Để bảo vệ choquyền lợi của những người thừa kế thao di chúc thì hội nghị toàn dân có quyềngiám sát phân chia tài sản đó.Trong bộ luật 12 bảng đã ghi nhận về những thủ tục chế định dâ
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
Mục lục: Trang
Lời mở đầu
1 Lí luận chung 2
1.1 Luật La mã thời kỳ cộng hòa sơ kỳ 2
+ Nhà nước +Luật La Mã 1.2 Luật La mã thời kỳ cộng hòa hậu kỳ……….4
1.2.1.Lịch sử hình thành luật la mã thời cộng hòa hậu kì…………4
1.2.2.Nguồn của luật La Mã thời cộng hòa hậu kì……… 4
1.2.3 Nội dung cơ bản của luật La Mã thời cộng hòa hậu kì…… 5
2 Sự hoàn thiện của pháp luật la mã và ảnh hưởng của nó trong thời kỳ cận hiện đại 2.1 Sự hoàn thiện .9
2.2 ảnh hưởng 2.2.1 Ảnh hưởng của luật La Mã với dòng họ pháp luật Common Law 2.2.1.1 Sơ lược về dòng họ pháp luật Common Law………13
2.2.1.2 Hệ thống pháp luật Anh……….17
2.2.2 ảnh hưởng tới hệ thống civil law 22
2.2.3 ảnh hưởng tới pháp luật Việt Nam 24
KẾT LUẬN 29
Danh mục tài liệu tham khảo 29
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Luật La Mã là hệ thống luật cổ, được xây dựng cách đây khoảng hơn 2000 năm(449 TCN), áp dụng cho thành Roma và sau đó là cả Đế quốc La Mã Các nguồn
của Luật La Mã thời Cổ đại được sưu tập trong Corpus Iuris Civilis được tái khám
phá trong thời kỳ Trung cổ và mãi cho đến thế kỷ 19 vẫn được xem là nguồn luậtpháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu Âu
Lúc bấy giờ, "vua" đã bị phế truất, nhà nước La Mã mới ra đời Ðại hội Xanturia,
mà thực chất là đại hội của toàn thể quân đội, họp để quyết định chung về mọivấn đề quân sự như tuyên chiến, đình chiến hoặc nghị hòa, bầu cử tướng lĩnh hàngnăm , trở thành cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước La Mã Ðại hội Xanturiahọp là hình thức phôi thai của nền dân chủ nô La Mã
Cơ quan quyền lực thứ hai của nhà nước cộng hòa La Mã được giao cho hai quanchấp chính gọi là Consul, quyền hành ngang nhau, Thời chiến thì giữ chức tư lệnhquân đội La Mã, thời bình thì nắm giữ quyền lập pháp, quyền hành chính lẫnquyền tư pháp, quyền hạn rất lớn
Tóm lại, nhà nước La Mã vừa ra đời, đã mang tính chất hai mặt Một mặt, nó tậphợp cả dân La Mã và Pơ-lep vào một nhà nước thống nhất, tổ chức theo hình thứccộng hòa, trong đó quyền dân chủ của nhân dân La Mã được đảm bảo một mức độnhất định, tạo điều kiện cho La Mã phát triển mạnh mẽ chế độ chiếm hữu nô lệ; đó
là mặt tích cực của nó Nhưng mặt khác, nhà nước đó thực chất là nhà nước cộnghòa quí tộc, trong đó quyền hành tập trung vào tay giai cấp quí tộc La Mã; sự cáchbiệt giữa Pa-tơ-ri-xi nà Pơ-lep vẫn còn
Trang 3Cải cách của Tu-li-u-xơ căn bản chưa xóa bỏ được sự cách biệt giữa Pơ-lep và tơ-ri-xi, vì thế cuộc đấu tranh còn tiếp tục diễn ra trong suốt 200 năm sau.
