạch của Cà Mau ảnh hưởng trực tiếp đến hiện tượng sạt lở bờ sông trên toàn tỉnh, thường mỗi năm chỉ diễn ra trong khoảng 3 tháng (từ tháng 5 đến tháng 8), nhiều nhất là tháng 5 và 6 Thời gian này trùng với thời kỳ có đỉnh triều thấp nhất ứng với mực nước trung bình trên các sông, rạch thấp nhất, đây cũng là thời kỳ đầu mùa mưa Đa số các trường hợp sạt lở đều diễn

ra vào lúc mưa nhiều, triều xuống thấp nhất và vào ban đêm Tình hình sạt lở đất không chỉ gây thiệt hại lớn về tài sản mà còn đe dọa tính mạng của người dân

Trang 29

19

Kết quả quan trắc cũng cho thấy mực nước trên địa bàn tỉnh tăng dần qua từng thập niên, theo Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Việt Nam năm 2012 của Trung tâm Viễn thám Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tác động của biến đổi khí hậu – nước biển dâng trên địa bàn tỉnh Cà Mau của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam thì trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình thấp, nhiều nơi cao trình chỉ đạt từ 20 – 30 cm, đường bờ biển dài nên sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng bởi ngập lụt mạnh mẽ và nghiêm trọng nhất Trong

đó, tỉnh Cà Mau là vùng nguy hiểm nhất, là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả 2 chế

độ thủy triều biển Đông và biển Tây và có đường bờ biển dài nhất, khoảng 254 km

Cùng với sự tăng lên về diện tích đất bị ngập lụt với độ sâu ngày càng lớn kết hợp với chế độ thủy triều, gió mùa trong khu vực, kèm theo đó là tình hình xâm nhập mặn càng sâu vào nội đồng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống, hệ sinh thái và chất lượng nguồn nước trong vùng

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Theo Nghị quyết số 10/NQ - CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ về hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Cà Mau, diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 529.487 ha chiếm 1,6% diện tích tự nhiên

cả nước và 13,05 diện tích tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó: Đất nông nghiệp là 463.977 ha (87,63% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) giảm 532 ha so với năm 2011; Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 147.867 ha (27,93%) giảm 268 ha so với năm 2011 Đất Lâm nghiệp là 114.150 ha (21,56%) tăng 4.954 ha so với năm 2011; Đất nuôi trồng thủy sản 200.600 ha (37,89%) giảm 5.218 ha so với năm 2011; Đất làm muối 86 ha.; Đất nông nghiệp khác 6 ha; Đất phi nông nghiệp 58.236 ha (11%) tăng 535 ha so với năm 2011; Đất ở là 6.341 ha (1,2%); Đất chuyên dùng là 28.375 ha (5,36%); Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 23.156 ha (4,37%); Đất chưa sử dụng 8.543 ha (1,61%)

Cho đến nay, tỉnh Cà Mau chưa có nguồn nước ngọt đưa từ nơi khác về bổ sung (dự kiến đưa ngọt từ Sông Hậu về Cà Mau theo dự án thủy lợi vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp hiện chưa được thực hiện) Nguồn nước mặt của tỉnh Cà Mau chủ yếu là nguồn nước mưa và nguồn nước từ biển vào, chứa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh

Trang 30

20

thủy lợi, trong rừng ngập mặn, rừng tràm và các ruộng nuôi thủy sản Theo vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp, nguồn nước mặt ở tỉnh Cà Mau đã có sự phân chia khá rõ gồm: (i) Nguồn nước mặt phục vụ sản xuất cây, con là nước ngọt chủ yếu còn lại ở khu vực rừng tràm U Minh Hạ, vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc huyện Trần Văn Thời và huyện Thới Bình, vùng mía nguyên liệu của huyện Thới Bình (ii) Nguồn nước mặt là nước lợ, nước mặn, đây là nguồn nước được đưa vào từ biển, hoặc được pha trộn với nguồn nước mưa

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nguồn nước mặt đang đối mặt với nguy

cơ ô nhiễm nghiêm trọng liên quan đến dịch vụ chế biến thủy sản do việc xả thải bừa bãi không qua xử lý và liên quan đến quá trình chuyển đổi sản xuất ồ ạt trong khi chưa kịp phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng thủy lợi,…

Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, nước ngầm ở tỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp Có 7 tầng chứa nước dưới đất (theo thứ tự từ I đến VII) với tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 6 triệu m3/ngày Hiện nay, nước ngầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu

ở tầng II, tầng III và tầng IV (đối với giếng nước lẻ của hộ dân chủ yếu khai thác ở tầng II và tầng III) Ngoài các giếng nước công nghiệp tại thành phố Cà Mau, các thị trấn, các nhà máy, lượng giếng nước khoan của các hộ dân là trên 26.000 giếng

Theo dự báo đến năm 2020, áp lực khai thác sử dụng nguồn nước ngầm là rất lớn, sản lượng cấp nước toàn tỉnh phải đạt khoảng 152.000 m3/ngày Trong đó, riêng khai thác tại thành phố Cà Mau và các thị trấn, các khu công nghiệp lên tới trên 100.000 m3/ngày Nếu quá trình khai thác nước ngầm phục vụ cho phát triển nuôi tôm công nghiệp không được quy hoạch hợp lý sẽ dẫn đến phá vỡ cân bằng tự nhiên giữa các tầng nước, có thể nước mặn ở tầng I sẽ thấm xuyên xuống các tầng dưới gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Đồng thời nếu khai thác quá mức sẽ làm cạn kiệt nguồn nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế

Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Cà Mau trong năm 2015 (theo giá so sánh 2010) có nhiều chuyển biến tích cực Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 27.672

Trang 31

21

tỷ đồng, tăng 7,46% so với năm 2014 Trong đó, khu vực ngư, nông, lâm nghiệp đạt 9.350 tỷ đồng, tăng 5,53% so cùng kỳ; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 10.346 tỷ đồng, tăng 6,49%; khu vực thương mại, dịch vụ đạt 7.976 tỷ đồng, tăng 11,15% so cùng kỳ [19]

Về cơ cấu kinh tế, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2015 đạt 43.098 tỷ đồng Trong đó, khu vực ngư, nông, lâm nghiệp đạt 13.389 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31,1%; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 12.550 tỷ đồng, chiếm 29,1%; khu vực thương mại, dịch vụ đạt 15.524 tỷ đồng, chiếm 36%; nhập khẩu, thuế 1.635 tỷ đồng, chiếm 3,8% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực ngư, nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng của khu vực thương mại, dịch vụ [19]

Thu nhập bình quân đầu người tăng 7,62%/năm trong giai đoạn 2009 – 2015 (từ 1.030 USD/người/năm lên 1.600 USD/người/năm), nhưng thu thập bình quân đầu người của tỉnh Cà Mau vẫn ở mức thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước (1.600

so với 2.300 USD/người/năm) Tổng sản phẩm (GRDP) theo giá thực tế năm 2015 khu vực I (Ngư, nông, lâm nghiệp) đạt 13.389 tỷ đồng, chiếm 31,1% GRDP của tỉnh Trong đó, ngư nghiệp chiếm 78,0%; nông nghiệp chiếm 21,2% và lâm nghiệp chiếm 0,8% Trong cơ cấu ngành Thủy sản, nuôi trồng thủy sản vẫn đóng vai trò chủ đạo chiếm tới 77% cơ cấu ngành, tiếp đến là khai thác thủy sản chiếm 17% và dịch vụ thủy sản chiếm 6%

Tình hình xã hội

Dân số trung bình tỉnh Cà Mau năm 2015 là 1.218.821 người, với 615.846 nam giới và 612.975 nữ giới Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 678.713 người, lao động chủ yếu là trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với 491.767 người, chiếm tới 72,5%

Về chất lượng nguồn nhân lực, lao động có trình độ cao đẳng trở lên là 17.198 người, trung cấp và dạy nghề là 42.802 người, lao động qua đào tạo nghề là 133.965 người và lao động phổ thông là 649.835 người [18] Chất lượng lao động qua đào tạo còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chất lượng của nhà tuyển dụng

Hiện nay, tổng số cơ sở đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh là 27 cơ sở Trong

đó, địa phương hiện có 3 trường cao đẳng, 3 trường trung cấp nghề, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 2 trung tâm giới thiệu việc làm và 10 cơ sở dạy nghề thuộc các

