Yêu cầu về đổi mới quản lý chất lượng giáo dục Hiện nay, hệ thống giáo dục đã được phát triển rộng khắp trong cả nước, đa dạng về loại hình trường theo cấp học, loại hình sở hữu công lập
Trang 1TỔNG QUAN VỀ
ĐẢM BẢO VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
Trang 2Mở đầu:
Đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) là những vấn đềcòn khá mới ở Việt Nam Đảm bảo chất lượng giáo dục được hiểu là một cơ chếquản lý nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải tiến, nâng cao chấtlượng giáo dục Kiểm định chất lượng được hiểu là quá trình đánh giá từ bênngoài để công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt được sứmạng và các chuẩn mực đã được tuyên bố Trong mấy năm qua, nước ta đã cónhiều nỗ lực để hình thành hệ thống đảm bảo và KĐCLGD trong cả nước Trong
xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa, chủ đề này càng đang được quan tâm và thúcđẩy phát triển
Sau những năm triển khai thực hiện, hệ thống đảm bảo và KĐCLGD đãđược từng bước triển khai trong cả nước
Bản báo cáo này tập trung trình bày về thực tiễn của công tác đảm bảo vàKĐCLGD ở Việt Nam và định hướng phát triển trong thời gian tới
I Yêu cầu về đổi mới quản lý chất lượng giáo dục
Hiện nay, hệ thống giáo dục đã được phát triển rộng khắp trong cả nước,
đa dạng về loại hình trường (theo cấp học), loại hình sở hữu (công lập/ ngoàicông lập) và phương thức tổ chức đào tạo (đào tạo theo truyền thống/ theophương thức từ xa, thường xuyên) Xem số liệu thống kê của Bộ Giáo dục vàĐào tạo1 trong Bảng 1
Ngoài ra, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp còn cótrên 6000 chương trình đang được đào tạo trong cả nước Hiện tại có 2 đại học
mở và 13 trường đại học truyền thống khác đang tổ chức đào tạo mở và từ xa
Có trên 300 chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục của các nướckhác (số liệu đang được cập nhật)
Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáodục và chương trình giáo dục đều là các đối tượng cần được quản lý chất lượng.Nhưng số lượng các cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo quá lớn và đa dạngdẫn đến những khó khăn trong việc quản lý chất lượng
Bảng 1 Số lượng các cơ sở giáo dục trong cả nước năm 2013
Trang 3- Số trường mầm non bao gồm cả nhà trẻ và mẫu giáo.
Kiểm soát chất lượng (quality controle) – một cơ chế quản lý chất lượng
cơ bản nhất, được triển khai thực hiện, chủ yếu, qua các hoạt động thanh tra,kiểm tra Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan trung ương (BộGD&ĐT) đến từng cơ sở giáo dục là không khả thi Vì vậy, nước ta cũng nhưnhiều nước khác đã phân cấp công tác kiểm soát chất lượng xuống cấp sởGD&ĐT, cấp phòng GD&ĐT và cấp trường Nhưng công tác kiểm soát chấtlượng ở cấp trường cũng không được triển khai triệt để nên chất lượng dạy vàhọc vẫn chưa đạt được như mong muốn Với những trường có quy mô lớn thìcông tác kiểm soát chất lượng chỉ có thể thực hiện ở cấp khoa Nhưng kiểm soátchất lượng ở khâu dạy và học là chưa đủ vì dạy và học không chỉ cần thực hiệnđúng quy định mà phải có sáng tạo và có chất lượng Hơn nữa, ngoài khâu dạy
và học cần phải quan tâm đến mục tiêu đào tạo, xây dựng chương trình, đổi mớiphương pháp giảng dạy Do vậy, cần phải đổi mới công tác quản lý chất lượnggiáo dục
Đảm bảo chất lượng (quality assurance) là một cơ chế quản lý chất lượngtiến bộ hơn kiểm soát chất lượng đang được nhiều nước sử dụng để quản lý chấtlượng giáo dục Theo SEAMEO (2002), đảm bảo chất lượng giáo dục có thể lànhững quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quytrình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảorằng sứ mạng và mục tiêu giáo dục đang được thực hiện, các chuẩn mực đangđược duy trì và nâng cao Đảm bảo chất lượng giáo dục là thuật ngữ chung đềcập đến một loạt các biện pháp và cách tiếp cận, sử dụng để nâng cao chất lượnggiáo dục Đảm bảo chất lượng giáo dục có thể là đánh giá chất lượng giáo dục(education quality assessment), kiểm toán chất lượng (quality audit) vàKĐCLGD (education quality accreditation)
Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia đảm bảo vàKĐCLGD Những nước có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời như Mỹ,Anh Những nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan,
Trang 4Malaysia, Campuchia…) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
và có hệ thống chân rết đến từng cơ sở giáo dục Các tổ chức này rất khác nhau.Một xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thốngđảm bảo chất lượng giáo dục và đứng ra thành lập các tổ chức đảm bảo chấtlượng quốc gia
Hình 1 Sự phân bố các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia ở trên thế giới
Trang 5Bảng 2 Đặc điểm chung của các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia
ở Đông Á và Thái Bình Dương.
KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, vàhiện nay đang được nhiều nước sử dụng Nguyên tắc của KĐCLGD là phải đượcđộc lập đưa ra quyết định, không bị chi phối bới các cơ quan khác Đối tượngKĐCLGD là các cơ sở giáo dục (nói chung), các chương trình giáo dục đại học
và trung cấp chuyên nghiệp
KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục; xácnhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhấtđịnh; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; làm cơ sở cho ngườihọc lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực
Trang 6II Hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam
Việc hình thành và phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD là một vấn
đề còn khá mới ở Việt Nam Ở cấp quốc gia, có thể nói, công tác này thực sựđược quan tâm từ đầu năm 2002 bằng việc hình thành một đơn vị chuyên trách
về vấn đề này trong Vụ Đại học, sau đó là Cục Khảo thí và KĐCLGD của BộGiáo dục và Đào tạo, hệ thống đảm bảo chất lượng và KĐCLGD liên tục đượccủng cố và phát triển theo xu thế chung của quốc tế
Tương tự như nhiều nước khác, việc xây dựng một hệ thống đảm bảo vàKĐCLGD ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì cácchuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam Đối vớicác cơ sở giáo dục, đảm bảo sẽ tổ chức đào tạo có chất lượng và có hiệu quảtương xứng với các điều kiện hiện có của nhà trường, đảm bảo học sinh, sinhviên đại học, TCCN khi tốt nghiệp sẽ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Đối với Nhà nước, trước hết, hệ thống này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơnthực trạng giáo dục trong cả nước; đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người học;đảm bảo rằng hệ thống giáo dục sẽ cung cấp được một lực lượng lao động cónăng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Hệ thống đảmbảo và KĐCLGD cũng sẽ cung cấp các cơ sở để Nhà nước đưa ra các chính sáchđầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục Người học có thể biết được khi tốtnghiệp đại học, cao đẳng, TCCN sẽ có nhiều cơ hội việc làm, với kết quả đạtđược có thể tiếp tục được học cao hơn Các nhà tuyển dụng yên tâm khi quyếtđịnh tuyển chọn nhân lực lao động
Việc phát triển hệ thống đảm bảo và KĐCLGD bao gồm cả việc phát triển
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KĐCLGD, xây dựng mô hình pháttriển và triển khai thực hiện, tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế vì đây là một côngviệc còn non trẻ nên cần có những bước đi căn bản từ ban đầu
2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục
Xuất phát từ thực tiễn của sự nhận thức và sự quan tâm còn hạn chế đếnKĐCLGD, việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một cách tiếpcận tốt nhất nhằm nhanh chóng định hình và khẳng định vị trí của công tác này,đảm bảo sự phát triển bền vững trong hệ thống giáo dục quốc dân Đồng thờigiúp các nhà giáo, nhà quản lý và các đối tượng có liên quan nhanh chóng hiểumột cách thống nhất các khái niệm, nội dung, quy trình, công cụ KĐCLGD, gópphần nhanh chóng nâng cao nhận thức, tạo mối quan tâm và tăng cường nănglực chuyên môn về KĐCLGD nói chung
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, các quy định về KĐCLGD đang
Trang 7từng bước được đưa vào trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở cấp caonhất (Luật giáo dục năm 2005: Điều 17 và 58; Luật Sửa đổi và bổ sung một sốđiều của Luật Giáo dục năm 2009: Mục 3a gồm có 3 điều bổ sung về KĐCLGD;Luật Giáo dục đại học: Chương VII Đảm bảo và KĐCLGD đại học) Chính phủ
có các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện (Nghị định số75/2006/NĐ-CP Chương II, Điều 38-40 về KĐCLGD; Nghị định số31/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 38 và 39 của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP;) Công tác đảm bảo và KĐCLGD cũng được quy định cụ thể trong các vănbản quan trọng khác của Chính phủ như Chiến lược phát triển giáo dục 2011-
2020 với yêu cầu “xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục,thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo
và kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học” Trong quyết địnhcủa Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đạihọc và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 đã đưa ra giải pháp “Triển khai đại tràcông tác đánh giá và KĐCLGD đại học”
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vềquy trình và chu kỳ KĐCLGD, các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục,kèm theo đó là các văn bản hướng dẫn chi tiết để triển khai thực hiện (xem Phụlục 1)
Các văn bản quy phạm pháp luật là những công cụ pháp lý quan trọng đểtriển khai các hoạt động KĐCLGD ở Việt Nam Các văn bản đó còn tạo ra mộthành lang pháp lý để đảm bảo cho công tác KĐCLGD được triển khai một cách
Qua mấy năm hình thành và phát triển, mô hình đảm bảo chất lượng giáodục được xây dựng trên cơ sở học tập kinh nghiệm và tham khảo mô hình củanhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này Đó là môhình đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ, mô hình đảm bảochất lượng của các nước châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá
Trang 8nhiều năm để triển khai xây dựng mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của ViệtNam Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởngcủa các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tươngđồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn Những ảnhhưởng của các nước khác đến mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam chủyếu thông qua sự hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặcbiệt là Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, UNESCO, Mạng lướiquốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE), Mạnglưới chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQN), Mạng lưới đảm bảo chấtlượng ASEAN (AQAN), SEAMEO và của một số nước khác như Hoa Kỳ,Australia, Hà Lan.
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình đảm bảo và KĐCLGD trên thếgiới, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của Việt Nam đang từng bước được
ổn định, phù hợp với các mô hình đảm bảo chất lượng của nhiều nước khác,nhất là mô hình của châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương, AUN - những môhình được tiếp tục phát triển trên mô hình chung của châu Âu Mô hình đảm bảochất lượng giáo dục của Việt Nam có 3 cấu phần sau:
- Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường;
- Hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường (hệ thống đánh giángoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá);
- Hệ thống các tổ chức đánh giá chất lượng từ bên ngoài (các tổ chứcKĐCLGD)
Mô hình này có nguồn gốc từ hệ thống đảm bảo chất lượng châu Âu,được Mạng lưới chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (APQN) phát triển vàkhuyến khích áp dụng cho các nước trong khu vực (xem sơ đồ trong Phụ lục 2)
Nội dung dưới đây được trình bày theo 3 cấu phần trên
2.2.1 Triển khai xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các cơ
sở giáo dục; cải tiến chất lượng và xây dựng văn hóa chất lượng của nhà trường
Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường bao gồm (a) Cácchủ trương của nhà trường, kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, một đơn vịchuyên trách về đảm bảo chất lượng (đối với các trường đại học, cao đẳng,TCCN), các hoạt động và sự phối hợp giữa các đơn vị bên trong nhà trường; (b)
Cơ chế phê duyệt, giám sát và định kỳ rà soát đánh giá các chương trình giáodục (đối với các trường đại học, cao đẳng, TCCN); (c) Chiến lược liên tục cảitiến, nâng cao chất lượng giáo dục; đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng dạy; (d)Công khai các thông tin về giảng dạy, chương trình và kết quả giáo dục - đào
Trang 9Đến nay 156 trường đại học (chiếm 75,3% ), 145 trường cao đẳng (chiếm67,7%), 48 trường trung cấp chuyên nghiệp (chiếm 16,3%) thành lập đơn vịchuyên trách về ĐBCL, trong đó có 5 trung tâm do Chính phủ Hà Lan hỗ trợthành lập tại Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đạihọc Vinh, Trường Đại học Cần Thơ và triển khai hoạt động từ 2005 đến nay; và 2trung tâm của Đại học Quốc gia (ĐHQG) đã hoạt động từ cuối những năm 1990;
63 sở giáo dục và đào tạo có Phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng giáo dục
Các nỗ lực xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các cơ sởgiáo dục đều nhằm từng bước hình thành văn hóa chất lượng bên trong các cơ sởgiáo dục đó với mục đích làm cho mọi thành viên của nhà trường đều hiểu, quantâm và mong muốn cải tiến chất lượng giáo dục
Các hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy, đánh giá chương trình,kiểm toán nội bộ đang được tiếp tục triển khai thực hiện và ngày một mở rộngquy mô áp dụng
Công tác tự đánh giá được chú trọng như một công cụ để cải tiến chấtlượng giáo dục, tính đến hết năm 2013, 72,58% số cơ sở giáo dục trên cả nước
đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá
Hoạt động tự đánh giá ở các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyênnghiệp được triển khai khá mạnh trong những năm qua, đến nay, 177 trường đạihọc, 192 trường cao đẳng và 100 trường trung cấp chuyên nghiệp đã hoàn thànhbáo cáo tự đánh giá, gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đảm bảo chất lượng các chương trình đào tạo giáo viên là một trongnhững hoạt động cũng đang được chú trọng ở Việt Nam Dự án phát triển giáoviên tiểu học đã tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học,chủ yếu là các trường cao đẳng; Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông
và trung cấp chuyên nghiệp tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo giáo viênTHPT và TCCN Qua các dự án này, đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá của 100chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông, 7 chương trình sư phạm kỹthuật công nghiệp và 10 chương trình đào tạo giáo viên tiểu học
Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 63 sở giáo dục và đào tạo đangchỉ đạo các trường mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyêntriển khai tự đánh giá Đến nay, có 13/63 tỉnh đã hoàn thành tự đánh giá 100%
số trường và có 42/63 tỉnh đã hoàn thành tự đánh giá 50% số trường phổ thôngcủa tỉnh Kết quả tự đánh giá là cơ sở để các trường phổ thông tự nhìn nhận và
tự đề ra giải pháp cải tiến, nâng cao chất lượng của nhà trường
Trang 10Bảng 3 Kết quả tự đánh giá của các trường phổ thông, TCCN, CĐ, ĐH 2
- Đánh giá của Ủy ban văn bằng kỹ sư Pháp – CTI: 14 ngành đào tạo kỹ
sư chất lượng cao của 04 trường đại học (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng,Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh) đã được CTI tổ chứcđánh giá vòng 2 vào năm 2010 (vòng 1 đã được đánh giá vào năm 2004)
- Đánh giá của Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ - Hoa Kỳ(ABET): Một số trường đại học như Trường Đại học FPT, Trường Đại học Báchkhoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh đang có các chương trình phấn đấu đạt chuẩncủa ABET Tháng 11/2013, 02 chương trình của Trường Đại học Bách khoa –ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã được ABET đánh giá và đang chờ kết quả cụ thể
- Ngoài ra, có 04 trường ĐH đã đăng ký làm thành viên và tiếp cận với bộtiêu chuẩn đánh giá của Hiệp hội phát triển giảng dạy doanh thương bậc đại học -Hoa Kỳ (AACSB) đó là: Trường Đại học Quốc tế - ĐHQG TP Hồ Chí Minh,Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam, Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn,Trường Đại học Kinh tế và Tài chính TP Hồ Chí Minh
- Một số trường khác cũng đã tiếp cận với những bộ tiêu chuẩn đánh giáquốc tế theo từng chuyên ngành như ngành y, dược Tuy nhiên, chưa có báo cáochính thức về Bộ Giáo dục và Đào tạo
Xem danh sách các trường TCCN hoàn thành báo cáo tự đánh giá tại địa
2 Cập nhật đến ngày 10/4/2014