Do đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: " Bất bình đẳng giới làm gia tăng tình trạng thất học của nữ giới vùng núi phía Bắc Việt Nam" để làm rõ nguyên nhân gia tăng tình trạng thất
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI:
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI LÀM GIA TĂNG TÌNH TRẠNG THẤT HỌC CỦA NỮ GIỚI VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT
NAM
Trang 2MỤC LỤC
I Lý do chọn đề tài
II Phương pháp nghiên cứu
III.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
IV.Mục tiêu nghiên cứu
V Kết quả nghiên cứu
1 Các khái niệm
2 Thực trạng
3 Nguyên nhân
3.1 Định kiến giới trong xã hội hóa vai trò giới
3.2 Định kiến giới làm giảm điều kiện tiếp cận giáo dục của nữ giới
3.3 Định kiến giới kìm hãm sự vươn lên của cá nhân nữ giới
4 Hệ quả
VI Tài liệu tham khảo
Trang 3I Lý do chọn đề tài:
Xã hội Việt Nam ngày càng phát triển và đang bước trên con đường hội nhập vào thị trường quốc tế Đòi hỏi mỗi cá nhân phải trang bị cho mình một hệ thống kiến thức, tư duy sáng tạo để cá nhân dễ dàng tiếp cận với khoa học kĩ thuật tiến tiến và bắt kịp xu hướng phát triển toàn cầu Để làm được việc đó thì giáo dục đóng một vai trò quan trọng
Giống như nhà xã hội học Emile Durkheim đã nói: " Giáo dục có chức năng xã hội hóa cá nhân, giáo dục giúp cho thế hệ trẻ được chuẩn bị để bước vào cuộc sống xã hội, giáo dục có chức năng cũng cố sự đoàn kết xã hội và duy trì trật tự xã hội."
Trong những năm trở lại đây nhà nước đã có nhiều dự án, chính sách hỗ trợ giáo dục giúp người dân có nhiều khả năng và điều kiện tiếp cận các dịch vụ giáo dục đặc biệt là ở miền núi và vùng sâu vùng xa khó khăn Tuy nhiên những chính sách hỗ trợ đó còn tồn tại những hạn chế khiến cho chính sách không đạt được hiệu quả như mong đợi Bên cạnh nguyên nhân đó còn do nhiều yếu tố khách quan khác như: điều kiện tự nhiên, nghèo đói, đường xá khó khăn và đặc biệt là sự tồn tại của quan niệm giới trong đời sống cộng đồng
Việc bất bình đẳng giới không chỉ ảnh hưởng đến việc tiếp cận giáo dục của nữ giới mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của toàn xã hội nói chung và cách riêng là nữ giới
Vấn đề này hiện đang gây sự quan tâm và chú ý của toàn xã hội
Nó ảnh hưởng trưc tiếp đến quá trình phát triển của xã hội Việt Nam
Do đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: " Bất bình đẳng giới làm gia tăng tình trạng thất học của nữ giới vùng núi phía Bắc Việt Nam" để làm rõ nguyên nhân gia tăng tình trạng thất học của phụ nữ do quan niệm giới của cộng đồng nơi đây gây ra
Trang 4II Phương pháp ngiên cứu:
Phương pháp định tính: thảo luận nhóm tập trung, tổng hợp và phân tích tài liệu
III Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
1 Đối tượng nghiên cứu:
Bất bình đẳng giới làm gia tăng tình trạng thất học của nữ giới vùng núi phía Bắc
2 Khách thể nghiên cứu:
Phụ nữ vùng núi phía Bắc Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Vùng núi phía Bắc Việt Nam
+ Thời gian nghiên cứu:
IV Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mục tiêu tổng quát:
Bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng thất học của nữ giới ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
2 Mục tiêu cụ thể:
Làm rõ một số khái niệm về giới, bất bình đẳng và bất bình đẳng giới từ đó đi sâu vào nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới gia tăng thất học
Trang 5V Kết quả nghiên cứu:
1 Các khái niệm:
Giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam
và nữ bị quy định bởi điểu kiện sống của cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị Và có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là điểu kiện xã hội ( Xã hội học về giới
và phát triển, Lê Ngọc Hùng - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, NXB Đại học quốc gia Hà Nội)
Bất bình đẳng là sự không bình đẳng về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc giữa các nhóm xã hội.(Hoàng Bá Thịnh, 1997, 1999, 2000, 2001, 2006, 2008: 224)
Bất bình đẳng giới: Nói một cách đơn giản, đó là sự khác nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng, hưởng thụ những thành quả xã hội.(Giáo trình xã hội về giới, Hoàng Bá Thịnh, NXB Đại học quốc gia Hà Nội)
2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục ở vùng núi phía Bắc Việt Nam:
Trong tình hình phát triển của Việt Nam hiện nay, giáo dục cũng từng bước được chú trọng và cải tiến hơn trước Hầu hết các khu vực trong cả nước đều tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cá nhân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục Tuy nhiên việc phân bổ các điều kiện và chính sách giữa các khu vực là không giống nhau nhằm tạo lợi thế cho các vùng yếu thế bắt kịp nhịp độ phát triển chung của toàn xã hội Song, cũng do nhiều yếu tố khách quan mà việc tiếp cận với giáo dục ở các khu vực có sự chênh lệch khá lớn Điển hình là vùng núi phía bắc có tỉ lệ người dân nói chung và phụ
nữ nói riêng chưa bao giờ đi học cao nhất cả nước và cho thấy được mức độ tiếp cận giáo dục ở vùng núi phía bắc của nữ giới là thấp nhất Việt Nam
Trang 6Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011
Bảng 1: Tình trạng đi học của dân số từ 5 tuổi trở lên của phụ nữ
các vùng trong cả nước.
Biểu đồ trên cho thấy rằng tỉ lệ trẻ em gái ở vùng núi phía bắc chưa bao giờ đến trường (14,1%) cao hơn cả khu vực Tây Nguyên
và vượt xa các khu vực khác trong cả nước.
Cũng từ việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục của phụ nữ vùng núi phía bắc thấp nhất trong cả nước mà dẫn đến tình trạng mù chữ gia tăng, hay nói các khác là tỉ lệ biết đọc viết trong cộng đồng vùng núi phía bắc là thấp nhất so với các vùng miền khác ở Việt Nam
Trang 7Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011
Bảng 2 : Tình trạng biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên
chia theo giới tính của các vùng, miền trong cả nước.
Qua bảng 2, phấn nào cho thấy tình trạng biết đọc, biết viết của trẻ em gái vùng núi phía bắc là thấp nhất so với cả nước.Nhìn chung tỉ lệ biết đọc, biết viết của người dân miền núi phía bắc còn thấp so với các vùng trên cả nước, trong đó sự chênh lệch giữa nam và nữ là khá cao khoảng 9,2% khoảng cách chênh lệch cao nhất so với các vùng trong Việt Nam.
Bên cạnh đó các định kiến giới vẫn còn tồn tại sâu sắc trong cộng đồng vùng núi phía bắc biểu hiện rõ nét trong việc nam giới biết đọc, viết chiếm tỉ lệ cao hơn nữ giới Và chính điều này lại cho thấy sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ và điều kiện giáo dục giữa nam và nữ giới
Trang 8Nguồn:Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011
Bảng 3: Tỉ lệ dân số biết đọc, viết chữ theo giới của dân số từ 15
tuổi trở lên theo các vùng trong cả nước.
Qua đây ta thấy được vùng núi phía bắc là vùng có tỉ lệ tiếp cận với giáo dục thấp nhất trong cả nước mà trong đó nữ giới bị ảnh hưởng sâu sắc của định kiến giới nên trở thành nhóm yếu thế hơn
so với nam giới về việc được tạo điều kiện và khả năng tiếp cận giáo dục Hay nói khác đi thì nữ giới chính là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề về định kiến giới làm hạn chế khả năng phát triển trong nhận thức và tiến bộ của họ.
2 Nguyên nhân bất bình đẳng giới trong giáo dục ở vùng núi phía Bắc Việt Nam:
3.1 Định kiến giới trong xã hội hóa vai trò giới
Theo "Thuyết nữ quyền sinh thái " do bà Francoise d' Eaubonne cho rằng phụ nữ gần với thiên nhiên hơn nam giới, còn nam giới gần với văn hóa hơn Theo quan điểm này thì văn hóa cao hơn tự nhiên và cho rằng cái gì có giá trị thường gắn liền với văn hóa, còn cái gì ít giá trị gắn liền với tự nhiên
Thuyết này đề cao vai trò của nam giới trong đời sống xã hội dồng thời xem nhẹ giá trị của phụ nữ Phần nào giải thích được nam giới có ưu thế hơn trong việc phát triển về mọi mặt so với phụ
Trang 9nữ trong đó có giáo dục.
Bên cạnh đó nhà xã hội học Jessie Bernad cho rằng “nam giới và phụ nữ sinh ra trong hai môi trường khác nhau trong một xã hội
“thế giới hồng” của con gái và “thế giới xanh” của con trai Nghiên cứu thái độ của cha mẹ cho thấy cả cha và mẹ đều có khuynh hướng nhấn mạnh đến sức khỏe cơ thể, tình xốc vác và thành tựu ở con trai, trong khi lại nghĩ con gái phải mềm mại, nhu mì và kém quyết đoán hơn” thông điệp mà ông đưa đến rất rõ ràng “thế giới con gái là thế giới thụ động và tình cảm, trong khi thế giới con trai
là thế giới độc lập và hành động”
Những ý kiến trên đúng với hiện trạng ở Việt Nam cũng như trong cuộc sống gia đình của người dân vùng núi phía bắc Trong gia đình từ khi một đứa trẻ mới sinh ra thì cha mẹ đã dạy và định hình cho những đứa trẻ đó phải trở thành một con người như thế nào đúng với vai trò giới mà đứa trẻ đó phải thực hiện Đối với trẻ nam phải là người lao động chính mang lại nguồn sống cho gia đình Do đó, nó được tạo mọi điều kiên thuận lời để phát triển nhằm thực hiện vai trò đó Ngược lại, ngay từ khi sinh ra thì trẻ nữ thì ngay từ nhỏ nó đã được cha mẹ dạy là phải có những cử chỉ hành vi như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình và trang bị cho nó những kĩ năng
3.2 Định kiến giới làm giảm điều kiện tiếp cận giáo dục của nữ giới
“Quan điểm của H Spencer khi phân tích các bước tiến hóa của
xã hội, ông nhấn mạnh rằng trong xã hội phức hợp đơn giản, sự khác biệt về điều hành và hoạt động của các cấu trúc chỉ có thể quan sát được trong sự phân công lao dộng theo giới trong các dòng họ; trong đó nam giới thực hiện các việc lãnh đạo, săn bắn và chiến tranh còn phụ nữ đảm nhận công việc gia đình” (J Turner và
cs, 1998: 59)
Quan điểm này một phần phù hợp với định kiến giới ở Việt Nam nói chung và vùng núi phía Bắc nói riêng Ở vùng núi phía Bắc việc phân công lao động theo giới cũng khá rõ ràng như việc sinh con và chăm sóc con cái thuộc về phụ nữ còn việc lao động kiếm
Trang 10ra nguồn thu nhập và quyết định việc trồng trọt phụ thuộc vào nam giới Do đó mà phụ nữ ngoài việc gia đình cũng tham gia vào lao động sản xuất nhưng không phải lao động chính nên phụ thuộc phần lớn vào nam giới, người có quyền trong lao động Cũng từ đây mà nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình do nam giới kiếm ra
từ việc làm nông nghiệp của mình Bên cạnh đó do học vấn thấp nên cách trồng trọt của con người nơi đây vẫn còn lạc hậu, thủ công chưa có sự tiếp nhận nhiều khoa học kĩ thuật nên việc trồng trọt cũng không mang lại năng xuất và lợi ích kinh tế cao Đó là nguyên nhân gây ra nghèo đói ở vùng núi phía Bắc; và đói nghèo lại là nguyên nhân chính không đủ điều kiện cho con cái họ tiếp cận các dịch vụ giáo dục
3.3 Định kiến giới kìm hãm sự vươn lên của cá nhân nữ giới
Dựa vào mô hình hệ thống chức năng của Parsons, chúng tôi thấy rằng mỗi cá nhân trong xã hội được thẩm thấu các tư tưởng, chuẩn mực, giá trị, được chứa đựng trong mô hình văn hóa của xã hội mà cá nhân đang sống trong đó; và cá nhân phải ý thức và thể hiện những chuẩn mực, giá trị đó qua hệ thống hành vi của mình Nói cách khác, cá nhân trong xã hội nào thì hành vi và tư tưởng của cá nhân đó phải phù hợp với thước đo chuẩn mực của xã hội
mà cá nhân đó tồn tại; Và quá trình cá nhân thẩm thấu những giá trị, tư tưởng, chuẩn mực của hệ thống văn hóa trong xã hội của mình được gọi là quá trình xã hội hóa cá nhân Cũng từ quá trình
xã hội hóa cá nhân này mà những người sống trong xã hội Việt Nam nói chung và vùng núi phía bắc nói riêng được sinh ra và lớn lên trong một cộng đồng chứa đựng những định kiến về giới sâu sắc; do vậy mà mỗi cá nhân qua quá trình xã hội hóa của mình thì định kiến giới ấy cũng thẩm thấu sâu trong họ và mỗi cá nhân tự mặc nhận định kiến giới trong xã hội mình là đúng và xem nó như một việc phải thực hiện với vai trò giới của mình
Chính quá trình xã hội hóa này thể hiện rõ nét ở vùng núi phía bắc tiêu biểu là ở đa số dân tộc vùng núi phía Bắc họ quan niệm rằng con gái 15- 16 tuổi mà chưa kết hôn thì bị cho là quá lứa lỡ thì
và bị mọi người trong cộng đồng dị nghị Và trải qua quá trình xã
Trang 11hội hóa cá nhân mang định kiến giới mà mỗi cá nhân nữ giới tự nhận thức định rằng đến tuổi là phải kết hôn, phải thực hiện nghĩa
vụ và vai trò của mình trong gia đình cũng như cộng đồng Do đó
mà đa số nữ giới tự từ bỏ quyền tiếp cận giáo dục cũng như cơ hội phát triển của mình, tử bỏ cơ hội thoát ra khỏi vỏ bọc kìm hãm của định kiến giới trong cộng đồng học cũng như toàn xã hội
Từ ba nguyên nhân trên ta phần nào thấy được những tồn tại trong chính cộng đồng dân cư vùng núi phía bắc Việt Nam, mà yếu
tố tác động chủ yếu là định kiến giới Định kiến giới chính là nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong nhận thức, sự chậm chạp trong tiếp cận giáo dục và ru ngủ những ý thức vươn lên của phụ
nữ nơi đây Và nó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất học của nữ giới nơi đây.
4 Hệ quả bất bình đẳng giới trong giáo dục ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Chính sự bất bình đẳng giới làm nguyên nhân gây ra sự thất học của nữ giới trong cộng đồng dân cư vùng núi phía bắc Việt Nam
Và cũng từ việc không được tiếp cận với giáo dục mà phần lớn người dân không có nhận thức đúng đắn cũng như nhận định rõ ràng về mọi mặt của xã hội mà dẫn đến một số hệ quả đáng tiếc
Cụ thể là tỉ lệ thất học có sự chênh lệch rõ rệt giữa nam và nữ Tỉ
lệ nam giới ở vùng núi phía bắc biết đọc, biết viết chiếm 92%, trong khi đó nữ giới biết đọc, biết viết chỉ có 82,8% Và tỉ lệ phụ
nữ từ 5 tuổi trở lên còn đi học cũng chỉ chiếm 23,5% thấp hơn nhiều so với các vùng khác như Bắc trung Bộ và duyên hải miền trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Hồng.( Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân
số và nhà ở 2009, 2011)
Cũng do không được trang bị kiến thức và tiếp cận với giáo dục
mà phụ nữ vùng núi phía Bắc gặp phải nhiều vấn đề trong tiếp cận chính sách hỗ trợ của nhà nước như y tế, giáo dục, Và gặp khó khăn trong chính cuộc sống của họ cùng gia đình, dễ sa vào tệ nạn
xã hội, thậm chí trở thành đối tượng mà bọn tội phạm hướng đến
Trang 13V Kết luận:
Từ định kiến giới giữa nam và nữ còn tồn tại khá phổ biến trong cộng đồng không chỉ ở vùng núi phía bắc mà còn tồn tại trên toàn Việt Nam Nó tạo ra sự bất bình đẳng không chỉ về điều kiện sống,
cơ hội việc làm, mức thu nhập,…mà lớn hơn, nó cản trở chính sự tiếp cận giáo dục cùng cơ hội học tập nhân cao nhận thức và từng bước phát triển cũng như khẳng định mình của nữ giới.Và nói rộng hơn Bất bình đẳng giới kìm hãm chính sự phát triển của quốc gia không chỉ về giáo dục mà kéo theo cả kinh tế, chính trị, văn hóa,…
và làm chậm tiến trình lĩnh hội khoa học kỹ thuật tiên tiến, nâng cao vị thế quốc gia và hội nhập cùng các nước trên thế giới
Trang 14VI Tài liệu tham khảo:
[1] Giáo trình Xã hội học về giới của Hoàng Bá Thịnh - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[2] Từ điển Xã hội học Oxford - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Xã hội học về giới và phát triển - Lê Ngọc Hùng - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[3] Giáo trình Xã hội học giới - Mai Huy Bích - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[4] Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011
[5] Liên Hợp Quốc tại VN, Tóm tắt tình hình giới tại VN, 2002