Trang 32

22

huyện và 8 cở sở dạy nghề ngoài công lập Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 2 chi nhánh của trường Đại học Bình Dương và Đại học Tôn Đức Thắng Năm 2015, Cà Mau đã giải quyết việc làm cho 38.942 lao động, số lao động được dạy nghề đạt 38.061 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 34,8% [19]

1.3.3 Điều kiện tự nhiên của Đầm Thị Tường

Đầm Thị Tường là đầm nước tự nhiên co diện tích lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đầm được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc và nhiều kênh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước Đầm nằm giữa hai huyện Phú Tân và Trần Văn Thời, thuộc tỉnh Cà Mau Đầm được chia làm 3 phần chính gồm Đầm Trên, Đầm Giữa và Đầm Dưới Đầm rộng gần 2 km và dài tới hơn 10 km, diện tích mặt nước khoảng 700ha

Bên cạnh đó, Đầm Thị Tường là nơi có hệ sinh thái đa dạng và phong phú, được thiên nhiên ưu đãi, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển nhiều nghành nghề khác nhau Đặc biệt, đây là nơi cư trú, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sản nước lợ có giá trị kinh tế cao Từ những lợi thế trên ngành thủy sản Cà Mau và các đơn vị chức năng, chính quyền địa phương đã và đang triển khai nhiều giải pháp, trong

đó có việc xây dựng các dự án, mô hình… bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản như

Dự án xây dựng Khu bảo tồn thuỷ sản đầm Thị Tường thuộc Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2020; Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thuỷ sản đầm Thị Tường – do Chương trình hỗ trợ ngành thuỷ sản Cà Mau (FSPS-II) thực hiện với sự hỗ trợ vốn của Hợp phần SCAFI

Trang 33

23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghề nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016

- Địa điểm nghiên cứu: Đầm Thị Tường, tỉnh Cà Mau

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung của đề tài

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài

Hiện trạng và đề xuất giải pháp để phát triển nghề

nuôi sò huyết theo hướng bền vững

Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi sò huyết theo hướng bền vững

Hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường

Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết

Hiện trạng KT-

XH của

hộ nuôi

Kết luận và đề xuất ý kiến

Trang 34

- Các chỉ tiêu thu thập bao gồm:

+ Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, địa hình thổ nhưỡng, môi trường, sông ngòi và đầm phá, đặc điểm thủy triều, tài nguyên thiên nhiên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ sở hạ tầng, tình hình phát triển kinh tế xã hội, giá trị sản xuất ngành thủy sản, dân số và cơ cấu lao động

b) Số liệu sơ cấp

- Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra, phỏng vấn trực tiếp người nuôi sò huyết thông qua sử dụng các phiếu điều tra, phỏng vấn đã được soạn sẵn cho các hộ nuôi tại Đầm Thị Tường Trước tiên, chúng tôi tiến hành điều tra sơ bộ 10 hộ nuôi và sau đó điều chỉnh câu hỏi điều tra phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương Sau khi hoàn chỉnh phiếu điều tra thì chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ số hộ nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường

- Các thông tin chính được thu thập bao gồm:

+ Các thông tin về kinh tế xã hội của người nuôi: gồm thông tin về chủ hộ nuôi,

số nhân khẩu, tuổi của chủ hộ nuôi, giới tính, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn

+ Các thông tin về hiện trạng nghề nuôi như các thông tin về hệ thông bãi nuôi, giống, hệ thống công trình nuôi, môi trường nuôi, con giống, thức ăn, chăm sóc quản

lý, phòng trị bệnh, năng suất, sản lượng, thu hoạch, sơ chế, thị trường tiêu thụ, sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế, các thông tin về cơ chế, chính sách quản lý, những khó khăn

Trang 35

25

gặp phải, nguyện vọng của người nuôi Qua đó, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường

2.2.3 Phương pháp phân tích sinh hóa mẫu sò huyết nuôi

- Việc phân tích được tiến hành tại Trung tâm Thí nghiệm – Thực hành, Trường Đại học Nha Trang Các mẫu sò huyết nuôi được vận chuyển sống từ Cà Mau đến Nha Trang và được gửi ngay đến Trung tâm để phân tích theo Hệ thống phân tích thô (Proximate Analysis System) hay còn gọi là Phương pháp Weende Đây là phương pháp phổ biến nhất hiện được sử dụng trong các phòng thí nghiệm trên thế giới để