Pa-Năm 287 tr.c.n., có thể coi là năm kết thúc quá trình đấu tranh bền bỉ của ngườibình dân chống phân biệt đối xử công dân tự do La Mã
Tuy nhiên, chế độ cộng hòa La Mã dù có được dân chủ hóa, nhưng nhà nước đócăn bản vẫn đảm bảo quyền lợi của bộ phận chủ nô giàu có trước hết, nên nó cònmang nhiều tính chất hạn chế
Điều kiện để đảm bảo thực hiện hợp đồng vay nợ là thịt, da, máu của người vaynợ Nếu con nợ trả không đúng hạn cho chủ nợ thì toà án cho phép chủ nợ giamgiữ con nợ Nếu quá 60 ngày không trả được nợ “ chủ nợ có thể mang thể mangtùng xẻo than thể của con nợ việc con nợ bị tùng xẻo nhiều hay ít,chủ nợ cũngkhông chịu trách nhiệm về điều đó: ( bảng 3 điều 6) Sau đó nếu con nợ vẫn khôngtrả được nợ, thì bị kết án tử hình hoặc “ bán ra nước ngoài qua song Tigrơ”.Trường hợp con nợ vay nợ của nhiều người, các chủ nợ có quyền băm con nợ củamình ra thành nhiều mảnh ( bảng 3 điều 6) Điều đó, gây nên mối đe doạ khủngkhiếp đối với người lao động nghèo khổ ở La Mã
Bộ luật còn phản ánh tình hình quan hệ xã hội rất phức tạp ở La Mã, khi nhà nướcchiếm hữu nô lệ đã được xác lập, nhưng những tàn dư của chế độ thị tộc vẫn tồntại Luật La Mã còn thừa nhận hình thức trả thù ngang bằng: nếu đánh gãy tayngười tay người khác, thì thủ phạm cũng sẽ bị đánh gãy tay Trong gia đình, quyềnlực của người đàn ông hầu như tuyệt đối Tài sản gia đình do người chồng quản lý.Con gái lấy chồng phụ thuộc vào chồng Người cha có quyền bán con làm nô lệ.Con cái không có quyền thừa kế tài sản.Người con chỉ được tự do trong điều kiệnnhất định “Nếu như người cha đã bán con lần thứ 3,thì người con được thoát khỏi
sự thống trị của người cha” (bảng 5 điều 2) Chế định thừa kế tài sản qui định: Nếungười chết không có người thân thích bên nội, thì tài sản người chết để lại sẽ thuộc
Trang 4về thị tộc Nhưng đồng thời còn thừa nhận quền thừa kế thao di chúc Người chếtđược tự do để lại tài sản của mình cho bất cứ người thừa kế nào Để bảo vệ choquyền lợi của những người thừa kế thao di chúc thì hội nghị toàn dân có quyềngiám sát phân chia tài sản đó.
Trong bộ luật 12 bảng đã ghi nhận về những thủ tục chế định dân sự.Nhìn chungthủ tục tố tụng dân sự còn quá máy móc, rườm rà nên gây ra rất nhiều phiền phứctrong quá trình tiến hành xét xử và không tạo điều kiện cho quan hệ hàng hoá pháttriển
1.2 Luật La mã thời kỳ cộng hòa hậu kỳ
1.2.1.Lịch sử hình thành luật la mã thời cộng hòa hậu kì
Thời kì cuối không phải chỉ là thời cộng hòa hậu kì ( thế kỉ III TCN-thế kỉ I SCN )
mà đế quốc La Mã còn tồn tại thêm một thời gian nữa ( đến thế kỉ V SCN ) Bởivậy luật La Mã thời kì cuối bao gồm thời cộng hòa hậu kì và cả thời hậu cộng hòa.Thời kì từ hậu công hòa trở đi là thời kì thịnh vượng nhất của nền luật học La Mã Thời kì này luật dân sự đã đạt tới trình độ mang tính chất cổ điển , hoàn thiện cả vềphạm vi điều chỉnh và kĩ năng lập pháp Chính vì vậy mà luật La Mã thời kì nàytrở thành nguồn luật chủ yếu của nhiều nước sau này
Ở giai đoạn cuối của thời cộng hòa hậu kì , mặc dù chính thể của cộng hòa chủ nôđược thay thế bằng chính thể quân chủ chủ nô ( từ cuois thế kỉ I SCN ) , quan hệ
nô lệ trở nên lỗi thời , đế quốc La Mã dần bước sang giai đoạn suy vong , nhưngcũng chính giai đoạn này đé quốc La Mã được mở rộng nhất Bởi vậy nền kinh tếhàng hóa bắt đầu phát triển mạnh Các nhà làm luật La Mã không những tiếp thu ,tích lũy được nhiều kinh nghiệm qua thời cộng hòa , mà còn tiếp thu được nhiềuthành tựu lập pháp của các nước đã bị La Mã chiếm đóng Nền luật pháp La Mãtiếp tục phát triển , cộng vào đó , việc cai trị một đế quốc lớn cũng cần một công cụpháp luật hỗ trợ
1.2.2.Nguồn của luật La Mã thời cộng hòa hậu kì :
+ Những quyết định của các hoàng đế La Mã Sở dĩ ngày nay còn biết được khánhiều về nguồn luật này vì vào đầu thế kỉ VI SCN ( đế quốc đông La Mã ) lập mộthội đồng tư vấn gồm các luật gia nổi tiếng , để hệ thống hóa các quyết định của các
Trang 5hoàng đế La Mã từ thế kỉ III TCN đến thế kỉ VI SCN và trình lên hoàng đế lựachọn để áp dụng cho thời ông ta.
