1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương định hướng giá trị và giáo dục GTS

34 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 688,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các quá trình hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu của các bộ phận dân cư, tập quán, dư luận xã hội, lối sống…., giá trị

Trang 1

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ

1 Khái niệm giá trị dưới góc độ tiếp cận của các khoa học

Vào đầu thế kỷ XX, thuật ngữ giá trị đựoc sử dụng như một khái niệm khoa học, và cho đến nay, khái niệm giá trị được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được nhiều ngành khoa học nghiên cứu

- Trong Từ điển Triết học của Liên Xô, do M.M.Rozental chủ biên có đưa ra định nghĩa về “giá trị”: “Giá trị - những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới xung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và xã hội: cái lợi, thiện và ác, cái đẹp, cái xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên Xét bề ngoài, giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc của hiện tượng, tuy nhiên chúng không phải là cái vốn do thiên nhiên ban cho sự vật hiện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể

bị hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành những cái mang những quan hệ xã hội nhất định Đối với chủ thể (con người) các giá trị là những đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò những vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể và xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với các sự vật hiện tượng xung quanh” [ Từ điển Triết học, NXB Sự thật Hà Nội, 1986, tr207]

- Theo J.H.Fichter, nhà xã hội học Mỹ, tất cả những gì có lợi ích đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị [J.H.Fichter Xã hội học, Hà Nội, 1973 tr 175]

- V.P Tugarinov (Liên Xô), quan niệm giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiét cho con người (lợi ích, hứng thú,…) Đó là con người của xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ, với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu và những lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và những ý định với phương tiện là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng [ V.P Tugarinov, Lý luận giáo dục giá trị của chủ nghĩa Mác, Lêningrat, 1968, tr11]

- Hiện nay, khái niệm giá trị được sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học xã hội và nhân văn khác nhau như triết học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, mỹ học… Trong mỗi bộ môn khoa học cụ thể, khái niệm giá trị

được biểu hiện với những nội dung rộng hẹp khác nhau Hướng tiếp cận triết học là phương hướng tối ưu để xác định nội dung khái niệm một cách khái quát nhất

- Từ góc độ kinh tế học, “giá trị” được quan niệm như là “vị trí” tương đối của hàng hoá trong trao đổi Vị trí càng cao thì giá trị càng lớn Giá trị là giá trị của hàng hoá hay giá trị của vật phẩm, là kết tinh của lao động trừu tượng của xã hội trong hàng hoá hay vật phẩm đó Do vậy, nó gắn liền với bản chất kinh tế

Trang 2

- Từ góc độ đạo đức học, giá trị được xem xét trong phạm vi đời sống đạo đức của con người, tức phạm vi của các quan hệ xã hội và quá trình hình thành những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức của xã hội gắn với nội dung của các khái niệm trung tâm trong đạo đức học như cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, nhân ái, lương tâm, danh dự,…

- Từ góc độ xã hội học, giá trị được xem xét trong các mối quan hệ của cộng đồng (giữa cá nhân với nhóm hoặc giữa các nhóm xã hội,,,,) Trong các quá trình hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu của các bộ phận dân cư, tập quán, dư luận xã hội, lối sống…., giá trị được quan niệm là cái tạo nên sự thống nhất trong định hướng giá trị của các nhóm, các tầng lớp xã hội, mà sự thống nhất đó có thể hình dung như cái trục ổn định của nhân cách nhóm, tạo sự bình ổn, an toàn của đời sống đạo đức xã hội

- Từ góc độ tâm lý học nhân cách, giá trị được xem xét như là cái gắn liền với nội dung và cấu trúc tâm lý của quá trình phát triển cá thể, là cái tạo thành nhân cách, nằm trong cấu trúc của nhân cách

- Từ góc độ của khoa học chính trị, giá trị thường được xem xét dưới hình thức truyền thống là bộ phận mang tính chuẩn mực nhằm chuẩn hoá, điều chỉnh, định hướng cho thái đôn, hành vi, lối sống, mục đích, lý tưởng sống của con người trong xã hội Chúng thường được biểu hiện thành các quan điểm chính trị cùng các nguyên tắc đạo đức, các chuẩn mực pháp lý… chi phối nhận thức và hành vi của con người cho phù hợp với yêu cầu của thể chế

Như vậy là, có bao nhiêu cách tiếp cận thì có bấy nhiêu cách “giới hạn” khác nhau về phạm vi rộng hẹp của nội dung khái niệm giá trị Tuy nhiên, dù có nhiều cách phân loại khác nhau xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau thì khái niệm giá trị vẫn có điểm chung, mang tính phổ quát

2 Khái niệm giá trị từ cách tiếp cận triết học

- Theo cách tiếp cận triết học, giá trị phải được xác định từ hai phía: phía khách thể - bản thân sự vật với những phẩm chất, thuộc tính khách quan của nó và phía chủ thể - sự đánh giá của con người Bản chất của giá trị là sự thống nhất biện chứng giữa cái khách quan và cái chủ quan Giá trị được xác định là tất cả những gì đem lại sự phát triển, tiến bộ, tốt đẹp cho con người

và xã hội Hình thức biểu hiện của giá trị là đa dạng, muôn hình, muôn vẻ,

phụ thuộc vào tính đa dạng của các hoạt động và quan hệ xã hội của con người, nhưng nó thống nhất ở tính hữu ích, nó là cái thật, cái đẹp, cái tốt, cái tiên tiến, có tác dụng góp phần tích cực vào việc “nhân đạo hoá” đời sống của con người Thực chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn lịch sử của hệ thống giá trị xã hội vì thế cũng gắn liền với lịch sử phát triển của con người – xã hội Chúng vận động, biến đổi theo trình độ nhận thức, theo nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng

Cần xem xét giá trị như một hiện tượng xã hội mang tính thực tiễn, lịch

sử - cụ thể Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội có cách quan niệm giá trị khác nhau Trong bối cảnh, điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, tương ứng với những giai đoạn phát triển xã hội nhất định, giá trị của một sự

Trang 3

vật, hiện tượng được xác định như thế này, nhưng trong hoàn cảnh, điều kiện

cụ thể khác, giai đoạn khác, nó có thể được quan niệm khác Có những giá trị khi đã trở thành tàì sản văn hoá tinh thần chung của nhân loại và của cộng đồng, mang ý nghĩa trường tồn, nhưng thang bậc giá trị xã hội nói chung thì luôn có sự vận động, biến đổi Đặc biệt, trong những giai đoạn điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội có những biến động lớn thì sự biến đổi trong thang bậc giá trị xã hội thường được bộc lộ ra một cách rõ nét và điển hình Lịch sử tiến bộ của loài người cũng chính là lịch sử của sự không ngừng tìm kiếm, nhận thức các chân giá trị, là lịch sử của quá trình tích luỹ, chọn lọc, kế thừa và không ngừng tìm ra các giá trị mới, ngày càng phù hợp với sự phát triển tiến bộ của con người và xã hội loài người Nói cách khác, đó cũng chính là lịch sử của văn hoá

Từ nội dung của khái niệm giá trị có thể khái quát một số điểm như sau:

+ Giá trị có cơ sở xã hội là điều kiện kinh tế - xã hội khách quan

Chính điều kiện kinh tế - xã hội với tính tất yếu kinh tế của nó đã quy định thực trạng xã hội với các quan hệ xã hội cụ thể của nó, mà trong đó giá trị xã hội nảy sinh, tồn tại, và được thừa nhận một cách phổ biến

+ Bất cứ sự vật nào cũng đều có thể được xem là có giá trị, dù nó là vật thể hay là ý tưởng, miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc xác định nó có một vị trí quan trọng trong đời sống con người và xã hội

+ Giá trị có tính lịch sử khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà nó phụ thuộc vào hệ thống nhu cầu khách quan của con người – cá nhân và cộng đồng, được hình thành, biến đổi, phát triển do những điều kiện thực tế quy định

Như vậy, một hiện tượng, một quá trình, một hoạt động xã hội chỉ được xem là “có giá trị” khi nó có khả năng đáp ứng, làm thoả mãn những nhu cầu, lợi ích và mục đích xã hội của con người Tính nhiều vẻ, nhiều chiều, nhiều nội dung của nhu cầu, lợi ích và mục đích xã hội làm cho các giá trị trở nên phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, nhiều tính chất khác nhau Đồng thời, sự

có mặt của các giá trị còn phụ thuộc trực tiếp vào các chủ thể xã hội khác nhau như các cá nhân, nhóm, giai cấp, cộng đồng xã hội với những định hướng giá trị khác nhau Giá trị tích cực là những giá trị thể hiện sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và xã hội Sự hài hòa đó cũng đồng thời là cơ sở để định hướng giá trị xã hội, để xác định những nguyên tắc, mục tiêu, phương hướng, nội dung cơ bản nhằm xây dựng giá trị phù hợp với sự phát triển, tiến bộ xã hội

Công cuộc đổi mới toàn diện, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đã và đang tạo ra những giá trị xã hội mới cao đẹp cả về chủ thể giá trị, cả về đối tượng giá trị

Trang 4

+ Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệư với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể

+ Về cơ cấu, giá trị thường có hai thành tố cấu thành cơ bản:

Đối tượng giá trị: Là các hiện tượng xã hội, bao gồm các hoạt động xã

hội của cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp, cộng đồng xã hội trong thực tại xã hội Các hoạt động trên được thể hiện dưới dạng hiện tượng tư tưởng, quan niệm trừu tượng, các hành vi, tương tác xã hội, các khái niệm, hệ tư tưởng khoa học…Tất cả chúng đều tồn tại một cách khách quan, độc lập với chủ thể giá trị Chúng chỉ trở thành đối tượng giá trị khi chúng được thu hút vào quan

hệ xã hội, vào sự xem xét, định giá, xác định tác dụng xã hội của chính con người và xã hội

Chủ thể giá trị: Là con người và xã hội nhân thức hiện tượng xã hội,

định giá, nêu rõ tác dụng tích cực hoặc tiêu cực về mặt xã hội của hiện tượng

đó theo những chuẩn mực, khuôn mẫu, quan niệm về nhu cầu, lợi ích, mục tiêu xã hội của mình Như vậy, giá trị chỉ được xác định trong mối quan hệ giữa đối tượng giá trị và chủ thể giá trị

II LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

1 Khái niệm định hướng giá trị dưới góc độ của một số bộ môn khoa học

Khái niệm định hướng giá trị được các nhà khoa học xác định dưới nhiều góc độ khác nhau: triết học, tâm lý học, xã hội học…

- Dưới góc độ Triết học, định hướng giá trị là sự phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức con người hoặc một nhóm xã hội nào đó dưới dạng một hình mẫu, một mô hình hoàn thiện mà được mọi người thừa nhận, chấp nhận và thực thi Định hướng giá trị, vì vậy nó được quy định bởi các quan hệ

sản xuất thống trị cùng những đặc điểm tinh thần, tâm lý, và nhân cách; đến lượt nó định hướng giá trị chi phối, tác động đến sự ứng xử, hành động của các cá nhân trong mối quan hệ của họ với tự nhiên, xã hội