đánh giá thành phần sinh hoá của thủy sản nuôi

- Phân tích thô gồm nhiều bước nhằm tách mẫu phân tích thành các nhóm chất dinh dưỡng khác nhau như độ ẩm, protein, lipid, tro, xơ và chiết chất không chứa ni tơ

Mô tả chi tiết của các phương pháp phân tích này được trình bày trong Các Phương pháp phân tích chính thức của Hiệp hội các nhà hoá học phân tích theo AOAC (2005)

- Sau đây là phần mô tả sơ bộ các phương pháp chính đã được sử dụng trong

nghiên cứu này:

+ Phân tích protein:

Protein thường chứa 16% Ni-tơ tính theo khối lượng Do đó, protein thô (crude protein - CP) được tính như sau: CP = N x 6,25 Trong nghiên cứu này hàm lượng Ni-

tơ được xác định theo Phương pháp phân giải bằng acid (còn gọi là Phương pháp

Kjeldahl), có ký hiệu AOAC 988.05

+ Phân tích lipid:

Phương pháp phân tích lipid tổng số được sử dụng là Phương pháp Folch.

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

* Phương pháp tính toán một số chỉ tiêu:

- Kết quả sản xuất:

+ Sản lượng sò huyết nuôi: Tổng khối lượng thu được/vụ nuôi (tấn/vụ)

+ Năng suất sò huyết (tấn/ha/vụ hay tấn/ha/năm):

Trang 36

26

Năng suất = Sản lượng sò huyết thu hoạch (tấn)

Diện tích mặt nước nuôi (ha)

- Hiệu quả kinh tế:

+ Lợi nhuận:

Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí

Tổng doanh thu: Tổng sản lượng x Giá bán

Tổng chi phí: Chi phí cố định + Chi phí lưu động

+ Tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận = [(Doanh thu – Chi phí) / Chi phí] x 100%

Trong đó: Doanh thu là tổng số tiền bán sò huyết; Chi phí gồm chi phí cố định

và chi phí lưu động Chi phí cố định gồm chi phí thuê diện tích mặt nước nuôi, thuế, khấu hao tài sản cố định, chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, thiết bị Chi phí lưu động gồm con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất, thuê mướn nhân công

* Phương pháp xử lý số liệu:

Các số liệu sau khi thu thập và tính toán, được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010 Các số liệu được trình bày dưới dạng Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Trang 37

27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi sò huyết

3.1.1 Tuổi của chủ hộ nuôi

Từ kết quả điều tra về độ tuổi của 120 chủ hộ nuôi sò huyết tại Đầm Thị Tường cho thấy, tuổi của các chủ hộ nuôi dao động từ 37 - 55 tuổi, độ tuổi trung bình là 46 tuổi Trong số 120 hộ được điều tra chỉ có 16 người dưới 37 tuổi (chiếm tỷ lệ 13,3%),

72 người từ 40 - 50 tuổi (chiếm tỷ lệ 60%), 32 người trên 50 tuổi (chiếm tỷ lệ 26,7%)

Kết quả cũng cho thấy mối liên hệ giữa tuổi tác và kinh nghiệm người nuôi Những người có tuổi nằm trong độ tuổi 40 - 50 và trên 50 có sức khỏe tốt, giàu kinh nghiệm nuôi, nhanh nhạy trong việc áp dụng những giải pháp nhằm gia tăng hiệu quả của hoạt động nuôi, hạn chế rủi ro Tỷ lệ tham gia thấp của nhóm tuổi dưới 40 tuổi (13,3%) cho thấy hoạt động nuôi sò huyết nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng cần nhiều kinh nghiệm, vốn đầu tư, ý thức trách nhiệm cao Các yêu cầu này thường phù hợp hơn với nhóm tuổi trên 40 tuổi hơn, chiếm tổng cộng tới 86,7%

Bảng 3.3 Cấu trúc tuổi của chủ hộ nuôi tại vùng điều tra (n = 120)

3.1.2 Giới tính của chủ hộ nuôi

Kết quả điều tra trên 120 hộ nuôi cho thấy, 100% chủ hộ nuôi sò huyết đều là nam Nam giới giữ vai trò trụ cột trong gia đình và cũng giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động nuôi sò huyết Nguyên nhân là do nghề nuôi sò huyết nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung thường vất vả, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm Ngoài ra, sò huyết được

