Ngoài ra, còn có nhiều phong trào đấu tranh khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục1907; phong trào Tẩy chay Khách trú1919; phong trào chống độc quyền xuất khẩu ở cảng Sài Gòn1923; đấu
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chương I:
SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH
TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
mẽ Những phong trào tiêu biểu trong thời kỳ này là:
- Phong trào Cần Vương(1885 - 1896):
Phong trào đấu tranh vũ trang Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, đã mở cuộc tấn công vào trại lính Pháp tại kinh thành Huế(1885) nhưng thất bại
Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy trốn ra Tân Sở(Quảng Trị) và ngày 13/7/1885 hạ chiếu “Cần Vương”, sau đó vua Hàm Nghi bị bắt nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển mạnh mẽ nhất ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với các cuộc khởi tiêu biểu như:
• Khởi nghĩa Ba Đình (1881 - 1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng
• Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) của Nguyễn Thiện Thuật
• Khởi nghĩa Hương Khuê (1885 - 1895) của Phan Đình Phùng
Trang 2Tuy nhiên tất cả các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại, năm 1896 phong trào yêu nước Cần Vương chấm dứt.
- Khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) 1884 – 1913:
Đây là cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng Pháp nhiều trận, gây cho chúng nhiều thiệt hại, nhưng cuộc khởi nghĩa này còn nhiều hạn chế nên nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp, dập tắt, năm 1913 cuộc khởi nghĩa chấm dứt
Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam
Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa trên, đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản
diễn ra sôi nổi Về mặt phương pháp có sự phân hóa thành hai xu hướng là bạo
động và cải cách.
- Đại diện cho xu hướng bạo động là Phan Bội Châu với phong trào Đông Du.
Ông dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài (chủ yếu là Nhật Bản) để đánh đuổi thực dân Pháp Ông cử người sang Nhật Bản để học hỏi, nhờ Nhật Bản giúp đỡ
Vì Nhật Bản thắng Nga trong chiến tranh để quốc Nhưng ông quên rằng Nhật Bản cũng là một nước đế quốc, cũng xâm lược Nên đến 1908 phong trào kết thúc
- Đại diện cho xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh với mục đích thực hiện
khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền, phản đối đấu tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài Ông cho mở trường học để dân nắm bắt được kiến thức nhưng không hiệu quả vì làm sao Pháp để yên được nên thất bại
Ngoài ra, còn có nhiều phong trào đấu tranh khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục(1907); phong trào Tẩy chay Khách trú(1919); phong trào chống độc quyền xuất khẩu ở cảng Sài Gòn(1923); đấu tranh trong các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố…đòi cải cách tự do dân chủ,…
Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp tư sản trong tiến trình cách
Trang 3mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.
Các phong trào theo xu hướng phong kiến và tư sản đều thất bại là do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, lẻ tẻ không liên kết; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là hai lực lượng xãhội cơ bản (nông dân và công nhân); đấu tranh công khai trong khi lực lượng còn yếu nên cuối cùng đã không thành công Sự thất bại này đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công
Mặc dù thất bại nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có ý nghĩa rất quan trọng Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, là những tấm gương cho các thế hệ sau noi theo, tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiếp thu chủ nghĩa Mac – Leenin, quan điểm cách mạng Hồ Chí Minh và trở thành một trong ba nhân
tố dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Câu 2:
Quá trình tìm đường cứu nước và những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 20 của thế kỷ XX
Trả lời:
1. Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám,… nhưng Người nhận ra những hạn chế của nó nên không đồng ý đi theo con đường của một người nào Vì Người cho rằng như Phan Bội Châu khác nào “Đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”, như Phan Châu Trinh khác nào “Xin Pháp rủ lòng thương” Nên Người quyết định đi tìm một con đường cứu nước khác
Trang 4Ngày 5-6-1911 tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm được cứu nước
Nhưng tại sao Người chọn phương Tây là điểm đến đầu tiên? Câu trả lời được tìm thấy ngay trong lời kể của Người: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe
ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau ba chữ ấy” Hơn nữa nơi đây có nên khoa học – kỹ thuật phát triển và có các cuộc cách mạng tư sản lớn, thành công như ở Pháp(1789), Mỹ(1776),…Vì thế, Người muốn đến tận hang ổ của kẻ xâm lược để xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào
Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo khổ Nguyễn Tất Thành nói với người bạn “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?”
Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu
Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở lại Pháp
Cuộc hành trình gần mười năm đã đưa Nguyễn Tất Thành đến nhiều vùng đất thuộc châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ những chuyến đi đã giúp Người có cơhội được quan sát, nhận biết sâu sắc diện mạo của thế giới tư bản chủ nghĩa Người
đã tiến hành khảo sát các cuộc cách mạng trên thế giới nhận thức rõ những hạn chếcủa cách mạng tư sản là cách mạng không đến nơi, mang tiếng cộng hòa và dân chủ nhưng kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa
Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân Chúng ta đã hy sinh làm cách mạngthì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mạng rồi thì quyền giao cho dânchúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc
Cuối năm 1917 cách mạng tháng 10 Nga thành công
Trang 5Nước Nga có chuyện là đờiBiến người nô lệ thành người tự do.
Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lenin Người coi đây là cái cẩm nang giải phóng cho dân tộc Việt Nam: “ Bản Luận cương đã làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mac – Lenin, Người đã tìm thấy cho dân tộc mình một chủ nghĩa “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”, đóng vai trò nền tảng tư tưởng, công cụ để nhận thức và giải quyết những vấn đề xã hội hiện thực
Đầu 1919 Người gia nhập Đảng xã hội Pháp
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, năm 1919, các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Vecxay để phân chia quyền lợi Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị bản 8 Yêu sách của nhân dân
An Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng dân tộc của Việt Nam Đồng thời Người cũng mong nhận được sự ủng
hộ của các nước Đồng minh Bản Yêu sách không được chấp nhận, điều đó càng giúp Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm”, đi ngược lại những giá trị mà nó tuyên bố, ghi nhận Người cũng đi tới kết luận: các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức của bản thân mình.12/1920 Người tham gia Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp Người bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III do Lenin lãnh đạo và đổi tên thành Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – từ người yêu nước trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Trang 6Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô) Ở đó, Người có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác – Lênin để phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc.
Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
2. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 20 của thế kỉ XX
Quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thể hiện ở các điểm chính sau:
• Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản Vì chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, phục vụ lợi ích của đại đa số dân chúng
• Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa xã hội, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc
và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau
• Về lực lượng cách mạng, công nông là chủ cách mạng, là gốc của cách mệnh Cách mệnh là sự nghiệp chung của toàn dân tộc chứ không phải là việc của một hai người Do đó phải đoàn kết toàn dân tộc
o Phương châm chiến lược là đánh lâu dài, coi trọng sự giúp đỡ của quốc tế, đề cao tinh thần độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính
• Đoàn kết quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mạng trên thế giới là đồng chí của Việt Nam Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại khẩu hiệu của Quốc tế
Trang 7thứ ba “giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại” Trong quan hệ giữa cách mạng nước ta với bầu bạn thế giới, Nguyễn Ái Quốc chú ý hai điều:
o Muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã
o Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo
và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc nên không ỷ lại, chờ đợi thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản
• Đảng Cộng sản: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi thì phải có Đảng lãnh đạo Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mac – Lenin
Câu 3:
Tính độc lập tự chủ và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mac – Lenin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trong quá trình thành lập Đảng
Trả lời:
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng
vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
C.Mác nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong điều kiện tự do cạnh tranh cho rằng: Cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển Kế thừa và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác trong thời đại chủ nghĩa đế quốc chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin khẳng định: Cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậmchí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc Thời V.I.Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản và ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa Trên góc độ của người thuộc địa, dân tộc bị áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản
Tuy nhiên, cuộc cách mạng vô sản ở đây không phải chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp mà là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân một phạm trù của cách mạng vô sản Bởi vì mâu thuẫn chủ yếu
Trang 8của Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẩn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam Đây chính là sự vận dụng một cách tài tình, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cách mạng Việt Nam.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc đề ra đường lối của cách mạng Việt Nam.
Ngay trong Cương lĩnh 1930 do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo đã khẳng định: Làm tư sản dân quyền, cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản Điều đó có nghĩa là sau khi làm xong tư sản dân quyền cách mạng đánh đổ thực dân Pháp xâm lược đem lại độc lập dân tộc Làm thổ địa cách mạng là đánh đổ bọn phong kiến, địa chủ đem lại ruộng đất cho dân cày Đi lên CNXH tức là đi vào giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Đây là điều hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lýluận về cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc đề ra đường lối của cách mạng Việt Nam
Nó cũng thể hiện tính độc lập tự chủ của Hồ Chí Minh Vì quan điểm của Người ngược với quan điểm của Quốc tế cộng sản tại Đại hội V: Quốc tế cộng sản xem vấn đề giai cấp là quan trọng nhất…
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn tình hình của cách mạng Việt Nam.
Sau khi Công xã Pari thất bại mà nguyên nhân chính là chưa thực hiện tốt liên minh công - nông, C.Mác từng khẳng định: Cách mạng vô sản là bài đồng ca của hai giai cấp công nhân và nông dân
Ngay cả trong chuyên chính vô sản, V.I.Lênin khẳng định: "Chuyên chính vôsản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, độitiên phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao độngkhông phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức, v.v.)”
Trong một nước nông nghiệp đại đa số dân cư là nông dân thì vấn đề giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân là điều tất yếu V.I.Lênin đặc biệt lưu ý khối liên minh công, nông trong các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa
xã hội: "Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữagiai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh
Trang 9đạo và chính quyền nhà nước" Qua khối liên minh này, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nông dân, công nhân được tập hợp về mục tiêu chung là xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của toàn thể dân tộc Đây là điều kiện
để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo, đó chính là tính tất yếu về mặt chính trị - xã hội, là yếu tố tiên quyết
Vận dụng tư tưởng trên của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, trong tác phẩm Đường Cách Mệnh (viết năm 1927) cũng như việc soạn thảo
Cương lĩnh năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định: Công - nông
là gốc của cách mạng, trí thức, học trò là bầu bạn của cách mạng
Đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam dù trong đấu tranh giành độclập dân tộc hay trong xây dựng và bảo vệ CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì liên minh công - nông - trí thức là nhân tố đóng vai trò quyết định Điều đó đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng liên minh công - nôngcủa chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn tình hình của cách mạng Việt Nam
4. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về vấn đề xây dựng đảng cầm quyền của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong Di chúc của Người, khi nói về Ðảng, một lần nữa khẳng định: “Ðảng
ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày
tớ thật trung thành của nhân dân”
Theo tư tưởng của Bác Hồ và Ðảng ta từ trước đến nay, khái niệm Ðảng
“nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Ðảng lãnh đạo chínhquyền
Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Người nhấn mạnh: “Ðảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”
Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Ðảng (nói chung) và cán bộ, đảng viên (nói riêng) “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” Muốn vậy, Ðảng và cán bộ, đảng viên
Trang 10phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.
Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Ðảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Ðảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đày tớ của nhân dân”
Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng
về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Ðảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”
1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939 - 1945) Đó là quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn gian khổ vớinhững hy sinh to lớn của Đảng và dân tộc ta Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến không ngừng được bổ sung và làm rõ hơn, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vận dụng đúng đắn và có
sự phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng thuộc địa
1. Trong những năm 1930 – 1935
a. Luận cương chính trị tháng 10 – 1930 (7 nội dung)
- Mâu thuẫn giai cấp ở Đông Dương:
Trang 11Thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với địa chủ phong kiến và tư bản
đế quốc
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương:
Lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng Sau khi tư sản dân quyền thắng lợi sẽtiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn, đấu tranh thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa
- Nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền:
+ Đánh đổ phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để
+ Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít và tác động lẫn nhau Nhưng vấn đề thuộc là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền
- Lực lượng cách mạng:
+ Giai cấp vô sản vừa là động lực chính vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng.+ Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và động lực mạnh của cách mạng.+ Chỉ có các phần tử phần tử lao khổ mới đi theo cách mạng
Không nhìn nhận được mặt tích cực của giai cấp tư sản và tiểu tư sản
- Phương pháp cách mạng:
Để đạt được mục tiêu cơ bản của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải chuẩn bị cho quần chúng con đường “võ trang bạo động”, “tuân theo khuôn phép nhà binh”
- Quan hệ với cách mạng thế giới:
Là một bộ phận của cách mạng thế giới nên phải:
+ Đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp.+ Liên hệ mật thiết với lực lượng cách mạng các nước thuộc địa
- Vai trò lãnh đạo của Đảng:
+ Là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi cách mạng
+ Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật nghiêm minh, liên
hệ mật thiết với quần chúng
+ Lấy chủ nghĩa Mac – Lenin làm nên tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10 – 1930 không chấp nhận với những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái Quốc được nêu trong Cương Lĩnh đầu tiên của Đảng Ngày 18 – 11 – 1930, Ban thường
vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, nêu lên
tư tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng coi đoàn kết toàn dân tộcthành một lực lượng rộng rãi, lấy công nông làm hai động lực chính, là nhân
Trang 12tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, phê phán sai lầm trong Đảng đã tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, nhận thức không đúng về vấn đề đoàn kết dân tộc.
b. Cao trào 1930 – 1931
Vừa mới ra đời, Đảng đã phát động được một phong trào cách mạng rộng lớn khắp cả Bắc, Trung, Nam, mà đỉnh cao là Xoviet Nghệ - Tĩnh Phong trào đem lại cho quần chúng niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng.Hòng dập tắt phong trào và tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương, thực dân Pháp và tay sai đã đàn áp thẳng tay Các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương và trung ương lần lượt bị phá vỡ, quần chúng bị giết hại
Sự khủng bố của kẻ thù không làm cho chiến sĩ cách mạng và quần chúng từ
bỏ con đường cách mạng Trong bối cảnh đó, một số cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân vẫn nổ ra, nhiều chi bộ Đảng trong nhà tù vẫn được thành lập, hệ thống tổ chức Đảng từng bước được phục hồi
Năm 1932, Quốc tế Cộng sản cử Lê Hồng Phong về hoạt động và đưa ra
“Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương” để xây dựng vàcũng cố lực lượng Với 4 yêu cầu cơ bản:
+ Đòi các quyền tự do ngôn luận, đi lại trong nước và ra nước ngoài
+ Bỏ thuế vô lí (thuế thân,…)
+ Bỏ độc quyền sản phẩm như muối, rượu,…
Tháng 3 – 1935 Đại hội đại biểu lần I của Đảng cộng sản Đông Dương đã đề
ra 3 nhiệm vụ trước mắt là: cũng cố và phát triển Đảng; đẩy mạnh công cuộc
Trang 13vận động và thu phục quần chúng; mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chiến tranh, ủng hộ Liên Xô,…Thành công của Đại hội đã khẳng định hệ thống tổ chức Đảng được khôi phục, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Đông Dương.
2. Trong những năm 1936 – 1939
a. Hoàn cảnh lịch sử
- Khủng hoảng kinh tế trong những năm 1929 – 1933 làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt, phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao
- Sự ra đời của chủ nghĩa phát xít và thắng thế ở một số nơi nên muốn chia lại thị phần thế giới, muốn gây chiến tranh thế giới
- Ở Châu Âu các quốc gia phương Tây đặt vấn đề dân tộc cao hơn mâu thuẫn giai cấp, ảnh hưởng đến quyết định của Quốc tế cộng sản Tại Đại hội VII của Quốc tế cộng sản xác định: Chống chủ nghĩa phát xít đưa lên hàng đầu Quốc tế cộng sản yêu cầu thiết lập một mặt trận nhân dân rộng rãi để liên kếtchống phát xít, chống đế quốc Nhìn nhận vai trò của tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ, tiểu tư sản,…lực lượng cách mạng là toàn thể dân tộc
- Đầu năm 1935, thông qua tổng tuyển cử, Mặt trận nhân dân Pháp nắm
quyền, nới lỏng hình luật nhân dân các nước thuộc địa, cho phép Đảng cộng sản ra hoạt động công khai
b. Chủ trương và nhận thức mới của Đảng
- Trước tình hình đó, Ban chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần II, III,
IV, V,…xác định đường lối và phương pháp đấu tranh trong gia đoạn mới
- Chủ trương: Đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh
- Kẻ thù trước mắt: Bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng
- Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng: Đấu tranh chống phát xít, chiến tranh, bọn phản động thuộc địa và tay sai đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình
- Tổ chức: Thành lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương
- Phương pháp đấu tranh: Công khai, nữa công khai, hợp pháp, nữa hợp pháp
- Đoàn kết quốc tế: Đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và Đảng cộng sản Pháp, ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp để cùng nhau chống lại kẻ thù chung là bọn phát xít và bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương
- Nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: Chung quanh vấn đề chiến sách mới 10 – 1936 nêu ra một quan điểm mới
“cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cách mạng điền địa” vấn đề nào quan trọng hơn thì giải quyết trước, chọn địch nhân chính,