Vai trò của định hướng giá trị đối với hoạt động của con người được thể hiện ở chỗ nó trang bị cho con người những tri thức đúng đắn, khoa học

về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội Trên cơ sở đó, con người xác định mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động cho phù hợp Từ đó, con người với ý thức của mình xác định các biện pháp để thực hiện, tổ chức các hoạt động thực tiễn Cuối cùng, bằng sự nỗ lực và ý chí mạnh mẽ của mình, con người có thể thực hiện mục tiêu đề ra Ở đây, định hướng giá trị có thể là yếu tố quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công nếu như

nó phản ánh đúng đắn, sâu sắc hiện thực đời sống xã hội Do đó, định hướng giá trị là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp đúng đắn trong hoạt động của con người

- Dưới góc độ tâm lý học, định hướng giá trị có thể được coi là hệ thống những động cơ quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quy định sự lựa chọn các thái độ của nó Hệ thống động cơ là vấn đề trung tâm trong cấu trúc của nhân cách A.N.Lêônchiev quan niệm: “Hệ thống động cơ

Trang 5

được chủ thể xác định như là nhân tố hướng dẫn, thúc đẩy cá nhân hành động” Rubinstein cho rằng: “Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành

vi của con người bởi thế giới Sự quy định này đựoc thể hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động cơ đó”

Những yếu tố cơ bản cấu thành nên động cơ hành động, chi phối hoạt động của cá nhân – nhân cách chính là: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin,… Tổng thể những yếu tố này là động lực của hành vi, của hành động; nó là định hướng giá trị cho cá nhân hành động

* Vai trò của định hướng giá trị

Vai trò của định hướng giá trị đối với hoạt động của con người được thể hiện ở chỗ nó trang bị cho con người những tri thức đúng đắn, khoa học

về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội Trên cơ sở đó, con người xác định mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động cho phù hợp

Định hướng giá trị có thể là yếu tố quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công nếu như nó phản ánh đúng đắn, sâu sắc hiện thực đời sống xã hội Do đó, định hướng giá trị là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp đúng đắn trong hoạt động của con người

Định hướng giá trị là hình thức cơ bản để cá thể xâm nhập vào cấu trúc giá trị xã hội Tính lựa chọn của hành vi người tính quyết định luận trực

tiếp bằng cách biểu tượng về ý nghĩa giá trị cuộc sống của chính nó và cuộc sống của những người khác được triển khai trong định hướng giá trị Việc khẳng định các giá trị với tư cách là cái định hướng hoạt động người và tiếp theo là hành vi, thành lập nên tiền đề việc phân tích các cấu trúc giá trị xã hội, cấu trúc nhân cách kể cẩ cấp độ đồng nhất lẫn cấp độ khác biệt

Định hướng giá trị bao hàm trong nó sự thống nhất giữa ý thức và hành vi, nó được thể hiện ra trong quan hệ giữa con người với thế giới, với

người xung quanh, trong mọi hoạt động vật chất và tinh thần Hành vi chính

là chỉ báo xã hội cơ bản về mặt nội dung của định hướng giá trị

Với quan niệm đó thì định hướng giá trị vừa là tiêu chuẩn phân loại cá nhân, là cơ sở dự báo xã hội về hành vi của các cá nhân Định hướng giá trị của mỗi cá nhân được hình thành dưới tác động của môi trường xã hội, trong

đó các giá trị cá thể, giá trị nhóm xã hội, giá trị xã hội đồng thời tác động một cách không thụ động mà tích cực vào các quan hệ xã hội và tương tác xã hội Tương quan giữa các yếu tố cá nhân và yếu tố xã hội được xác định khá rõ bởi các điều kiện lịch sử cụ thể, bởi môi trường xung quanh con người cũng

như tâm thế xã hội của chính cá nhân đó

2 Quan điểm liên ngành triết học – xã hội học – tâm lý học về định

hướng giá trị

Định hướng giá trị là một hệ thống giá trị chuẩn phù hợp với yêu cầu của xã hội, có tính phổ biến, được nhiều người thừa nhận, công nhận và tuân thủ thực hiện, hệ thống giá trị đó có tác dụng vừa như là mục tiêu đối tượng phải chiếm lĩnh, vừa như là động cơ thúc đẩy con người nhận thức hoạt động

để hoàn thiện nhân cách, phát huy vai trò chủ thể của con người trong sự phát triển cá nhân, xã hội và tự nhiên

Trang 6

- Trước hết, định hướng giá trị là một hệ thống giá trị chuẩn phù hợp

với yêu cầu xã hội Đặc điểm cơ bản của hệ thống giá trị này là có tính phổ

biến và được mọi thành viên trong xã hội thừa nhận, chấp nhận và thực thi

chúng một cách tự giác

Hệ thống giá trị là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định, phản ánh tính toàn vẹn, hệ thống các chức năng đặc thù trong việc đánh giá nhân cách con người Một hệ giá trị là chỉ ra các thành phần của nó, những mối quan hệ giữa các thành phần, các yếu tố tạo nên một cấu trúc chỉnh thể của nhân cách Hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử, chịu sự chế ước của lịch sử Trong hệ giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, hiện tại và cả những nhân tố có thể có trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân loại, các giá trị có

tính dân tộc, các giá trị có tính cộng đồng, các giá trị có tính lý tưởng, các giá

trị có tính hiện thực…

Tại Hội thảo khoa học: “Con người Việt Nam và công cuộc đổi mới”

do chương trình KX – 07 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều báo cáo

đã khẳng định một tư tưởng chung là: hạt nhân cơ bản của thang giá trị, thước

đo giá trị và nhân phẩm con người Việt Nam ngày nay là các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc như yêu nước, lòng tự hào dân tộc, bản sắc dân tộc, trung với nước hiếu với dân, nhân nghĩa, cần cù thông minh, năng động sáng

tạo

- Thứ hai, định hướng giá trị là mục tiêu, đối tượng phải chiếm lĩnh

Có thể thấy, định hướng giá trị là mô hình chuẩn, phù hợp với đặc điểm, điều

kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia Đối với Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay, định hướng giá trị mà chúng ta đang hướng tới là: “xây dựng con người Việt nam phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Còn ở cấp độ xã hội, chúng ta

hướng tới xây dựng “một xã hội dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Ở cấp độ cá nhân, chúng ta phấn đấu xây dựng những định hướng giá

trị, những đặc trưng cơ bản của con người Việt Nam, đặc biệt là sinh viên - chủ thể tương lai của đất nước bao gồm:

+ Xây dựng con người Việt Nam có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ Đồng thời xã hội tạo ra những điều kiện về kinh tế, xã hội, chính trị,…

để con người thực hiện được quyền làm chủ đó

+ Xây dựng con người Việt Nam có tri thức sâu sắc về công việc mà mình đang đảm nhận, lao động có ý thức, kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản thân

+ Xây dựng con người Việt Nam sống có văn hoá, có tình nghĩa với anh, chị, em, bạn bè, mọi người xung quanh, biết được vị trí của mình trong từng mối quan hệ xã hội và giải quyết đúng đắn được những mối quan hệ xã hội đó Thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cá nhân

Trang 7

+ Xây dựng con người Việt Nam giầu lòng yêu nước, thương dân, có tình yêu thương giai cấp, yêu thương đồng loại, sống nhân văn, nhân đạo

Ở cấp độ xã hội, chúng ta hướng tới định hướng giá trị sau đây: “một

xã hội dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Cụ thể, chúng ta xây dựng một xã hội có những đặc trưng cơ bản sau đây:

+ Do nhân dân lao động làm chủ

+ Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

+ Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

+ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân

+ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

+ Có quan hệ hữu nghị, hợp tắc với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

Thứ ba, định hướng giá trị là động lực thúc đẩy con người nhận thức, hoạt động để hoàn thiện nhân cách, phát huy vai trò chủ thể của con người trong sự phát triển cá nhân, xã hội

Đây chính là tính hiện thực của định hướng giá trị Nó là hiện thực bởi

vì định hướng giá trị được xây dựng trên cơ sở những chất liệu vốn có trong hiện thực, nó phản ánh xu thế phát triển hợp quy luật của con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể Sống và hoạt động trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó, mỗi con người phải thường xuyên phân tích, đánh giá, chọn lọc, hệ thống hoá và khái quát hoá thực tại để đi đến xây dựng cho bản thân một định hướng giá trị cụ thể, hoàn hảo, mẫu mực, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình, là sức mạnh để thúc đẩy con người hoạt động để đạt được mục đích thực hiện

Có thể nói, định hướng giá trị là chuẩn mực cần hướng tới vừa như một động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người trong nhận thức và hành động có lập trường tư tưởng vững vàng, có ý chí kiên định, có nghị lực và quyết tâm vượt qua mọi trở ngại, thử thách, khó khăn nhằm đạt được mục tiêu mà cá nhân và xã hội lực chọn

3 Đặc điểm của định hướng giá trị

Cơ sở nảy sinh và tồn tại định hướng giá trị là kinh tế - xã hội Chính đời sống vật chất cùng toàn bộ các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đã sản sinh ra và quy định định hướng giá trị Trong xã hội có giai cấp, định hướng giá trị cũng có tính giai cấp, nó phản ánh, bảo vệ và duy trì lợi ích của giai cấp thống trị Định hướng giá trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa được được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, là sự sáng tạo của giai cấp công nhân cách mạng và nhân dân lao động nhằm mục tiêu: “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” Xây dựng định hướng giá trị mang tính thực tiễn, khoa học và nhân văn là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Định hướng giá trị có tính ổn định tương đối Vì là một yếu tố cấu

thành nên nhân cách và là một bộ phận không thể thiếu được của ý thức xã hội, nên so với sự biến đổi của đời sống vật chất xã hội chiều hướng chung của định hướng giá trị là chậm thay đổi hơn so với sự phát triển của kinh tế -

xã hội Mặt khác, định hướng giá trị là sự kết tinh những tư tưởng, quan điểm

đã được đúc kết rất lâu trong lịch sử, được các thế hệ gìn giữ, bổ sung, phát triển và truyền đạt cho nhau; định hướng giá trị còn phản ánh thực trạng đời sống vật chất, cơ sở kinh tế - xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, vì thế định hướng giá trị mang tính ổn định tương đối

4 Cấu trúc của định hướng giá trị

Nội hàm của khái niệm cấu trúc được xác định như sau:

hội, tồn tại và phát triển thông qua định hướng giá trị của các cá nhân trong xã hội Định hướng giá trị cá nhân là định hướng giá trị của từng cá nhân riêng

lẻ, trong đó nó vừa mang những nội dung nhất định của định hướng giá trị xã hội, vừa chứa đựng những yếu tố riêng lẻ vốn chỉ thuộc về định hướng giá trị

ở mỗi cá nhân, không lặp lại ở bất cứ cá nhân nào khác Như vậy, chúng ta không thể đồng nhất định hướng giá trị cá nhân và định hướng giá trị xã hội, đồng thời, cũng không thể xem định hướng giá trị cá nhân là một bộ phận của định hướng giá trị xã hội Trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay, toàn thể dân tộc ta đang phấn đấu xây dựng một nước Việt nam xã hội xã hội chủ nghĩa, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Chủ thể và đồng thời là sản phẩm của công cuộc cách mạng đó là những con người Việt Nam hiện đại cường tráng

về thể chất, phát triển về trí tuệ, có nhận thức, tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, đúng đắn, tiến bộ, có cuộc sống xã hội và cá nhân hài hòa phong phú Đó là định hướng gia trị mà chúng ta đang vươn tới Muốn làm được điều đó, nhất

thiết cần có sự thống nhất biện chứng giữa định hướng giá trị xã hội và định hướng giá trị các nhân để tạo ra được sức mạnh tổng hợp nhằm hiện thực hoá

những định hướng giá trị nêu trên

Theo các thành tố cơ bản trong cấu trúc của nhân cách, định hướng giá trị bao gồm: định hướng giá trị chính trị - xã hội, định hướng giá trị đạo đức, định hướng giá trị nghề nghiệp

- Định hướng giá trị chính trị - xã hội

- Định hướng giá trị đạo đức nhân văn

- Định hướng giá trị nghề nghiệp

- Định hướng giá trị thẩm mỹ

5 Chức năng của định hướng giá trị

Sự tồn tại của định hướng giá trị gắn liền với chức năng của định hướng giá trị Chức năng chung nhất của định hướng gí trị là duy trì, bảo vệ

Trang 9

hệ thống xã hội đang tồn tại với những chuẩn mực, khuôn mẫu giá trị trên cơ

sở của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, nó tạo điều kiện cho hành vi,

ý thức của con người đi đúng hướng, đồng thời định hướng giá trị cũng có vai trò hướng con người đến những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, nó làm cho

xã hội ổn định với những quan hệ xã hội giữa cá nhân và xã hội có tính văn hóa nhân văn

Cụ thể, người ta thường đưa ra ba chức năng cơ bản của định hướng giá trị:

Thứ nhất, định hướng giá trị điều chỉnh hành vi, hành động của cá nhân phù hợp với chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội nhằm tạo ra sự hài

hoà của mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Thức hai, chức năng kiểm soát hành động, hành vi sai trái, lệch lạc của

cá nhân so với những chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội Sự tồn tại và phát triển của bất cứ một xã hội nào cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh và kiểm soát đối với mối liên hệ giữa cá nhân và xã hôi tuân theo những lợi ích chung của xã hội, cũng như lợi ích của tập hợp xã hội nhất định

Thứ ba, chức năng định hướng hoạt động của các thành viên trong xã

hội, hướng hành vi hoạt động của cá nhân đến cái cao đẹp của cuộc sống mà được xã hội thừa nhận

6 Định hướng giá trị của sinh viên đại học hiện nay

Trang 10

Chương 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

2.1 ĐỊNH NGHĨA GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

2.2 CƠ SỞ KHÁCH QUAN CỦA GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

2.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội là nhân tố khách quan quy định nội dung, nhiệm vụ của giáo dục định hướng giá trị

Đây chính là mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng (điều kiện kinh tế - xã hội) với Kiến trúc thượng tầng (Giáo dục định hướng giá trị)

2.2.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử và bối cảnh văn hóa xã hội chi phối tính chất, đặc điểm của giáo dục định hướng giá trị

2.3.1 Mục tiêu của giáo dục định hướng giá trị

2.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục định hướng giá trị

2.3.3 Đặc điểm cơ bản của giáo dục định hướng giá trị

2.4 NỘI DUNG CỦA GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

2.4.1 Những hướng chính trong nội dung của giáo dục định hướng giá trị

* Giáo dục định hướng giá trị về chính trị - xã hội

- Định hướng giá trị chính trị - xã hội là những quan niệm hướng tới

một xã hội phát triển, tiến bộ, có tổ chức cao, trong đó người lao động được

tự do, bình đẳng và tự giác, có quyền làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân

mình

Định hướng giá trị chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay được Đảng cộng sản Việt Nam chỉ ra trong Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, được cụ thể hoá qua các Đại hội VIII và IX là:

Thứ nhất, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền dân chủ, làm chủ, quyền lực của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi tội phạm và kẻ thù của nhân dân

Thứ hai, phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chủ nghĩa xã hội, không ngừng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân

Trang 11

tảng cho cả nền kinh tế quốc dân, từng bước phát triển kinh tế tri thức một cách phù hợp, có hiệu quả và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm nguyên tắc chủ đạo

Thứ tư, định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo đời sống tinh thần của đất nước Kế thừa và phát huy tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa có trí tuệ, đạo đức, lối sống, phong cách,… có văn hoá, văn minh, có thể chất và đời sống thẩm mỹ lành mạnh Đấu tranh loại trừ các biểu hiện phản văn hoá, văn minh, phi đạo lý, đạo đức,… trái với giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ, trái với mục tiêu và bản chất xã hội chủ nghĩa

Thứ năm, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tập hợp mọi lực lượng tán thành và đấu tranh vì mục tiêu chung: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác, hữu nghị, bình đẳng, độc lập và cùng có lợi với các nước, các tổ chức quốc tế,…

Thứ sáu, thực hiện tốt quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, gắn chặt kinh tế với quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,…

Thứ bảy, thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng cộng sản Việt Nam theo phương châm: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng

là then chốt… để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín đáp ứng vai trò lãnh đạo của xã hội ta trên mọi lĩnh vực trước những yêu cầu ngày càng cao hơn, với những vận hội mới và cả những thách thức mới

* Giáo dục định hướng giá trị về nghề nghiệp

là những quan niệm về một nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân và nghề nghiệp này được xã hội thừa nhận, có lợi cho bản thân, gia đình và xã hội

* Giáo dục định hướng giá trị về ý thức pháp luật

* Giáo dục định hướng giá trị về đạo đức, lối sống

Chúng ta và cả cộng đồng nhân loại vừa trải qua những thập niên cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai với những biến động dữ dội mang tính toàn cầu

để bước sang thiên niên kỷ thứ ba chắc cũng sẽ lại diễn ra với những biến động khó lường Đó là những biến động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn hoá, khoa học - công nghệ; từ cuộc sống của mỗi con người đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại Tất cả những biến động ấy đang và sẽ dẫn các quốc gia, dân tộc tới sự liên kết khu vực và quốc tế bằng quá trình toàn cầu hoá

Toàn cầu hoá, về thực chất, là sự hội nhập toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là một quá trình tất yếu, khách quan, hợp quy luật và không thể đảo ngược Toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế,

Trang 12

theo hướng phát triển kinh tế thị trường đã cho phép các nước có trình độ phát triển khác nhau hội nhập khu vực và quốc tế Toàn cầu hoá kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường khi mà thang giá trị và chuẩn giá trị ở các nước còn nhiều khác biệt đang đặt ra những vấn đề cấp bách cho mọi quốc gia, dân tộc trong việc định hướng giá trị nói chung, định hướng các giá trị đạo đức truyền thông nói riêng Bởi lẽ, nền kinh tế thị trường với những nguyên tắc vận hành và phát triển riêng của nó đang có ảnh hưởng sâu sắc cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực tới mọi mặt đời sống xã hội, tới hệ thống các giá trị, các quy phạm đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống và nhân cách con người trong một quốc gia, dân tộc Phát triển kinh tế thị trường không chỉ làm nảy sinh quá trình xâm nhập, bổ sung lẫn nhau giữa các hệ thống giá trị, các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc ứng xử truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, mà còn làm xuất hiện cả sự tác động, xung đột, bổ sung lẫn nhau giữa các giá trị đó Cùng với đó, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường khi mà trình độ phát triển của các quốc gia, dân tộc không có cùng một mức độ, sự chênh lệch về khả năng trong lĩnh vực truyền thông đại chúng khá lớn thì sự áp đặt về thông tin, sự áp đặt các giá trị

và các chuẩn giá trị cùng với lối sống của một số quốc gia, dân tộc này lên một số quốc gia, dân tộc khác là một thực tế

Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc đều phải cố cách thức riêng của mình để vừa có thể hội nhập, vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa thế giới, qua

đó làm phong phú thêm văn hoá của dân tộc mình, đất nước mình, lại vừa không làm mất đi bản sắc dân tộc và các giá trị văn hoá truyền thống Do vậy, trong bối cảnh này, vấn đề xác định, định hướng giá trị nói chung, giá trị đạo đức nói riêng, để trên cơ sở đó, có sự nhận thức sâu sắc và định hướng đúng đắn việc xây đựng một hệ chuẩn đạo đức mới là điều hết sức cần thiết và cấp bách

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã khẳng định: "Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc

tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa

và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam; đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hoá độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc Khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn"(1) Do vậy để có một hệ chuẩn đạo đức mới, chúng ta không chỉ xác định xem cần phải kế thừa, duy trì, phát triển những yếu tố nào) phê phán, gạt bỏ những yếu tố nào trong đạo đức truyền thống mà còn xác định xem cần phải tiếp thu những yếu tố nào, gạt bỏ, ngăn chặn những yếu tố nào trong hệ thống giá trị và quy tắc ứng xử

đi liền với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường để trên

cơ sở đó, xây dựng một nền đạo đức Việt Nam trong sáng, lành mạnh, giàu tính dân tộc và hiện đại, mang đậm tính nhân văn

Với tư cách là yếu tố cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, giá trị đạo đức được xác đinh là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi

Trang 13

con người Trong tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người, hệ thống giá trị tinh thần của đời sống xã hội nói chung, các giá trị đạo đức nói riêng luôn được coi là yếu tố cấu thành diện mạo của một thời đại, một xã hội, một dân tộc, một nền văn hoá và của nhân cách con người Và do vậy, mọi phương thúc thành định, định hướng giá trị nói chung, giá trị đạo đức nói riêng, đều phải dựa trên cơ sở tính ổn định tương đối của các giá trị đó Song, ngay cả khi đã xác định được tính ổn định tương đối của các giá trị đó, thì việc thẩm định, định hướng giá trị cũng không phải vì thế mà trở nên đơn giản, dễ dàng Bởi lẽ, trong các cách quan niệm, thậm chí ngay cả trong một cách quan niệm về các phạm trù đạo đức, các giá trị đạo đức, thì bên cạnh sự thống nhất lại luôn có những sự khác biệt, thậm chí còn đối lập nhau Những

sự khác biệt, đối lập đó thể hiện ra cả ở phương điện ý thức đạo đức lẫn hành

vi đạo đức và lối ứng xử của cá nhân, của những tập đoàn, những nhóm người khác nhau trong một cộng đồng xã hội Cùng một hành vi, cùng một lối ứng

xử song có người cho là đúng, có người cho là sai, có người cho là cao đẹp,

có người lại cho là thấp hèn

Theo quan điểm phát triển của triết học Mác, những khác biệt đó, đối lập đó trong hệ các giá trị đạo đức là sự phản ánh quá trình vận động và phát triển thường xuyên của các giá trị đạo đức, và suy cho cùng thì đó là biểu hiện hợp quy luật của quá trình vận động phát triển của đời sống tinh thần xã hội dưới tác động của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội Khi nền tảng kinh tế - xã hội thay đổi rất sẽ dẫn đến những thay đổi trong đời sống tinh thần của xã hội, đến những thay đổi trong hệ thống giá trị tinh thần xã hội Đạo đúc là một hình thái ý thức xã hội, và do đó, cũng như mọi hình thái

ý thức xã hội khác, nó phản ánh tồn tại xã hội và thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của tồn tại xã hội Nói về ảnh hưởng của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội đối với quá trình hình thành quan niệm của con người về đạo đức và các giá trị đạo đức, Ph.Ănghen khẳng định: "Con người đã tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”

Bởi vậy, khi phán xét, thẩm định một hiện tượng đạo đức, một giá trị đạo đức nào đó, chúng ta không thể dừng lại ở chỗ lý giải nội dung khái niệm của nó mà phải đi sâu tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, nền tảng kinh tế - xã hội, nghĩa là phải tìm hiểu tồn tại xã hội đã sản sinh ra nó Đạo đức luôn thay đổi theo tồn tại xã hội, và do vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, không thể có thứ đạo đức tồn tại vĩnh viễn Đề cập đến quan niệm thiện ác, đến sự đối lập thiện ác - "sự đối lập vận động trong lĩnh vực đạo đức, tức là một lĩnh vực thuộc về lịch sử loài người", Ph.Ăngghen khẳng định:"Chính trong lĩnh vực này, những chân lý tuyệt đỉnh cuối cùng hiếm có hơn hết Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau"(3) Trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch

Trang 14

hoá tập trung sang mô hình kinh tế thị trường, sự chuyển đổi các giá trị đạo đức là điều không tránh khỏi Song, điều đó không có nghĩa là khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường, mọi quan niệm đạo đức đều bị lật nhào, mọi giá trị đạo đức đều lập tức thay đổi Những quan niệm đạo đức hợp lý, đúng đắn, những giá trị đạo đức truyền thống không vì thế mà lập tức thay đổi Những quan niệm đạo đức, các giá trị đạo đức tiêu biểu cho các giai đoạn khác nhau của cùng một quá trình phát triển lịch sử và có một cơ sở lịch sử chung, thì giữa chúng không thể không có nhiều yếu tố chung

Và theo Ph.Ăngghen, "đối với những giai đoạn phát triển kinh tế giống nhau hay gần giống nhau thì những học thuyết về đạo đức tất phải ít nhiều trùng hợp với nhau”(4) Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch

sử, đạo đức, cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, trong quá trình phát triển của nó có tính độc lập tương đối Những lực lượng xã hội mới thường mượn những quan niệm đạo đức của thời đại trước, giai đoạn trước, cải tạo lại, gạt bỏ những cái gì không còn phù hợp, giữ lại những cái tốt đẹp, phù hợp với các quan hệ kinh tế - xã hội mới, với lợi ích của họ Vả lại, trong quá trình chuyển đổi các giá trị đạo đức, những tập quán và truyền thống dân tộc luôn đóng một vai trò to lớn Thông qua tập quán và truyền thống dân tộc mà rất nhiều quan niệm, quy tắc, giá trị đạo đức cũ được giữ lại, được kế thừa và phát huy trong bối cảnh của đời sống xã hội mới ngay cả khi những điều kiện

xã hội đã sản sinh ra chúng không còn nữa Đó là chúng ta còn chưa kể tới sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội mà đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội ấy Chỉ riêng tính độc lập

và ổn định tương đối của đạo đức, quy luật phát triển nội tại của nó, ảnh hưởng và sự tác động qua lại của nó đối với các hình thái ý thức xã hội khác cũng đã đủ nói lên tính phức tạp của việc thẩm định, định hướng giá trị đạo đức trong bối cảnh chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang

mô hình kinh tế thị trường, đặc biệt là sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nếu kể thêm hàng loạt vấn đề có tính quy luật khác như: quan hệ giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan, giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, giữa tính dân tộc và tính quốc tế, giữa xu hướng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và xu hướng mở cửa, hội nhập, giao lưu với các nền văn hoá trong khu vực và quốc tế giữa phương thức xã hội hoá và cá thể hoá đời sống đạo đức trong việc hình thành nhân cách con người, v.v , thì việc thẩm định các chuẩn mực, giá trị đạo đức, việc định hướng các giá trị đạo đức trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường lại càng phức tạp hơn nhiều Điều đó nói lên rằng trong đời sống xã hội ta hiện nay, những biểu hiện không thuần nhất, thậm chí khác biệt, đối lập trong các quan niệm đạo đức, trong các xu hướng thẩm định, định hướng giá trị đạo đức là điều khó tránh khỏi

Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch sử, của sự phát triển kinh tế - xã hội và mang tính thực tiễn - lịch sử cụ thể, các giá trị đạo đức được xác đinh là tất cả những gì đem lại sự phát triển, sự tiến bộ cho xã hội và cho bản thân con người Bởi thế, mọi giá trị đạo đức đều phải hướng tới tính nhân văn đó

Trang 15

Nói cách khác, do chỗ con người là vốn quý nhất, là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia, "là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới", nên mọi giá trị đạo đức đều phải hướng tới việc phát triển con người toàn diện, thiết lập quan

hệ thực sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người với con người trong sản xuất và trong đời sống, "hướng con người tới cái đúng, cái thiện, cái đẹp", để trên cơ

sở đó, "xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái" Từ lâu, Chân - Thiện - Mỹ

đã được chúng ta quan niệm là trụ cột tinh thần trong đời sống con người và

xã hội Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường, nền đạo đức mới mà chúng ta đang xây dựng càng phải hướng tới hệ giá trị tinh thần này, coi đó như là nhân tố chủ đạo chi phối toàn

bộ mục đích sống, lẽ sống, lý tưởng sống của mỗi một con người, mỗi cá nhân trong xã hội Phát huy cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn vốn là nét đẹp trong truyền thống văn hoá Việt Nam càng phải được đề cao Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là: khi chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình kinh tế thị trường, Chân - Thiện - Mỹ phải chăng là hệ giá trị duy nhất đúng

và thống nhất trong quan niệm của tất cả mọi người về mục đích sống, lẽ sống, lý tưởng sống? Nói mục đích sống, lẽ sống, lý tưởng sống gắn với hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ, người ta thường thiên về quan niệm lấy đạo đức xã hội truyền thống với những biểu hiện của nó như là sự tận tuỵ, đức hy sinh, chủ nghĩa nhân đạo, lòng vị tha và thái độ sống đặt lợi ích của người khác và của xã hội lên trên lợi ích cá nhân làm nền tảng Có thể nói đây là quan niệm đang giữ vị trí "ưu trội" trong xã hội ta Song, gần với quan niệm này là quan niệm gắn mục đích sống, lẽ sống, lý tưởng sống với hệ giá trị Thiện - Ích -