Trang 38

28

nuôi ở những bãi nuôi rộng nên phải xây dựng các chòi canh để bảo vệ sò khỏi mất mát do trộm cắp, các sự cố trong quá trình nuôi Do đó, nam giới phù hợp hơn với công việc này Nữ giới thường tham gia vào các hoạt động hỗ trợ, chia sẻ, chăm sóc cho gia đình, nội trợ, thu hoạch, bán sản phẩm và hạch toán kinh tế

3.1.3 Số nhân khẩu và lao động của hộ nuôi

Hầu hết các hộ nuôi sống chung trong một gia đình có 2 thế hệ chung sống với nhau, số gia đình có 3 thế hệ chiếm tỷ lệ thấp Ở mỗi hộ nuôi, số nhân khẩu thấp nhất

là 2 người, nhiều nhất là 6 người, trung bình là 4 người Số hộ nuôi có 3 - 4 nhân khẩu chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm tới 80% Đa số những người trong hộ nuôi thường nằm trong nhóm tuổi lao động, tham gia chính vào hoạt động nuôi sò huyết Những người trên hay dưới độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ thấp, thường là ông bà và con cái còn nhỏ

Bảng 3.4 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi

Chỉ tiêu

Trong độ tuổi lao động

Trên độ tuổi lao động

Dưới độ tuổi lao động

Trong độ tuổi lao động từ 16 - 60 tuổi (55 tuổi với nữ), trên độ tuổi lao động là trên 60 tuổi

với nam (trên 55 với nữ), dưới độ tuổi lao động là < 16 tuổi (với cả nam và nữ)

3.1.4 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi

Kết quả điều tra từ bảng 3.5 cho thấy, đa số chủ hộ nuôi có trình độ văn hóa cấp

1 và cấp 2 Trong đó, cấp 1 có 40 người (chiếm 33,3%), cấp 2 có 64 người (chiếm 53,3%), cấp 3 có 16 người (chiếm 13,4%) Trình độ văn hóa khác nhau thì khả năng tư duy, nhận thức, sự tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật nuôi mới cũng khác nhau

Trang 39

3.1.5 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi

Số chủ hộ không có trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ lớn với 53,3%, số chủ hộ

có qua tập huấn ngắn hạn chiếm 40%, trình độ sơ cấp, cao đẳng - đại học chiếm tỷ lệ không đáng kể chỉ 6,6% Như vậy, có thể nhận thấy, số chủ hộ có trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản trong nghề nuôi sò huyết ở Đầm Thị Tường còn chiếm tỷ lệ quá thấp so với yêu cầu Hạn chế về chuyên môn thường thể hiện nhiều khó khăn trong quá trình nuôi, nhất là khi xảy ra các sự cố môi trường và dịch bệnh Kết quả điều tra

về trình độ chuyên môn của chủ hộ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho các

cơ quan chuyên môn của địa phương tư vấn, hướng dẫn, định hướng đào tạo nghề, biên soạn tài liệu, tập huấn kỹ thuật nuôi sò huyết phù hợp cho người nuôi

Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của chủ hộ STT Trình độ chuyên môn Số người Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 19/11/2017, 22:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Văn Mẫn và Ngô Thị Thu Thảo, 2013. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của sò huyết (Anadara granosa). Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
8. Dương Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thị Kim Liên và Huỳnh Trường Giang. Ảnh hưởng của nhiệt độ, mật độ tảo và loại tảo lê tốc độ lọc của sò huyết (Anadara granosa, Linne, 1758). Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Phần B Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
10. Nguyễn Hữu Phụng. Đặc điểm sinh học và nguồn lợi sò huyết A. granosa (Linnaeus) ở vùng biển Việt Nam, Tuyển tập báo cáo Khoa học, Hội nghị Khoc học công nghệ Biển toàn quốc lần thứ IV; 1999. Trang 1021-1026 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A. "granosa
11. Tạ Văn Phương và Trương Quốc Phú. Thử Nghiệm nuôi Sò huyết (Anadara granosa) trong ao nước tĩnh, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ. 2006. 192-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
12. Ngô Thị Thu Thảo, Trương Trọng Nghĩa. Ảnh hưởng của các nồng độ mặn khác nhau đến tốc độ lọc thức ăn, sự sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng chịu đựng stress của sò huyết giống Anadara granosa (Linaeus, 1758). Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo động vật thân mềm toàn quốc tại Nha Trang. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 2003. Trang 137 – 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 2003. Trang 137 – 141
13. Ngô Thị Thu Thảo, Hứa Thái Nhân, Trần Ngọc Hải và Huỳnh Hàn Châu. Ảnh hưởng của độ mặn lên sò huyết (A. granosa) nuôi vỗ trong hệ thống nước xanh cá rô phi. 2009. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 2009: 11: 255-263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A. granosa
14. Nguyễn Thị Xuân Thu, Hoàng Thị Bích Đào. Một số đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết (A. granosa) tại đầm Nha Phu - Khánh Hòa; 1999. Tạp chí Thủy sản số 7/1999. Trang 15 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A. granosa
16. Lương Đình Trung. Nuôi sò huyết (A. granosa) ở Trung Quốc; 1995. Trang 19 – 22. Tạp chí Thủy sản số 1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A. granosa
20. Abbas Alkarkhi FM, Ismail N, Easa AM. Assessment of arsenic and heavy metal contents in cockles (Anadara granosa) using multivariate statistical techniques.Journal of Hazardous Materials. 2008. 150(3):783 – 789 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
22. Boonruang P and Janekarm. Distribution, density, biomass, and population bionomics of Anadara granosa (L.) in relation to environmental factors at Sapum Bay on the east coast of Phuket Island. Thai Fish Gaz. 1983. 36: 461-468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
23. Broom MJ. The effect of exposure and density th growth and mortality of Anadara granosa (L.) with an estimaste of environmental carrying capacity.Asian symposium on mangeove environment; Research and management. Kuala Lumpur, 25th – 29th; August 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
25. Davenport J and Wong TM. Responses of the blood cockle Anadara granosa (L.) (Bivalvia: Arcidae) to salinity, hypoxia and aerial exposure.Aquaculture. 1986. 56: 151 – 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
27. Devakie N. Observations on the current status and potential of cockle culture in Malaysia. Workshop on the biology of Anadara granosa in Malaysia; 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
28. Din ZB and Ahamad A. Changes in the scope for growth of blood cockles (Anadara granosa) exposed to industrial discharge. Marine Pollution Bulletin.April–December 1995. 31 (4–12): 406-410 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
30. Faulkner P. Morphometric and taphonomic analysis of granular ark (Anadara granosa) dominated shell deposits of Blue Mud Bay, northern Australia. J Archaeol Sci. 2010. 37:1942–1952 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
34. Kastoro WW. Reproductive Cycle of Cockle Anadara indica (Gmelin) in Jakarta Bay. Phuket Marine Biological Center Special Publication. 1995. 15 : 75-78 35. Kusukabe D. Studies on the artificial seed of the ark shell Anadara subcrenata(Lisehke). J. Fac. Fish. Anim. Husb., Hiroshima University 2. 1959: 183 - 239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara indica" (Gmelin) in Jakarta Bay. Phuket Marine Biological Center Special Publication. 1995. 15 : 75-78 35. Kusukabe D. Studies on the artificial seed of the ark shell "Anadara subcrenata
36. Kyoung HK, Kim JM and Kim YH. Influence of water temperature and salinity on oxygen consumption and filtration rate of ark shell, Anadara granosa bisenensis. Division of Aquatic Science, Yosu National University, Yosu, Korea.Korean Journal of Malacology. 2004. vol 20: 107-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa bisenensis
38. Neori A, Ragg N and Shpigel M. The integrated culture of seaweed, abalone, fish and clams in modular intensive land-based systems: II. Performance and nitrogen portioning within an abalone (Haliotis tuberculata) and macroalgae culture system. Aquacul. Engi. 1998. 17: 215-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Haliotis tuberculata
39. Oon NF. Growth and mortality of the Malaysian cockle (Anadara granosa) under commercial culture: analysis through length-frequency data. Bay of Bengal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa
41. Pathansali D. Notes on the biology of the cockle, Anadara granosa L. Indo- Pacific fisheries council proceddings, FAO; 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anadara granosa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm