1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

cơ sở lý luận của quản lý học thể dục thể thao

18 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay , hệ thống khoa học và công nghệ không ngừng phát triển , từ các mặt khác nhau đã chỉ rõ mối liên hệ về chất của thế giới vật chất và các quy luật vận động , chỉ rõ những con đư

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

I CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUẢN LÝ HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Mỗi bộ môn khoa học đều có một phương pháp nghiên cứu nhất định.Phương pháp nghiên cứu nói chung chia làm ba loại:

-Một là phương pháp triết học , nó phù hợp với phương pháp luận phổ biến nhất với mọi bộ môn khoa học

-Hai là phương pháp khoa học nói chung , nó phù hợp với phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Ngày nay , hệ thống khoa học và công nghệ không ngừng phát triển , từ các mặt khác nhau đã chỉ rõ mối liên hệ về chất của thế giới vật chất và các quy luật vận động , chỉ rõ những con đường và những phương pháp để phát triển khoa học công nghệ hiện đại , mở ra mối liên hệ giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Vì vậy , phương pháp khoa học hệ thống có chức năng khoa học chung , hình thành cơ sở phương pháp luận quan trọng cho khoa học hiện đại

-Ba là phương pháp khoa học chuyên ngành , nó là các phương pháp nghiên cứu cụ thể về khoa học ứng dụng trong các bộ môn khoa học chuyên ngành

1 Khái niệm về hệ thống và khoa học hệ thống

1.1 Hệ thống:

- Hệ thống là một chỉnh thể hữu cơ có chức năng đặc trưng riêng của nó do sự liên hệ lẫn nhau và tác động lẫn nhau giữa một số yếu tố tạo thành Ý nghĩa của nó là :

- Hệ thông do các yếu tố cấu thành Yếu tố là các bộ phận hợp thành hệ thống , là thực thể của hệ

Trang 2

thống Nếu tách riêng các yếu tố ấy ra thì hệ thống không tồn tại

- Hệ thống không phải là các yếu tố cộng lại với nhau một cách giản đơn , mà là các yếu tố hợp lại một cách hữu cơ thành một chỉnh thể thống nhất

- Hệ thống không tồn tại độc lâp , mỗi hệ thống đều bị một hệ thống lớn hơn chi phối Vì vậy , sự phân biệt giữa hệ thống và yếu tố chỉ là tương đối Mỗi hệ thống là một yếu tố của một hệ thống lớn hơn và được gọi là hệ thống con trong hệ thống lớn Mỗi hệ thống lớn cũng có thể gọi là hệ thống mẹ Mỗi hệ thống lại bị bao vây bởi một hệ thống khác , đồng thời bị hệ thống lớn chi phối , tức là hình thành điều kiện của hệ thống Hệ thống tồn tại do tác động lẫn nhau của các điều kiện , mặt khác lại giữ được tính độc lập tương đối , tác động tích cực vào điều kiện và cải tạo điều kiện

- Mỗi hệ thống lại có chức năng đặc thù của nó Tuy nhiên , loại hệ thống như vậy tồn tại rất nhiều , không những trong thế giới tự nhiên mà cả trong xã hội loài người , không những có tính phổ biến mà còn có tính cá biệt

1.2 Khoa học hệ thống :

Sau đại chiến thế giới lần thứ hai , khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ cao Một mặt các bộ môn khoa không ngừng phân hóa.Mặt khác, các bộ môn khoa học không ngừng xâm nhập vào nhau và đan chéo lẫn nhau , hướng theo sự tổng hợp hóa và chỉnh thể hóa.Lý thuyết hệ thống ,lý thuyết thông tin và lý thuyết điều khiển tiếp theo nhau ra đời Ưùng dụng rộng rãi các công trình hệ thống , máy tính diện tử cũng ra đời trong thời kỳ này đã biến thành một quần thể khoa học kỹ thuật Lý thuyết hệ thống, lý thuyết thông tin và lý thuyết điều khiển hợp thành hệ thống về lý luận và ngày nay đã có bước phát triển mới

Khoa học hệ thống nghiên cứu các quy luật về sự ra đời hoạt động và biến đổi của các hệ thống nhằm quản lý các hệ thống Đó là một khoa học mang tính tổng hợp , sử dụng kết quả nghien cứu của rất nhiều

Trang 3

nghành khoa học khác nhau như sinh học , lôgic học , toán học, tin học ,kinh tế học Khoa học hệ thống cho phép chúnh ta nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan theo một nhãn quan thống nhất Dù các hệ thống có vô cùng đa dạng và mang tính đơn nhất đi chăng nữa , chúng đều dược cấu thành từ các phần tử , đều tồn tại trong môi trường , có mục tiêu , chức năng và cơ cấu v.v Mọi hoạt động của các hệ thống đều liên quan đến quá trình thông tin Để quản lý các hệ thống , mọi chủ thể quản lý đều phải tuân thủ những nguyên lý chung ,có thể sử dụng những phương pháp chung Đó chính là cơ sở vững chắc cho các nhà quản lý để họ có thể tiép cận và quản lý thành công những tổ chức riêng biệt

Quan điểm nghiên cứu của khoa học hệ thống đòi hỏi :

- Khi nghiên cứu các sự vật hiện tượng phải tôn trọng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần

Điều này là đặc biệt quan trọng đối với quản lý các tổ chức Để tồn tại ,con người trức tiên phải được đảm bảo những yếu tố vật chất nhất định , như cái ăn , cái mặc , nơi ở và quyền sở hữu cá nhân Khi những nhu cầu vật chất đã được thoả mãn tới một mức độ nhất dịnh , thì ở con người nhu cầu tinh thần như : được công nhận , được tôn trọng , được tự khẳng định …sẽ phát triển mạnh mẽ Các nhà quản lý thành công lànhững người biết kết hợp hai yếu tố vật chất và tinh thần một cách có hiẹu quả

- Các sự vật hiện tượng luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau

Các bộ bộ phận , các phần tử tạo nên tổ chức liên hệ với nhau bằng vô vàn mối liên hệ khác nhau , trực tiếp hoặc gián tiếp Chính những mối liên hệ này làm cho sự thay đổi trong một bộ phận có thể gây nên sự thay đổi ở các bộ phận khác và cả hệ thống

Một hệ thống , đặc biệt là tổ chức không thể tồn tại hoàn toàn độc lập Nó luôn tồn tại trong môi trường Môi trường tác động lên tổ chức và ngược lại , tổ

Trang 4

chức cũng tác động lên môi trường , góp phần thay đổi môi trường Điều đó đòi hỏi phải xem xét tổ chức trong tổng thể các yếu tố tác động lên nó , tức là trong môi trừờng

Trong các mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng , nhà quản lý cần đặc biệt chú ý đến mối quan hệ nhân quả - “ nhân nào quả nấy “ Quy luật này đòi hỏi các nhà quản lý khi giải quyết vấn đề phải tìm cách hiểu được nguyên nhân của vấn đề , cũng như thày thuốc muốn chữa bệnh phải hiểu thấu đáo nguyên nhân gây bệnh Đồng thời trước khi ra quyết định nhà quản lý đã phải lường trước được những hậu quả có thể của quyết định trong tương lai

- Các sự vật không ngừng biến đổi

Ngày nay chúng ta đều đã coi sự thay đổi như là một quy luật hiển nhiên Mọi con người , tổ chức và cả thế giới đều được sinh ra , vận động và biến đổi không ngừng Nhiệm vụ của các nhà quản lý là tìm hiểu logic của những sự thay đổi , hiểu được và quản lý được những sự thay đổi đó ở những cấp độ khác nhau

- Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các hệ thống nằm bên trong hệ thống

Cái gì quyết định sự phát triển của một cá nhân , một tổ chức , một đất nước ? Trong thế giới của xu hướng liên kết , hội nhập và toàn cầu hoá , môi trường có vai trò ngày càng quan trọng đối với các hệ thống Tuy nhiên muốn sử dụng được các cơ hội do môi trường đem lại , các nhà quản lý trước tiên phải phát hiện và phát huy được thế mạnh của nội lực Khi nghiên cứu cơ hội của toàn cầu hoá đối với những nước đang phát triển các chuyên gia cũng đã khẳng định “ toàn cầu hoá phải bắt đầu từ trong nước “

2 Cấu trúc và chức năng của hệ thống :

2.1 Cấu trúc của hệ thống :

Như trên đã nêu , hệ thống không phải do các yếu tố kết hợp với nhau một cách giản đơn , mà các yếu tố sắp xếp theo một qui tắc nhắt định thành một

Trang 5

chỉnh thể hữu cơ Hình thức hợp lại của các hệ thống chính là cấu trúc của hệ thống

Tính chất của hệ thống không những do yếu tố quyết định mà còn do cấu trúc quyết định Ví như đá kim cưong và grafit đều do loại nguyên tử cacbon tạo thành ,nhưng do cách sắp xếp nguyên tử khác nhau , nên tính chất vật lý khác nhau Các phân tử của đá kim cương kết cấu chắc chắn nên rất cứng , còn các phân tử của grafit có cấu trúc lỏng lẻo nên mềm VÍ như hai đơn

vị có điều kiện gần giống nhau , nhưng do kết cấu tổ chức , như cơ cấu lãnh đạo, con người, vật chất , thời gian , các điều kiện thông tin … khác nhau mà hiệu quả công việc cũng khác nhau Có thể thấy, cấu trúc của hệ thống qyuết định tính chất của hệ thống , cho nên trong một hệ thống , cấu trúc có vị trí quan trọng hơn yếu tố

Trong quá trình phát triển của hệ thống , yếu tố có tính động , còn cấu trúc có tính ổn định tương đối Từ đó làm cho hệ thống giữ đuợc tính ổn định và tính liên tục của chất lượng hệ thông.Ví như một cái máy , mặc dù qua nhiều lần sửa chữa , thay linh kiện , nhưng kết cấu của máy vẫn không thay đổi và tính năng của nó vẫn như cũ Như vậy có thể nói , hệ thống khống chế yếu tố thông qua kết cấu để thực hiện Những yếu tố đột phá vào sự khống chế của hệ thống , hệ thống sẽ phân giải , chuyển hoá , và thay đổi về chất của nó

Cần phải nhận rõ cấu trúc của hệ thống chia ra các cấp , cấp cao và cấp thấp Cấp cao do cấp thấp tạo nên Cấp cao lại chi phối cấp thấp , quyết định tính chất cua hệ thống Cấp thấp là cấu trúc cơ sở có tác dụng quan trọng đối với cấp cao và toàn bộ hệ thống

2.2 Chức năng của hệ thống :

Chức năng của hệ thống chỉ tác dụng hoặc phát huy được năng lực trong hoàn cảnh đặc biệt của hệ thống Mọi hệ thống đều có chức năng của nó

Chức năng và cấu trúc là hai mặt bổ sung và thừa kế lẫn nhau của hệ thống Chức năng và cấu trúc có mối quan hệ mật thiết với nhau Cấu trúc la kết cấu

Trang 6

nội tại của hệ thống , còn chức năng là hành vi bên ngoài của hệ thống Cấu trúc liênø kết hệ thống và yếu tố , chức năng liên kết hoàn cảnh và hệ thống Cấu trúc căn cứ vào nội tại để quyết định hành vi của hệ thống , tức là cấu trúc quyết định chức năng Quan hệ giữa cấu trúc và chức năng không luôn luôn đối ứng nhau Đầu tiên , một loại cấu trúc có thể có nhiều loại chức năng Ngoài ra còn có hiện tượng

“đồng chức năng , khác cấu trúc”, tức là vì , để đạt được mục tiêu chung có nhiều con đường và phương pháp khác nhau

Tác động của hệ thống đối với hoàn cảnh phản ánh thông qua thông tin

Thông tin là các tin tức phát sinh do chính bản thân vật chất của mọi sự vật tồn tại khách quan Sau khi hoàn cảnh bị hệ thống tác động sẽ lấy tin tức về kết quả đó phản hồi lại hệ thống và hệ thống căn cứ vào cácù tin tức đó để điều chỉnh hoạt động của mình , nhờ đó phát huy chức năng một cách tốt hơn Quá trình đó gọi là phản hồi

Phản hồi là sự điều tiết của hoàn cảnh đối với hoạt động của hệ thống Lấy điều tiết phản hồi làm trung tâm , thì chức năng không những bị kết cấu chi phối mà còn biến đổi kết cấu của hệ thống Từ đó có thể làm cho hệ thống càng thêm hoàn thiện Điều đó nói lên mối liên quan lẫn nhau ,biến đổi lẫn nhau của kết cấu và chức năng Ví như việc định kế hoạch công tác , trong quá trình thực hiện sẽ căn cức vào kết quả tốt , xấu mà thay đổi , bổ sung kế hoạch đã đặt ra, làm cho kế hoạch sát thực tế hơn, từ đó càng có kết quả hơn Đó là sự tự giác điều tiết của phản hồi

Quá trình thông qua phản hồi và thông tin điều tiết để đạt được mục tiêu gọi là khống chế