+ Các quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất : viện nguyên lão
+ Các quyết định của tòa án Khi xét xử các vụ án của tranh chấp dân sự mà tranhchấp đó không có các qui phạm pháp luật điều chỉnh , thì quan tòa có quyền phánquyết , nhưng phải phù hợp với các tập quán của địa phương Phán quyết đó có ýnghĩa như một nguồn luật
+ Các quyết định của các quan thái thú cấp tỉnh trong trường hợp không có luậtđiều chỉnh , mà cần giải quyết một vấn đề cấp bách nào đó có lợi cho hoàng đế La
Mã , thì quan thái thú được phép ra quyết định buộc những người trong địa hạt củamình phải tuân thủ
+ Tập quán pháp Đó là tập quán của các tộc người hoặc các địa phương đượcpháp luật thừa nhận , thường được ghi lại thành văn bảng và được ban hành
+ Hệ thống hóa luật pháp , các công trình của luật gia La Mã Các luật gia La Mãthường hệ thống hóa luật pháp thành các bộ , quyển , chương , mục để tiện choviệc nghiên cứu luật pháp và để tiện cho việc áp dụng chúng trong xét xử Ngoài
ra các công trình nghiên cứu của các luật gia La Mã nổi tiếng cũng được coi là cácvăn bản pháp luật
Nguồn của luật La Mã thời cộng hòa hậu kì rất đa dạng và phong phú , nógóp phần làm cho bộ luật La Mã thời kì này trở nên hoàn thiện hơn
1.2.3 Nội dung cơ bản của luật La Mã thời cộng hòa hậu kì :
+ Các chế định của luật dân sự :
Trong luật La Mã , luật dân sự là luật phát triển nhất về phạm vi điều chỉnh và nhất
là về kĩ năng lập pháp Các chế định của luật dân sự rất phong phú và bao quát hầuhết các quan hệ dân sự Đó là các chế định về quyền sở hữu , hôn nhân và trái vụ ,hôn nhân và gia đình , thừa kế Nội dung của từng chế định cũng rất phong phú vàchi tiết
Quyền sở hữu :
Trang 6Khái niệm quyền sở hữu trong luật La Mã được hiểu là quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng, quyền định đoạt tuyệt đối tài sản đó Nhưng chủ sở hữu vẫn bị một số hạnchế do luật quy định khi sử dụng vật sở hữu của mình Ví dụ, luật la mã quy định:
do yêu cầu của việc canh tác ở nông thôn và việc sử dụng nước ở thành phố có thểdẫn nước qua ruộng người khác, hoặc đặt ống dẫn nước qua sân người hàng xóm
Quyền chiếm hữu:
Trong luật la mã, quyền chiếm hữu được định nghĩa là quyền sử dụng và ý muốnthực hiện quyền đó đối với tài sản của người khác để phục vụ cho chính bản thânmình
Hình thức chiếm hữu phổ biến nhất là chiếm hữu ruộng đất người được quyềnchiếm hữu có thể sử dụng toàn bộ số hoa lợi mà mảnh đất đó đem lại và phải cónghĩa vụ nộp một khoản tiền thuê mảnh đất cho người sở hữu tối cao là nhà nước
Trong thực tiễn xét xử các luật gia la mã đã phân chia ra làm 2 loại hợp đồng: một
là, hợp đồng thực tại: nghĩa vụ thực hiện và trách nhiệm bát đầu nãy sinh từ thờiđiểm trao vật trong hợp đồng thực tại có 2 kiểu hợp đồng khác nhau là hợp đồngbảo quản và hợp đồng cho vay, cho mượn đối với kiểu hợp đồng bảo quản thì thờiđiểm phát sinh trách nhiệm của người bảo quản chỉ từ khi nhận được vật trở đi.Còn hợp đồng cho vay là người chỉ phải trả lại vật tương tự hợp đồng cho mượn làkhi phải trả lại chính hợp đồng cho mượn
Việc phân chia những hợp đồng thực tại có ya nghĩa quan trọng trong thực tiễn xétxử
Hai là hợp đồng thỏa thuận: loại hợp đồng này bao gồm nhiều hình thức quan hệpháp lý như mua bán, thuê mướn sức lao động, thuê súc vật, nhà ở, lĩnh canh ruộngđất…thời điểm phát sinh trách nhiệm của loại hợp đồng này bắt đầu sau khi kí hợpđồng, chứ không phải từ khi trao vật nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổihàng hóa
Trang 7Nhưng nếu phía bên kia không trao đúng vật, đúng thủ tục và thời gian quy địnhthì xuất hiện sự vi phạm trái vụ, nhưng hợp đồng vẫn còn hiệu lực vậy tráo vụ làgì? Luật gia pa-van định nghĩa về trái vụ: “bản chất của trái vụ là bắt buộc người
đó phải có nghĩa vụ với chúng ta bắt người đó phải trao cho, làm cho một cái gìđó” Như vậy, trái vụ là nghĩa vụ dân sự được pháp luật quy định, căn cứ vào đómột hoặc nhiều người phải làm một việc hoặc không được làm một việc (gọi làngười có nghĩa vụ) cho một hoặc nhiều người khác (người có quyền) đó là sự ràngbuộc pháp luật giữa các bên tham gia hợp đồng dân sự
Biện pháp để bảo đảm trái vụ được pháp luật quy định bằng hình thức cấm cố luậtquy định, nếu người khác mắc nợ không chịu trả nợ thì vật cầm cố sẽ đem bán, sốtiền bán vật cầm cố nếu nhiều hơn tiền nợ thì số dư ra người mắc nợ được lấy lại.tất cả các đồ vật đều có thể được coi là vật cầm cố một biện pháp khác nữa để bảođảm trái vụ là sự bảo lãnh của người trung gian
Đồng thời, luật còn quy định những điều kiện đình chỉ hợp đồng
Theo quy tắc chung, các hợp đồng đã được kí kết vẫn giữ nguyên hoặc đình chỉ khi
có sự nhất trí của 2 bên Nhưng trên thực tế trong những điều kiện cụ thể, trái vụ cóthể được đình chỉ nếu: hai bên thỏa thuận chuyển khoản nợ cũ sang trái vụ mới;người chủ nợ từ chối quyền đòi hỏi của mình, hết thời hiệu đơn kiện (quy định củatòa án, thời hiệu đó là một năm) Ngoài ra trong những điều kiện đặc biệt ngườimắc nợ gặp phải những thiên tai dịch họa không thể cưỡng lại được thì có quyềnhũy bỏ hợp đồng
Chế định hôn nhân và gia đình:
Hôn nhân theo quy định của pháp luật là một vợ một chồng và phải do sự tựnguyện đồng ý của 2 người tài sản của vợ, của chồng là riêng biệt mọi chi phítrong thời gian 2 vợ chồng chung sống là do người chồng gánh vác Người chồng
có quyền định đoạt hoa lợi do của hồi môn của vợ đem lại nếu người vợ li hônchính đáng được tòa án thừa nhận có quyền nhận lại của hồi môn So với thời kìcộng hòa sơ kỳ, pháp luật thời kì này đã hạn chế bớt quyền lực của người cha Giếttrẻ em là tội phạm và người cha không có quyền bán con mình
Chế định thừa kế:
Có nhiều thay đổi và được quy định chi tiết theo pháp luật la mã thì thừa kế có 2hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo luật luật la mã quy định diện và
Trang 8hàng thừa kế theo quan hệ huyết thống trong 6 đời của người để lại di sản diện ởđây là người có khả năng thừa kế hàng ở đây là ưu tiên thừa kế
+chế định hình sự:
Trong nền pháp luật la mã, nếu như những quy phạm pháp luật dân sự mang tínhtiến bộ bao nhiêu, thì những chế định hình sự mang tính trì trệ bảo thủ bấy nhiêu.Phần lớn các đạo luật hình sự nhằm điều chỉnh các quan hệ chính trị Hình phápmang tính độc đoán tàn bạo và cách xét xử mang nặng yếu tố chủ quan của thẩmphán Hình phạt phổ biến là cực hình và nhục hình Nhưng tùy thuộc vào từng giaicấp, thì hình phạt được áp dụng theo cách khác nhau Ví dụ, trong việc thi hành án
tử hình, quý tộc và binh lính bị chém bằng gương, dân tự do bị thiêu hoặc do ngựa
xé, còn nô lệ bị giết chết từ từ rất khủng khiếp
Như trong thời kì độc taì xila, những người bị ghi vào dân sách là kẻ thù của nhândân, thì bất cứ người dân la mã nào cũng có quyền giết hoặc bắt đi đày được tàisản của tội phạm bị xung công và một phần bị chia cho kẻ tố giác Nếu ai đó chỉcần có một hành vi nhỏ làm trái ý kẻ độc tài thì bị coi là tội phạm và bị trừng trị +những chế định tố tụng:
Tổ chức tòa án và tố tụng tư pháp có sự thay đổi cơ bản so với thời kì cộng hòa sơ
kì
Do sự khủng hoảng của nhà nước cộng hòa mà giai cấp chủ nô đã gạt hội nghịnhân dân ra khỏi việc xét xử những vụ án hình sự ở cấp cao nhất việc giải quyếtnhững vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của hội đồng tòa án đặc biệt từ 30 đến 40thẩm phán Tùy theo từng vụ án mà bổ nhiệm số lượng thẩm phán trong hội đồngnày theo cách rút thăm Trong khi giải quyết, để đi đến các quyết định vấn đề trong
vụ án người ta dựa vào sự bỏ phiếu
Tính giai cấp của các tòa án la mã thời kì này thể hiện rất rõ ở thành phần hội đồngthẩm phán ở quyền hạn và nhiệm vụ của các hệ thống xét xử trên thực tế, các quanchức hành chính cũng được trao quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự thẩm phánvừa làm công việc điều tra, xét hỏi, vừa kết tội và tuyên bố hình phạt thôngthường biện pháp tra tấn được sử dụng để tiến hành điều tra, xét hỏi, người bị xem
là phạm tội
Trang 9Như vậy, tòa án và trình tự tố tụng trong thời kì này thực sự là công cụ sắc béntrong tay giai cấp chủ nô để đàn áp các giai cấp nghèo khổ
2 Sự hoàn thiện của pháp luật la mã và ảnh hưởng của nó trong thời kỳ cận hiệnđại
2.1 Sự hoàn thiện của luật La Mã
Khi nghiên cứu về trình độ phát triển của luật La Mã, Các Mác đã đánh giá rất caonền pháp luật này nhất là từ thời lì cộng hòa hậu ký trở đi Theo ông những người
La Mã là những người đầu tiên khởi xướng ra luật tư hữu,luật trừu tượng,tư pháp
và luật dân sự của nó đạt đển trình độ mang tính chất cổ điển
Luật La Mã phát triển rực rỡ ở nhiều phương diện:
- Phạm vi điều chỉnh của luật La Mã: rất rộng và sâu Hầu hết các quan hệ xã
hội lúc bấy giờ đã được luật hóa Không những nó bao gồm những quyphạm liên quan đến tổ chức và hoạt động của nhà nước (công pháp) mà còn
cả những quy phạm liên quan đến cá nhân như về sở hữu,hôn nhân và giađình,hợp đồng, thừa kế(tư pháp) ,ví dụ nhưu các quy định về quốc tịch LaMã,danh dự,uy tín,xác định quyền công dân cho đứa trẻ khi sinh ra,… Cácquan hệ xã hội đó được pháp luật điều chỉnh một cách tỉ mỉ và cụ thể Trongkhi đó ở các bộ luật cổ đại khác như Hammurabi hầu nhưu các quy định chỉliên quan đến tài sản,các quan hệ nhân thân hầu như không có,chỉ có một số
ít trong chế định hôn nhân và gia đình :
- Chủ thể của Luật La Mã: Chủ thể của luật dân sự La Mã không đơn thuần
chỉ có cá nhân mà còn có các tổ chức mang dấu hiệu pháp nhân Ngay từđầu, luật La Mã đã công nhận quyền cho một nhóm người(corporation) đốivới một tài sản (quỹ, ) như huyện,thuộc địa (từ thời Cộng hòa),các hiệp hộikinh tế (soladitates) (thời principat),các nhà thờ (accedesiae) (vào thwoifcông giáo) và các tổ chứcc thông qua hành vi của người đại diện Luật La Mãquy định rõ rằng quyền gắn với tài sản không thuộc về các thành viên màthuộc về chính tổ chức đó Mặc dù thời đó luật La Mã chưa định nghĩa kháiniệm pháp nhân song kinh nghiệm về tổ chức hình thái trên đã làm nền tảngcho lý thuyết về pháp nhân sau này của luật học hiện đại Về chủ thể là cánhân ở luật La Mã đã có sự quy định về độ tuổi có năng lực hành vi toànphần,được phép tham gia vào các giao dịch dân sự (nam trên 14 tuổi,nữ trên
Trang 1012 tuổi),đây là điểm khá tiến bộ thể hiện trình độ làm luật khá cao củangười La Mã so với người cổ đại đương thời.
- Sự hoàn thiện của luật La Mã còn được thể hiện rõ nét trong từng chế định luật:
Trước tiên trong chế định về quyền sở hữu: đây là chế định rất tiến bộ ,giốngvới pháp luật ngày nay.Bộ luật Manu của Ấn Độ cũng đã đưa ra chế định vềquyền sở hữu tuy nhiên chưa đưa ra khái niệm pháp lí cụ thể thế nào là quyền
sở hữu.Trong khi đó pháp luật La Mã đã đưa ra khái niệm khá chính xác vềquyền sở hữu,theo đó quyền sở hữu bao gồm cả quyền chiếm hữu,sử dụng,địnhđoạt tuyệt đối tài sản đó Như vậy quyền sở hữu dưới thời La Mã được mô tảnhư một quyền đầy đủ nhất về vật Tuy nhiên chủ sở hữu cũng bị giới hạn cácquyền của mình do nhiều nguyên nhân khác nhau như tập quán pháp (chủ vật
có thể bị phạt tiền nếu không chăm lo cho vật tử tế hoặc phung phí tàisản),quyền của các chủ sở hữu liền kề và công pháp ( thí dụ như các đạo luậtvề xây dựng,vệ sinh công cộng,giao thông công chánh,thuế…) Cùng với thờigian người ta còn công nhận các giới hạn quyền sở hữu bới chính chủ sở hữutrên cơ sở là các giao dịch dân sự Như vậy quyền sở hữu là một quyền khámềm dẻo,những qui định về quyền sở hữu vẫn được các nhà làm luật hiện nay
kế thừa và phát triển
Ở chế định hợp đồng và trái vụ : Như đã trình bày ở phần 1.1.2.2,theo tinhthần của bộ luật La Mã , để hợp đồng có hiệu lực phải có 2 điều kiện : hợp đồngphải có do sự thỏa thuận của 2 bên , không được lừa đối , không được dùng vũlực và hợp đồng phải phù hợp với qui định của luật pháp Chính sự hoàn thiệnnày mà bộ luật dân sự 2005 của nước ta đã tiếp thu và đưa vào nguyên tắcchung của bộ luật dân sự ,đặc biệt nguyên tắc tự do , tự nguyện cam kết lànguyên tắc chủ đạo cũng từ bộ luật La Mã mà ra.Bên cạnh đó thì thời kì nàycòn chia ra các loại hợp đồng : hợp đồng thực tại và hợp đồng ưng thuận ; quiđịnh thời điểm phát sinh và nghĩa vụ của các loại đồng mà các bộ luật trước đókhông có, cách phân chia như vậy rất rõ ràng , chi tiết mà nhiều nước đã họchỏi , đặc biệt là hợp đồng ưng thuận và hợp đồng vay-mượn
Khi hợp đồng ra đời thì sẽ có sự vi phạm hợp đồng, trái vụ xuất hiện Các biệnpháp để đảm bảo trái vụ là cầm cố - xuất hiện hợp đồng cầm cố ,sự bảo lãnh củangười trung gian Ngoài biện pháp luật La Mã còn qui định điều kiện để trái vụ bịđình chỉ , trong đó có điều kiện : hết thời hiệu đưa đưa đơn kiện , người mắc nợ
Trang 11gặp phải thiên tai dịch họa không thể cưỡng lại được Đây là những điểm rất tiến
bộ , từ thời này đã xuất hiện thời hạn , thời hiệu và chấp nhận yếu tố khách quantác động vào hợp đồng , hiện nay phần thời hạn , thời hiệu trong luật dân sự ViệtNam và nhiều nước dường như chỉ bổ sung thêm chứ chưa có sự tiến bộ nào vượtbậc , điều này càng chứng tỏ trình độ lập pháp của các nhà là luât thời bấy giờ khácao
Chế định về thừa kế: Trong luật La Mã , đã có sự phân chia về hình thức thừa kế: thừa kế theo luật và thừa thừa kế theo di chúc Trong chế định này , các nhà làmluật đã nêu định nghĩa pháp lý về sự thừa kế theo luật và theo di chúc , bên cạnh đócòn phân định rõ : khi nào được thừa kế theo luật , khi nào được quyền khiếu kiệnvề vấn đề thừa kế.Chính có sự phân chia này mà quyền phân chia tài sản của ngườilập di chúc bị hạn chế Luật La Mã còn qui định diện và hàng thừa kế tài sản theoquan hệ huyết thống trong sáu đời của người để lại di sản Hai điểm vừa nêu lên làhai điểm khá mới và rất tến bộ, trong chế định thừa kế có nhiều sự thay đổi vàđược qui định khá chi tiết so với những bộ luật trước đó Chính trong chế địnhthừa kế , sự hoàn thiện của bộ luật càng được thể hiện rõ nét
Chế định về hôn nhân và gia đình: Luật La Mã coi hôn nhân và gia đình như mộtkhái niệm xã hội,tập quán hơn là khái niệm pháp luật Theo luật La Mã :”Hôn nhân
là sự liên minh suốt đời giữa người đàn ông và người đàn bà cùng chung nhữngquyền của con người và thượng đế” Luật La Mã đã quy định chế độ hôn nhân mộtvợ một chồng,cơ sở là sự tự nguyện đồng ý của hai người; về hình thức kết hôn và
ly hôn,người la Mã đã cho phép người phụ nữ được quyền xin ly hôn và được nhậnlại hồi môn nếu được tòa án thừa nhận Những quy định này rất tiến bộ và mangtính nhân văn sâu sắc,bước đầu tạo sự bình đẳng,tự nguyện trong hôn nhân,bảo vệquyềm lợi của người phụ nữ Trong chế định hôn nhân và gia đình này luật La mãcũng quy định khá đầy đủ,chi tiết về điều kiện kết hôn (là công dân La Mã,được
sự đồng ý của hai bên gia đình,đúng độ tuổi quy đinh,hôn nhân tự nguyện) ; vềquan hệ nhân thân (vợ chồng phải có nhĩa vụ kính trọng nhau,tội ngoại tình có thể
bị xử tù );về quan hệ tài sản ( tài sản vợ và của chồng là riêng biệt,mọi chi phítrong thời gian sống chung do chồng gánh vác,…),quy định cụ thể về quyền vànghĩa vụ của người gia trưởng và của cả những người phụ thuộc, quan hệ cha mẹcon cái,vấn đề con nuôi, Đến thời kì cộng hòa pháp luật cũng đã hạn chế bớtquyền lực của người cha,người chồng,người cha không có quyền bán con,giết trẻ
em là một tội nặng
Trang 12Luật La Mã cũng đưa ra những chế định về luật hình,tuy nhiên những đạo luậtnày chủ yếu điều chỉnh những quan hệ chính tri,hình phạt mang tính chất độcđoán,cách xét xử mang yếu tố chủ quan của thẩm phán.
Về tòa án và trình tự tố tụng :Trong chế định tố tụng có sự qui định về chức năngcủa quan tòa , tài phán và điều kiện để được làm quan tòa , tài phán Tùy theo từng
vụ án mà bổ nhiệm số lượng thẩm phán theo cách rút thăm,đi đến quyết định cácvấn đề trong vụ án bằng bỏ phiếu Đây là hình thức hết sức tiến bộ và công bằngTheo luật 12 bảng có một qui định mới trong trình tự xét xử: những người già cả,ốm yếu không đi lai được bằng các phương tiện thì không phải xuất hiện trước tòa,thể hiện tính nhân văn trong bộ luật , trong xét xử quan tòa không xét xử tùy tiện
mà dựa vào nhân chứng và chứng cứ , xem chứng cứ là chân lý để xem xét
-Về mặt kỹ thuật lập pháp:lời văn trong các văn bản rõ ràng,chuẩn xác,trong sáng.
Đặt biệt các nhà làm luật La Mã rất chú trọng đến nêu các định nghĩa khái niêmpháp lí và nêu ra một cách khá chuẩn xác,đưa ra đầy đủ các yếu tố của quy phạmpháp luật…
Các luật gia La Mã coi luật như một khái niệm rất rộng,bao gồm luậtthực định(iusfas),nguyên tắc công lý(iustitia) hay công bằng(aequitas) Luật La Mã đã đưa ra định nghĩa về luật :” luật là nghệthuật áp dụng những điều gì đúng và hợp lý” (D1.1.1 preius est arsboni acqui) ,và cả định nghĩa về khoa học về luật pháp,đó là “ sự tìmhiểu về những vấn đề của con người và thượng đế là kiến thức vềnhững gì đúng và hợp lí (D.1.1.10.2 iuris prudential ét divinarumatque humana rum rerumm notitia,iusti atque inusti scentia)
Luật La Mã đã có sự phân loại theo công pháp (ius publicum) và tưpháp(ius privatum) ngay từ đầu thời cộng hòa, Theo đó luật công lànhững qui phạm điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động nhà nước LaMã,còn luật tư là luật quan hệ đến lợi ích của từng cá nhân ,gia đình
và tài sản Việc phân chia này cho thấy trình độ lập pháp của các nhàlàm luật La Mã rất cao:về lý luận, việc phân chia này sẽ giúp xâydựng và đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ của cả hệ thống pháp luật Về thực tế, việc xác định ranh giới giữa luật công và luật tư đem lạihiệu quả thiết thực đối với cả ba hoạt động xây dựng pháp luật, ápdụng pháp luật và hoạt động xét xử Đối với hoạt động xây dựng
Trang 13pháp luật, việc phân chia ranh giới giữa luật công và luật tư sẽ giúpcác nhà làm luật xác định được vấn đề nào cần phải điều chỉnh, điềuchỉnh bằng phương pháp gì, mức độ điều chỉnh ra sao thì phù hợp Đối với hoạt động áp dụng pháp luật, khi đã xác định được vấn đềnào thuộc luật công, vấn đề nào thuộc luật tư, việc vận dụng quiphạm pháp luật để giải quyết cho phù hợp cho từng trường hợp cũngnhư việc xác định hậu quả pháp lý sẽ trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn.Chủ thể áp dụng pháp luật có thể xác định được nguyên tắc, biệnpháp hay công cụ nào được sử dụng Điều này đã được các nhà lậppháp thời kì sau học hỏi tiếp thu hiệu quả.
