Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN.Ngược lại thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bộ chi N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BÀI THẢO LUẬN MÔN
Tài chính công
Đề tài:
Phân tích nguyên nhân và tình trạng bội chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam, tác động bội chi ngân
sách đến nền kinh tế vĩ mô
Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hương
Thực hiện:
Trang 2Mục Lục
PHẦN 1 TỔNG QUAN BỘI CHI NSNN 4
1.1 Khái niệm: 4
1.2 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước: 4
1.2.1 Thâm hụt cơ cấu 4
1.2.2 Thâm hụt chu kỳ 4
1.3 Công thức tính bộ chi ngân sách nhà nước 4
1.4 Nguyên nhân bội chi NSNN 6
PHẦN 2 THỰC TRẠNG 6
2.1 Tình hình bội chi ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến nay: 6
2.2 Nguyên nhân chủ yếu của bội chi NSNN VN 9
2.3 Bội chi NSNN ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam 10
2.3.1 Ảnh huởng dến tổng cầu nền kinh tế 10
2.3.2 Ảnh huởng lạm phát 10
2.3.3 Thâm hụt cán cân thương mại 11
2.3.4 Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế 11
PHẦN 3 BIỆN PHÁP CHO BỘI CHI NSNN VIỆT NAM 12
3.1 Bội chi ở mức nào là an toàn? 12
3.2 Cách thức bù đắp bội chi 12
3.2.1 Tăng thu: 12
3.2.2 Giảm chi 13
3.2.3 Vay trong nước: 14
3.2.4 Vay nợ nước ngoài 14
3.2.5 Vay ngân hàng (in tiền) 15
PHẦN 4 KẾT LUẬN 15
Trang 3PHẦN 1 TỔNG QUAN BỘI CHI
NSNN
1.1 Khái niệm:
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu
"không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước
1.2 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách thành hai loại:
1.2.1 Thâm hụt cơ cấu
Là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng
1.2.2 Thâm hụt chu kỳ
Là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh
tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
1.3 Công thức tính bộ chi ngân sách nhà nước
CÂN ĐỐI THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
STATE BUDGET BALANCE
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Items năm 2013
A Thu NSNN và viện trợ State budget
revenues and grants 167,710
1 Thu từ thuế và phí Taxes and Fees 160,915
2 Thu về vốn Capital revenues 6,045
3 Thu viện trợ không hoàn lại Grants 750
B Thu kết chuyển Brought
Trang 4forward revenue
C Tổng chi ngân sách nhà nước
(không bao gồm chi trả nợ gốc)
Total exp.
(exclude principal payment)
204,785
1 Chi đầu tư phát triển
Exp on investment
development
35,
320
2 Chi thường xuyên Current
expenditures
169,
465
D Chi trả nợ gốc Principal
payment 13,600
E Bội chi ngân sách theo thông
lệ QT
Deficit (classified by GFS) -37,075
Bội chi so với GDP (%) Deficit/GDP (%) -5.42%
F Bội chi ngân sách theo phân
loại của VN
Deficit (classified by VN) -50,675
Bội chi so với GDP (%) Deficit/GDP (%) -7.4%
Trong đó:
A – Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)
B – Thu về vốn (bán tài sản)
C – Bù đắp thâm hụt
Viện trợ
Lấy từ nguồn dự trữ
Vay thuần (= Vay mới - trả nợ gốc)
D – Chi thường xuyên
E – Chi đầu tư
F – Cho vay thuần
(=cho vay mới – thu nợ gốc)
Cách tính này khác với cách tính bội chi theo thông lệ quốc tế ở chỗ là Việt
Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi còn theo quy
ước quốc tế chi trong cân đối ngân sách nhà nước tính chi trả lãi vay mà không
bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay Cách tính này cho kết quả định lượng bội chi
Bội chi NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D+E+F) – (A+B) = C
Trang 5ở Việt Nam cao hon so với cách tính không bao gồm trả nợ gốc nhưng thuận tiện khi nhận thấy được số bội chi của một năm chính bằng các khoản vay bù đắp bội chi trong năm đó