Để thực hiện được sự khống chế cần có mấy điều kiện cơ bản: một là ,tính mục đích, hai là, sự phản hồi và điều tiết của tin tức ; ba là ,năg lực lưu thông của tin tức

Trang 7

3 Khái quát về phương pháp luận của khoa học hệ thống:

3.1 Nội dung cơ bản của phương pháp luận khoa học hệ thống:

3.1.1.Khái niệm cơ bản:

Bất cứ một môn học nào đều có các khái niệm cơ bản nhất của việc nghiên cứu môn học đó và phản ánh các mặt bản chất của đối tượng Khái niệm cơ bản đó được gọi là phạm trù

Khái niệm cơ bản của phương pháp luận về khoa học hệ thống , như trên đã nói , gồm có hệ thống , yếu tố , cấu trúc , cấp độ , chức năng, thông tin phản hồi , điều khiển , điều tiết , v.v… Những khái niệm cơ bản đó không những chỉ thuộc phạm trù khoa học tự nhiên , mà còn thuộc phạm trù triết học

3.1.2 Phương pháp cơ bản :

3.1.2.1 Phương pháp thông tin: Là một phương pháp

coi hệ thống là nơi giúp cho việc thu thập, truyền tin, gia công và xử lí để thực hiện mục đích của hoạt động Đặc điểm của nó là khi phân tích , xử lí các vấn đềä cụ thể, lấy lý thuyết thông tin làm cơ sở và nó hoàn toàn tách khỏi cấu trúc cụ thể, hình thái cụ thể của hệ thống; coi việc hoạt động trìu tượng có mục đíchå của hệ thống là một quá trình biến đổi thông tin

3.1.2.2 Phương pháp phản hồi : Là phương pháp lấy

kết quả của hoạt động hệ thống (tức thông tin phản hồi ) để điều chỉnh hoạt động của hệ thống, nhằm đạt được mục tiêu đã định Đặc điểm của nó là căn cứ vào tình hình vận hành trong quá khứ để điều chỉnh hành động trong tương lai

3.1.2.3 .Phương pháp mô hình chức năng : Là một

phương pháp thực nghiệm lấy chức năng vàhành vi làm

Trang 8

cơ sở để mô hình hoá chức năng và hành vi Đặc điểm của nó là mô hình không chỉ là biện pháp để nhận thức nguyên dạng , mà bản thân nó cũng là mục đích của nghiên cứu Khi xem xét sự giống nhau của chức năng và hành vi , thường dùng phương pháp “hộp đen” , tức là khi chúng ta chưa rõ tình hình cấu trúc bên trong của nguyên dạng thì hoàn toàn có thể qua phân tích “đầu vào” và “ đầu ra” để lập mô hình tìm hiểu và nhận biết chức năng và hành vi của nguyên dạng

3.1.2.4 Phương pháp hệ thống: Là một phương pháp

tốt nhất lấy quan điểm hệ thống làm điểm xuất phát từ mối quan hệ lẫn nhau giữa hệ thống và yếu tố ,yếu tố và yếu tố, hệ thống và hoàn cảnh bên ngoài, tìm ra tính chất của hệ thống và quy luật vận động của đối tượng để xử lí vấn đề

Ngoài ra còn có phương pháp mô hình hoá, tối ưu hoá, mã hoá, hình thức hoá, v.v…

3.1.3 Nguyên tắc cơ bản :

Chủ yếu có các nguyên tắc (theo trình tự): nguyên tắc hoàn chỉnh, nguyên tắc tổng hợp , nguyên tắc tối

ưu , nguyên tắc định hướng , nguyên tắc ổn định , nguyên tắc người - máy giao lưu, nguyên tắc phân giải – hiệp đồng , nguyên tắc trật tự của cấp độ, v.v…

3.2 Đặc trưng cơ bản trong phương pháp luận của khoa

học hệ thống :

3.2.1 Đặc trưng tính tổng hợp: Đặc trưng chủ yếu

trong phương pháp luận khoa học của cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất là phân tích Đó là phương pháp

tư duy đem tổng thể phân chia thành các bộ phận, đem sự vật phức tạp phân chia thành các yếu tố đơn giản, phân biệt để nghiên cứu và có tác dụng rất lớn vào thời bấy giờ Nhưng ở thế kỉ này, nhất là 20-30 năm trở lại đây, do sự phát triển mới của khoa học công nghệ , nên đặc trưng chủ yếu trong phương pháp luận

Trang 9

của nghiên cứu khoa học dần dần chuyển từ phân tích sang tổng hợp Không nghi ngờ gì nữa, phương pháp tư duy