Bộ luật La Mã cũng đưa ra những khái niệm pháp lí cụ thể cho từngchế định như: theo luật La Mã quyền sở hữu là quyền chiếm hữu,sửdụng,định đoạt tuyệt đối với tài sản đó (giáo trình “ Lịch sử nhà nước
và pháp luật thế giới-ths Phan Trọng Hòa),khái niệm này khá giốngvới hiện nay ‘ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,quyền sửudụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định củapháp luật” (BLDS Việt Nam năm 2005) Các nhà làm luật cũng đưa
ra hàng loạt khái niệm pháp lí khác như:khái niệm chiếm hữu, disản,hợp đồng,trái vụ,tài sản,động sản,bất động sản,hoa lợi,lợi tức,…2.2 ảnh hưởng
2.2.1 Ảnh hưởng của luật La Mã với dòng họ pháp luật Common Law
2.2.1.1 Sơ lược về dòng họ pháp luật Common Law
Dòng họ Common Law hay còn gọi là dòng họ pháp luật Anh - Mỹ là pháp luật rađời ở Anh, sau này phát triển ở Mĩ và những nước là thuộc địa của Anh, Mĩ trướcđây Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ những tập quán (custom), hay cònđược gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thống pháp luật coi trọng tiền lệ(precedents/ judge made law)
Common Law hiện nay cần phải được hiểu theo 3 nghĩa khác nhau:
- Thứ nhất, đó là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới dựa trên truyền
thống hệ thống pháp luật của Anh;
Trang 14- Thứ hai, trên phương diện nguồn luật, án lệ (Case law) của Common Law
được tạo ra bởi tòa án, phân biệt với đạo luật của Nghị viên;
- Thứ ba, trên phương diện hệ thống Tòa án, Tòa án và các án lệ của Common
Law cũng khác biệt với Tòa án và các án lệ của Equity Law
Về lịch sử hình thành
Nguồn gốc của hệ thống luật này bắt đầu từ năm 1066 khi người Normansxâm chiếm Anh quốc và Hoàng Đế William bắt đầu tập trung quyền lực vào tay
triều đình mới Thuật ngữ luật chung (Common Law) xuất phát từ quan điểm cho
rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung (Common Custom)của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở cácmiền hay ở các tòa án của điền trang, thái ấp phong kiến
Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án đượcvua Henry II (1133 - 1189) thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) đểxét xử các tranh chấp về thuế; Tòa án thỉnh cầu phổ thông (Court of CommonPleas) đối với những vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua;
và Tòa án Hoàng Đế (Court of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liênquan trực tiếp đến quyền lợi của Hoàng gia
Thực chất, trước đó dưới thời của Hoàng đế William, những tập quán của Anh
ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Đức ở Châu Âu lục địa Tòa án lúc đó lànhững người dân được triệu tập để cùng giải quyết tranh chấp và nếu không xử
được người ta dùng phương pháp thử tội (ordeal) bằng việc bắt bị cáo cầm vào một
miếng sắt nung đỏ, hoặc cầm một viên đá đã được ngâm trong nước sôi, hoặc hìnhthức thề độc Nếu vết thương đó lành sau một thời gian xác định, anh ta sẽ bị tuyên
là vô tội và ngược lại
Năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ tòa án
Trang 15Hoàng gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân đôn và thảo luận về những vụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ (precedent), hay theo Tiếng Latin là stare decisis.
Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từtrước đó Thuật ngữ “Common Law” bắt đầu xuất hiện từ thời điểm đó Như vậytrước khi Nghị viện ra đời trong lịch sử pháp luật của Anh, Common Law đã được
áp dụng trên toàn bộ vương quốc trong vài thế kỉ
Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi luật
“Common Law” không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằngcách giải quyết của Common Law là chưa thỏa đáng Thí dụ, trong một vụ kiện vềđất đai, người đi kiện cho rằng khoản tiền bồi thường mà theo cách giải quyết củaCommon law là không đủ bồi thường cho hành vi mà người xâm phạm đã cướpkhông của họ, họ yêu cầu rằng người vi phạm này còn phải bị đuổi và phải trả lại
phần đất lấn chiếm đó Chính điều này là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ
thống pháp luật công bình (system of equity), đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa
công bình, do viên Tổng chưởng lý (Lord Chancellor) đứng đầu Về bản chất thìluật công bình vẫn chiếm ưu thế hơn so với luật Common Law trong trường hợp có
sự xung đột Điều này đã được nêu trong Đạo luật hệ thống tư pháp (JudicatureActs) năm 1873 và 1875
Ngày nay bên cạnh án lệ với tư cách là một loại nguồn pháp luật đặc thù của
hệ thống Common Law, luật thành văn và các loại qui tắc khác cũng được coi làmột bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này Khi xét xử những nước theo hệ
thống pháp luật Common Law thường căn cứ vào hai câu hỏi lớn, đó là câu hỏi sự thật khách quan (question of fact) và câu hỏi về luật - theo nghĩa rộng (question of
law) Trong bất cứ vụ việc nào, ngày nay khi xét xử các thẩm phán của CommonLaw vẫn dựa cả vào án lệ, luật viết và những căn cứ thực tế để xét xử