1.4 Nguyên nhân bội chi NSNN
Bội chi NSNN là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu Có 2 nhóm nguyên nhân
cơ bản gây ra bội chi NSNN
Nhóm nguyên nhân thứ nhất (nguyên nhân khách quan) là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết khó khăn mới về kinh tế xã hội Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng.Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu
kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
Nhóm nguyên nhân thứ hai (nguyên nhân chủ quan) là tác động của chính sách cơ cấu thu chi nhà nước Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN.Ngược lại thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bộ chi NSNN
sẽ giảm bớt.mức bội chi do chính sách cơ cấu gây ra được gội là bội chi cơ cấu
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn…) tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay phải phụ thuộc nhiều
Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ nước ngoài,thực hiện chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài,không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát triển Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ Luân Đôn thực hiện xử
lý nợ với Nga,Angiêri Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ,cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm
2005, mức an toàn,đảm bảo an ninh tài chính quốc gia
Trang 6PHẦN 2 THỰC TRẠNG
2.1 Tình hình bội chi ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến nay:
Trong thời gian qua thì tình hình bội chi ngân sách ở nước ta có
nhiều diễn biến phức tạp
Năm Tổng thu Tổng chi Bội chi
ngân sách GDP chi/GDP(%Bội
)
2000 90.749 108.961 18.212 441.646 4,1
2002 123.860 148.208 24.348 535.762 4,5
2003 152.274 181.183 28.909 613.443 4,7
2004 190.928 214.176 23.248 715.307 3,3
2005 228.287 262.697 34.410 839.211 4,1
2006 279.472 308.058 28.586 974.266 3,0
2007 315.915 399.402 83.487 1.143.71
2008 339.856 407.533 67.677 1.487.00
Trang 7Thâm hụt (Nghìn tỷ đồng)
Thâm hụt (%GDP)
Năm 2000 có mức bội chi ngân sách cao nhất là 4.95%GDP Đây là thời kỳ suy thoái và thiếu phát, nên mức bội chi ngân sách nhà nước như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên
Giai đoạn từ năm 2001 - 2007 bội chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn này
về cơ bản được cân đối ở mức 5%GDP, tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4.95% GDP) vì giai đoạn năm 1991 - 1995, mức bội chi chỉ ở mức 2.635% GDP và giai đoạn 1996 - 2000 ở mức 3.87% GDP Thực tế trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước từ hai nguồn là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép tăng tiền cung ứng thêm ra thị trường là không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư là tăng lên Bội chi ngân sách nhà nước tăng cao thể hiện chính sách tài khóa lỏng lẻo, nói lên sự chi tiêu của chính phủ cho đầu tư và thường xuyên vượt quá mức có thể của nền kinh tế
Ngày 10/1/2010, Quốc hội thông qua nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với mức bội chi bằng 5.3% GDP Theo nghị quyết, tổng thu ngân sách nhà nước là 595.000 tỷ đồng, tương đương 26.2% tổng sản phẩm trong nước(GDP), nếu tính cả 10.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2010 sang năm 2011 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 605.000 tỷ đồng