Mỹ Cách quan niệm này không giống cách quan niệm lấy Chân - Thiện - Mỹ làm định hướng giá trị về hình thức, thành phần, thứ bậc của những định hướng giá trị chi phối mục đích sống, lẽ sống, lý tưởng sống của con người Trong cách quan niệm này, người ta thường nhấn mạnh phạm trù "lợi ích", nhấn mạnh tính có ích trong mọi hành vi, mọi quan hệ cũng như mọi lĩnh vực hoạt động của con người Điểm hợp lý của quan niệm này là ở chỗ, vấn đề lợi ích luôn được coi là vấn đề giữ vai trò quyết định trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

* Giáo dục định hướng giá trị về thẩm mỹ…

Là những quan niệm về cái đẹp, cái cao cả, mà cơ sở của nó là tư tưởng về sự phát triển toàn diện những năng lực sáng tạo của mỗi người, là sự kết hợp hài hoà giữa sự phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức và hoàn thiện về thể chất, sự phù hợp, hài hòa giữa đời sống xã hội và cá nhân

2.4.2 Kinh nghiệm giáo dục định hướng giá trị ở một số nước và những bài học thực tiễn

Trang 16

cơ bản của con người cần xây dựng trong thời đại ngày nay:

1 Hoà bình: hoà bình cho thế giới hay sự bình an trong mỗi con người, được xây dựng từ những tư tưởng tích cực, từ những tình cảm trong sáng và những mong muốn tốt đẹp cho cuộc sống

2 Tôn trọng: nhận biết những giá trị của bản thân và tôn trọng giá trị của người khác sẽ góp phần tạo nên mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng

3 Hợp tác: là cùng chung sức giúp đỡ nhau nhằm đạt đến một mục đích chung dựa trên niềm tin, tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau

4 Đoàn kết: mang lại cảm hứng cho cá nhân và những thành tựu tập thể lớn hơn

5 Trách nhiệm: khi mỗi cá nhân cố gắng làm tròn bổn phận đối với bản thân, gia

đình và cộng đồng; thế giới có thể tồn tại và phát triển tốt đẹp

6 Khoan dung: biết chấp nhận và bỏ qua lỗi lầm của người khác là cách để tạo nên một cuộc sống chung hoà hợp

7 Khiêm tốn: là nhận biết được sức mạnh của chính mình mà không khoe khoang

8 Giản dị: là vẻ đẹp có được khi chúng ta nhận ra cốt lõi của sự việc

và đừng làm cho mọi thứ trở nên phức tạp

9 Trung thực: là không có sự khác biệt giữa tư tưởng, lời nói và hành động nhằm giúp cho mọi người gần nhau hơn

10 Yêu thương: là chăm sóc, chia sẻ và luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất

đến với bản thân mình và đến với người khác

11 Tự do: là không để bị tác động và có khả năng làm theo ý muốn của bản thân dựa trên cơ sở hiểu biết được quy luật của cuộc sống

Trang 17

12 Hạnh phúc: hạnh phúc đích thực chỉ có thể tìm thấy ở chính mình Hạnh phúc khi được chia sẻ sẽ nhân lên gấp bội lần

II NỘI DUNG GIÁO DỤC CÁC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1 Hòa bình

1.1 Quan niệm về hòa bình

- Hòa bình không chỉ là sự vắng bóng của chiến tranh

- Chỉ có trong một bầu không khí phi bạo lực, biết lắng nghe, chấp nhận, có sự công bằng và giao tiếp rõ ràng, thông suốt mà nền hòa bình thế giới mới được vững mạnh

- Hòa bình khởi nguồn từ chính mỗi người chúng ta

- Nếu mỗi người đều cảm thấy bình yên trong lòng thì hòa bình sẽ ngự trị khắp nơi trên thế giới

- Tính chân thực của hành động phụ thuộc vào sự chân thực của từng cá nhân

- Bình an là một trạng thái tinh thần điềm tĩnh và thư giãn

- Bình an là sự tĩnh lặng, thanh thản bên trong mỗi con người cùng với sức mạnh của chân lý, sự thật

- Bình an có được khi mọi tư tưởng, tình cảm và ước muốn của con người đều trong sáng

- Bình an là một nguồn năng lượng tích cực

- Để sống trong bình an, ta cần có lòng trắc ẩn và sức mạnh từ nội tâm

- Thanh bình không có nghĩa là vắng bóng sóng gió mà chính là ta vẫn giữ được lòng an bình giữa những biến động, hỗn loạn

- Hòa bình là đặc trưng nổi bật của một “Xã hội văn minh”

- “Hòa bình cần phải bắt đầu từ mỗi người chúng ta

1.2 Các bài học cơ bản về hòa bình

Bài học cơ bản 1: CÁC GIÁ TRỊ CỦA TÔI

* Mục đích:

Thảo luận để hiểu rõ hơn một thế giới tốt đẹp là như thế nào, đồng thời

tự suy ngẫm để khám phá Giá trị ở mỗi cá nhân

Bài học cơ bản 2: HÌNH DUNG VỀ MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH

* Mục đích:

- Hình dung và truyền đạt các ý tưởng về một thế giới Hòa bình

- Hình dung về một thế giới Hòa bình và chia sẻ những ý tưởng có liên quan đến bản thân, người khác, và thế giới

Bài học cơ bản 3: SỰ ĐỐI LẬP GIỮA MỘT THẾ GIỚI HÒA

Ngày đăng: 19/11/2017, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w