1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á 1997 và bài học kinh nghiệm cho việt nam

27 448 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 42,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Ở CHÂU Á 1997 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh

Trang 1

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:

+ Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền

+ Các khách hàng vay vốn , gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàntrả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

+ Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Ở CHÂU Á 1997 VÀ BÀI HỌC KINH

NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm

1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn,

và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coinhư là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ Đông Á

Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình

Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á,

Trang 2

nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ.

1 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng

1.1 Những nguyên nhân chủ quan

a Thâm hụt tài khoản vãng lai(THTKVL), nền kinh tế phát triển mất cân đối, nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém.

Xét về mức độ, tuy có khác nhau nhưng nhìn chung kinh tế Thái Lan và một số nước Đông Nam Á, tăng trưởng nóng tạo nên tốc độ phát triển kinh tế cao trung bình từ 7,5-8% trong những năm qua đã ngấm ngầm báo hiệu những sự mất cân đối dẫn đến khủng hoảng tài chính

Trước hết thể hiện sự mất cân đối bên trong đó là mâu thuẩn giữa tốc độ tăng trưởng quá nhanh tạo nên sức ép đối với giá cả do chi phí sản xuất kinh doanh ngày một tăng Đối với Thái Lan chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh, đạt mức 5,6% năm 1996 so với 3,4% năm 1993 Chính phủ vì thế phải tăng mức lương tối thiểu, trung bình 8,5%/năm, trong khi đố năng suất lao động chỉ tăng trung bình 3% Đặc điểm này diển ra tương tự như ở Malaysia, Indonesia và Philippines Mặt khác các nước phải tăng vốn vay từ bên ngoài để bù đắp cho việc thiếu hụt trong nước nhằm đẩy nhanh tốc độ hiệnđại hóa sản xuất, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng

Bên cạnh đó trừ Indonesia phần nào dựa vào nguồn dầu mỏ xuất khẩu, còn Thái Lan, Malaysia rơi vào tình trạng THTKVL ở mức báo động Theo phân tích của IMF, nếu

Trang 3

thâm hụt trên mức 5% so với GDP sẻ đẩy nước này vào tình trạng khủng hoảng THTKVL còn có nghĩa là kinh tế đông Nam Á đã mất cân đối nghiêm trọng đối với bên ngoài Từ năm 1995 trở lại đây, THTKVL ở Thái Lan là 8,1%GDP năm1995 và 8,2%GDP năm1996 Tương tự, ở Malaysia là 9,7%GDP năm 1996 Đây là mức độ thâm hụt bằng với mức mà Mexico gặp phải khi bùng nổ khủng hoảng 1994 Trong khi đó thâm hụt ở Indonesia là 4% và Philippin là 3,2% GDP năm 1996 Các nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng thâm hụt đó là:

+ Do kim ngạch xuất khẩu của các nước từ năm 1995 đến nay giảm mạnh

+ Do THTKVL và thâm hụt cán cân thanh toán ngày càng nghiêm trọng đã buộc các nước trong khu vực phải vay nóng từ các khoản vay ngắn hạn của nước ngoài để bù đắp cho những khoản chi tiêu trong nước

*Các dòng vốn nước ngoài kéo vào

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Cácnhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tàisản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á

Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm

để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài

mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)

Trang 4

b Tỷ giá hối đoái dồn nén một cách khiên cưỡng.

Nếu vấn đề nêu trên là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các chính sách “neo giá” giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ giákhiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu vực Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sang các đồng Peso, Ringgit và Rupiah, nhưng trong thực tế trong chừng mực nào đó,các đồng nội tệ này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD

Xét về phương diện lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods, có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định hóa đòng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trongđiều kiện đồng nội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như

cơ cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng Đáng nhẽ ngay từ năm

1996, khi những triệu chứng thâm hụt tài khoản vảng lai xuất hiện, Thái Lan và các nước Đông Nam Á khác phải thực hiện chính sách thả nổi đồng nội tệ, trả lại giá đíchthực của nó, kết hợp với chính sách thắt chặt tài chính, chác chắn nguy cơ khủng hoảng bị dập tắp Thay vì chính chính sách kìm giữ một cách giả tạo đồng nội tệ để thu hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp lỗ hỏng của tài khoản vảng lai và kiềm chế lạm phát

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên

1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung

Trang 5

ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tănggây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng

để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.[1]

c Hệ thống tài chính yếu kém và vấn đề niềm tin bị tổn thương

Bài học đắt giá nhất cho kinh tế mỗi nước là nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng

mà không chú ý kiện toàn hệ thống tài chính, hệ ủa tất yếu là ngân sách nhà nước bị thâm hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn gì củng lâm vào khủng hoảng Hệ thống ngân hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng nhiều rủi

ro, chỉ cần một tổn thương cũng gây nên những xáo trộn lớn trong quá trình điieù tiết kinh tế Việc duy trì quá lâu tỷ gia hối đoái cố định đã tạo nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các nước này Hệ thống ngân hàng hoạt động yếu kém dấn đến kẻ hở cho nhà đấu cơ tiền tệ vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho các ngân hàng đổ xô mua nhau mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá

Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng Để duy

Trang 6

trì tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay nóng ngân hàng nước ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ ngoại tệ trong nước Các chuyên gia IMF cho biết tỷ lệ nợ /dự trữ ngoại hối ở Thái Lan,

Indonêsia xấp xỉ 3 lần, Philippin gấp 4 lần, hấp nhất là Malaysia là 10 tỷ USD Nguy hiểm hơn khi nhà đầu tư nước ngoài khẩn trương rút vốn khi thấy có sự bất ổn

Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dấn đến hàng loạt ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ nợ Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng trước nguy cơ phá sản Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu có hội chứng mất dần niềm tin, hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này

Sau lời tuyên bố từ chức của Bộ trưởng Tài chính A Vinavan vào cuối tháng 6/1997 khi khủng hoảng xảy ra, giới kinh doanh đầu tư mất niềm tin làm thị trường chứng khoán Băngkok giảm xuống ở mức thấp nhất với chỉ số 482,97 điểm, giảm 14,75 điểm so với giữa tháng 6/1997 Các nhà đầu cơ bán hạ giá các cổ phiếu và chuyển tiền ra nước ngoài để mua USD

1.2 Những nguyên nhân khách quan

a Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới.

Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm Đặc biệt, những nước này là bạn hàng chủ yếu, là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về xuất khẩu của các nước Đông Nam Á Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử,

Trang 7

sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ bảo hòa của thị trường thế giới Năm 1996, thị trường bán dẫn quốc tế suy thoái mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80% Các mặt hàng điện tử dân dụng của Nhật, các nước NICs Đông Nam Á giảm lượng bán hơn 40% trên thị trường thế giới Mặt khác tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam Á trước các đối tác Mỹ và Tây Âu đã giảm sút trước thị trường Trung Quốc, SNG-Đông Âu và

Mỹ Litinh Nhật Bản củng đang lúng túng về những đồng vốn cho vay quá lớn trước những biến động xấu của thị trường tài chính khu vực Theo báo cáo của ngân hàng

D M Green Fell thì hơn một nửa số 70 tỷ USD Thái Lan nợ ngân hàng là của Nhật Bản và chủ yếu là do vay nóng Do vậy, khi lãi suất tăng thì không chỉ chi phí vay nợ tăng mà đồng vốn vào Thái Lan cũng sẻ giảm đi hoặc đổi chiều và dẫn đến khủng hoảng về thanh khoản của Thái Lan đồng thời gây áp lực với đồng Peso và Rupiah

Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm

1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên

để ngăn chặn lạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tưhơn so với các nước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền củacác nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ

b Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Trang 8

Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Khi phát hiện nhữngdấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường hợt động đầu cơ tiền tệ Theo nguồn tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng tư nhân ở Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong 2 tháng 7-8/1997 Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar Họ mua đồng Baht sau đó Peso, Ringgit, Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷUSD để đầu cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.

Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản của TháiLan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á.[4] Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra

Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này.[6] Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng

đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương

EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng

Trang 9

Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụcho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phùhợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ.

Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ởcác nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng

2 Diễn biến cuộc khủng hoảng ở một số quốc gia

2.1 Thái Lan

Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi

Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố

sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7 Baht ngay lậptức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một

Trang 10

gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.

2.2 Philippines

Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng

Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các

vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn

khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá

Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống

2.3 Hong Kong

Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ

đổ vỡ Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23% Ngày

Trang 11

15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảmgiá cổ phiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và saunày làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ.

Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ

Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ)

Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp

đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 : 1

2.4 Hàn Quốc

Hàn Quốc được xếp hạng thứ 11 trong số những nền kinh tế lớn trên thế giới Khi khủng hoảng xảy ra, với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống ngân hàng bắt nguồn

từ những khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, Moody's đã hạ bậc tín dụng của Hàn Quốc

từ A1 xuống A3 vào tháng 11/1997 và tiếp tục hạ xuống B2 vào tháng 12

Sự kiện này góp phần làm thị TTCK Hàn Quốc sụt giảm mạnh hơn, giảm 4% vào 7/11/1997, giảm tiếp 7% vào ngày 8/11 và 7.2% vào ngày 24/11/2997 khi có tin IMF

Trang 12

yêu cầu Hàn Quốc thực hiện cải tổ hệ thống tài chính

Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp

đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu Á

bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ởquy mô lớn Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứhạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêngtrong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ

Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD

2.5 Malaysia

Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20

Ringgit/Dollar Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về

sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra

Trang 13

đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.

Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5% Malaysia là quốc gia nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua việc KLSE (sàn giao dịch chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn giao dịch có hoạt động mạnh nhất trên thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí vượt qua cả NYSE mặc dù có mức vốn hóa thị trường thấp hơn rất nhiều) Ở thời điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và trở thành nước phát triển vào năm 2020

Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200, đồng ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7% Lãi suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt xuống và xảy

ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt

Cuối năm 1997, mức đánh giá tín dụng tụt xuống dưới mức bình quân cho các khoản đầu tư không đảm bảo, KLSE mất 50% điểm, tụt xuống dưới 600, đồng ringgit cũng mất 50% giá trị, còn 3.8 đồng đổi 1 USD Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm

2.6 Indonesia

Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12% Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn Đồng

Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho

Ngày đăng: 19/11/2017, 20:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w