Trang 8 Tổng số chi ngân sách nhà nước là 725.600 tỷ đồng, mức bội chi 120.600 tỷ đồng, tương đương 5.3% GDP Nghị quyết cũng tán thành các nhóm giải pháp của chính phủ về thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, trong đó tập trung thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thu, chi ngân sách, rà soát sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư, đầu tư đồng bộ, tập trung bố trí vốn cho các dự án công trình trọng điểm, cấp bách, hoàn thành trong năm
2011 - 2012, nhất là tại địa phương nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giảm dần tỷ trọng vồn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác có thể tham gia
2.2 Nguyên nhân chủ yếu của bội chi NSNN VN
Có những thời kì mà nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, do đó mà dẫn đến tình trạng
nền kinh tế bị giảm sút trong các năm 1997-2000.Để kích cầu nền kinh tế
thì Nhà nước ta đã sử dụng nguồn ngân sách quốc gia chi cho đầu tư phát
triển
Chi ngân sách vẫn đảm bảo chi cho đầu tư phát triển ổn định ở mức
6,4% GDP, đảm bảo các nghĩa vụ trả nợ đến hạn.Sau cuộc khủng hoảng thì nước ta lâm vào tình trạng giảm phát kéo dài có năm xuống 0,1% năm 1999,th
ậm chí la -0,6% năm 2000, tình hình đầu tư trong nước gặp nhiều khó khăn, sản xuất thì lâm vào khủng hoảng, có rất nhiều doanh nghiệp đã bị phá sản, tổng sản phẩm xã hội bị giảm sút, kinh tế giảm sút…Chính vì lẽ đó mà Chính phủ không thể đứng ngoài cuộc được, để tháo gỡ bế tắc thì Nhà nước ta đã chủ động tăng chi, kích cầu hàng hoá trong nước lờn.Việc làm đó là rất cần thiết để đẩy nhanh tốc độ đầu tư, chặn đứng tốc độ giảm phát kéo dài, từ đóthú
c đẩy tốc độ phát triển kinh tế
Hơn nữa Nhà nước cũng đảm bảo những nhiệm vụ quan trọng củachi thường xuyên như: chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường đây là những khoản chi rất quan trong và cần thiết đốivới nền kinh tế, n hưng chúng cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chicủa ngân sách Nhà nư
ớc, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn của nước ta lúcđó thì việc chi tiêu này cũ
ng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối vớiviệcthâm hụt ngân sách Nhà nư ớc
Mặt khác, tỉ lệ bội chi trong những năm nay tăng cao còn do tác động của tỉ lệ động viên ngân sách nhà nước giảm do tăng trưởng giảm sút Do những tác
Trang 9động xấu của cuộc khủng hoảng làm cho tốc độ phát triển kinh tế của nước ta đang ở mức cao 9.5% năm 1995 xuống còn 4.8% năm 1999 Chính vì vậy mà Ngân sách Nhà nước phải được sử dụng nhiều hơn
Một nguyên nhân cũng rất quan trọng nữa là do đất nước ta đang làmột nước đ ang phát triển, nền kinh tế cũng gặp nhiều khó khăn, muốn xâydựng và phát triển đất nước theo kịp các nước trên thế giới thì chúng taphải có một l ượng vốn rất lớn để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồnnhân lực cũng như
mở rộng các ngành nghề trong nước.chính vì vậy màchi của ngân sách luôn ở mức cao, trong khi đó thì nguồn thu có hạn vàchưa thực sự đủ mạnh đáp ứng n
hu cầu chi tiêu của đất nước cho nên ngânsách Nhà nướcluôn ở một mức bội chi nào đó
2.3 Bội chi NSNN ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam
2.3.1 Ảnh huởng dến tổng cầu nền kinh tế
Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
GDP là tổng sản phẩm quốc nội
C là tiêu dùng tư nhân
I là tổng đầu tư
G là chi tiêu chính phủ
NX là xuất khẩu ròng
Đưa thêm biến số thuế T vào đẳng thức ta có:
(GDP – C – T) + (T – G) = I
S = (GDP – C – T)
S + (T – G) = I
Với S là tiết kiệm tư nhân, (T – G) là tiết kiệm chính phủ, cũng chính là chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách Truờng hợp (T – G) = 0 tức NSNN cân bằng, truờng hợp (T – G) > 0 NSNN có thặng du, truờng hợp (T –
G) < 0 NSNN bội chi.