đó tốt và trở thành cơ sở của phương pháp lý luận chung nhất cho công việc nghiên cứu tất cả các bộ môn khoa học

3.2.2 .Đặc trưng tính chỉnh thể : Tính chỉnh thể là

xuất phát điểm cơ bản của phương pháp luận khoa học hệ thống Phương pháp luận khoa học hệ thống đã nêu

ra không chỉ đơn giản xem xét, giải quyêt từ một bộ phận, một yếu tố nào đó mà phải khai thác hết mức chức năng chỉnh thể và vượt khỏi tổng các chức năng của các yếu tố đơn lẻ

3.2.3 .Đặc trưng tính hiệu quả : Phương pháp nghiên

cứu trước đây là chỉ có thể giải quyết vấn đề hệ thống thuộc các nhân tố đơn , tĩnh và giản đơn Nhưng phương pháp truyền thống này, laị không có khả năng đối với các hệ thống có động thái phức tạp, đa nhân tố của xã hội hiện đại Sau khi xuật hiện phương pháp khoa học hệ thống, thì vấn đề khó khăn đó được giải quyết

3.2.4 Đặc trưng định lượng hoá : Khi vận dụng phương

pháp khoa học hệ thống để giải quyết vấn đề cần cố gắng dùng các loại ngôn ngữ toán học và các công cụ toán học để diễn tả chính xác về định lượng Điều đó giúp cho mọi người trong việc nghiên cứu nhiều hệ thống phức tạp, bao gồm nghiên cứu nhiều lãnh vực như xã hội , kinh tế , quân sự , giáo dục , TDTT … từ định tính sang định lượng và đưa trình độ nhận thức của con người phát triển lên một giai đoạn cao hơn

3.2.5 Đặc trưng tối ưu hoá : Tối ưu hoá là đặc trưng

nổi bật nhất của phương pháp luận khoa học hệ thống ,thể hiện khi giải quyết mọi vấn đề có tính đột xuất Tối ưu hoá là phải căn cứ vào yêu cầu, khả năng mà xác định được mục tiêu tối ưu bằng số lượng cho hệ thống, đồng thời dùng phương pháp phân tích hệ thống và kỹ thuật mới nhất, đem cái chỉnh thể chia thành

Trang 10

các cấp độ khác nhau về kết cấu, điều chỉnh mối quan hệ giữa chỉnh thể và bộ phận, làm cho chức năng và mục tiêu của bộ phận phải phục tùng mục tiêu tối cao của toàn hệ thống nhằm đạt tới tối ưu hoá tổng thể Từ đó đề xuất phương án hoạt động tối ưu cho thiết kế ,thi công ,quản lý, vận hành Phương pháp đó có ýnghĩa thực tiễn lớn và ý nghĩa lịch sử sâu xa Đặc biệt là đề xuất được phương pháp tốt nhất để giải quyết các vấn đề khó khăn, to lớn như việc gia tăng dân số

3.2.6 Đặc trưng thông tin hoá : Phương pháp luận khoa

học hệ thống khi giải quyết các vấn đề không phải chỉ thấy vật chất và năng lượng , mà phải chú ý đến thông tin và đó là sự phân biệt chủ yếu giữa thông tin và phương pháp hệ thống

3.2.7 Đặc trưng dùng quan hệ người – máy trong xử lývấn đề hệ thống: Trong xã hội hiện đại, nếu chỉ

dựa vào bộ não của con người để xử lí các vấn đề phức tạp thì không htể thích ứng được Phương pháp luận khoa học hệ thống, vừa coi trọng tác dụng chủ thể tư duy của con người, đồng thời sử dụng chức năng của máy tính Sử dụng hệ thống người – máy để giải quyết các vấn đề phức tạp mà bộ não con người không thể giải quyết được nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

3.2.8 Đặc trưng dùng phép biện chứng duy vật để cụ thể hoá và chính xác hoá vấn đề cần xem xét.

4 Phương pháp luận khoa học hệ thống là cơ sở lýù luận chung của quản lí học thể dục thể thao

Các khái niệm cơ bản như hệ thống, điều khiển và thông tin của khoa học hệ thống đã nêu trên, là khái quát của môn khoa học mới nhất về các thuộc tính, đặc trưng, quan hệ quan trọng nhất, phổ biến nhất của sự vật khách quan Đó là phạm trù của khoa học tự

Ngày đăng: 19/11/2017, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w