2.3.2 Ảnh huởng lạm phát
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù dắp bội chi NSNN bằng cách phát hành trái phiếu (kể cả phát hành trong nuớc và phát hành ra nuớc ngoài), thi tất yếu chính phủ phải trả tiền nợ gốc và lãi trái phiếu trong tương lai đồng thời gây
Trang 10áp lực lên xã hội bằng việc tăng thuế Tuy nhiên bằng cách này, bội chi NSNN
sẽ không gây lạm phát và đặc biệt trong trường hợp bội chi được tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lợi thì nó lại là động lực cho sự phát triển của nền kinh
tế trong dài hạn
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng việc phát hành tiền, hành động này ngay lập tức làm cho lương tiền cung ứng trong lưu thông tăng Cung tiền tăng là một yếu tố quan trọng làm tăng tổng cầu Trong bối cảnh suy thoái kinh tế tăng cung tiền có tác dụng kích thích nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư tăng tổng sản phẩm tiến tới mức tiềm năng, ảnh hưởng lạm phát là tối thiếu Tuy nhiên duy trì bội chi kéo dài trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng phát hành tiền sẽ gây ra lạm phát cao, rất nguy hại
2.3.3 Thâm hụt cán cân thương mại
Bù đắp bội chi NSNN bằng các tăng vay nợ góp phần làm tăng lãi suât, sẽ ảnh huởng bất lợi đến cán cân thanh toán thương mại quốc tế Lãi suất thị truờng của nước này tăng lên cao so với các đồng tiền các nuớc khác trên thế giới thì người nuớc ngoài sẽ tìm kiếm đồng nội tệ của nuớc có bội chi để mua các chứng khoán chính phủ và các tài sản tài chính khác Dẫn đến tình trạng nhập siêu ở nuớc có ngân sách bội chi lớn
2.3.4 Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế
Quy mô nợ công của Chính phủ tùy thuộc vào số nợ vay là dể tài trợ cho tiêu dùng hay dầu tu và hiệu quả của việc dầu tu dó dến dâu Nếu chính phủ chấp nhận bội chi dể tài trọ cho các dự án có hiệu quả, có khả nang sinh lời trong dài hạn, thì chính lợi tức từ dự án lại tạo ra và làm tang nguồn thu trong dài hạn cho ngân sách nhà nuớc, giúp NSNN trả duợc gốc và lãi cho các khoản vay tài trợ bội chi trong quá khứ Truờng hợp bội chi NSNN duợc sử dụng cho mục dích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh huởng của nó chỉ tác dộng dến tổng cầu trong ngắn hạn (tại thời diểm bội chi xảy ra), và trong dài hạn nó không tai ra một nguồn thu tiềm nang cho ngân sách mà chính nó làm nặng nề hon khoản nợ công trong tuong lai
PHẦN 3 BIỆN PHÁP CHO BỘI CHI NSNN VIỆT
NAM
Trang 113.1 Bội chi ở mức nào là an toàn?
Trong những năm gần đây, mức bội chi ngân sách luôn ở mức khá cao khoảng 5%, việc này sẽ ảnh hưởng không nhỏ khiến không gian tài khóa bị thu hẹp
Theo điều 1 nghị quyết 32/2012/QH13 về dự toán ngân sách nhà nước năm
2013 do Quốc hội ban hành:
Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 816.000 tỷ đồng (tám trăm mười sáu nghìn tỷ đồng);
Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 978.000 tỷ đồng (chín trăm bảy mươi tám nghìn tỷ đồng);
Mức bội chi ngân sách nhà nước là 162.000 tỷ đồng (một trăm sáu mươi hai nghìn tỷ đồng), tương đương 4,8% tổng sản phẩm trong nước (GDP)
3.2 Cách thức bù đắp bội chi
Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước ,nhưng phải sử dụng cách nào ,nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế ,chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia , bởi mỗi giải pháp
bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ
mô Vì vậy,chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đưa phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới
Tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước;
Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện được vì dễ xảy ra hai nghịch lý khó giải quyết:
Trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP không lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng ở khu vực tư nhân bị hạn chế, sẽ làm giảm động lực phát triển kinh tế
Việc giảm chi có giới hạn nhất định, nếu giảm chi quá mức giới hạn thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển kinh tế
3.2.1 Tăng thu:
Tăng tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước
Tập trung thu đúng, đủ, kịp thời theo các luật thuế
Đẩy mạnh thực hiện các thủ tục hành chính, hải quan và mở rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu
Tăng cường kiểm tra chống thất thu, nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình đẳng trong mọi doanh nghiệp