1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương chi tiết học phần thương mại điện tử

75 223 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 731 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung về vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động thương mại điện tử: các quy định về thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, an toàn an ninh mạng, tính

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Mô tả môn học Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về

thương mại điện tử: Các mô hình kinh doanh thương mại điệntử; Các vấn đề chính - pháp lý, hạ tầng kỹ thuật và cung cấp giảipháp - trong các chiến lược phát triển thương mại điện tử; Cácgiải pháp công nghệ trong việc xây dựng các ứng dụng thươngmại điện tử

Trang bị cho sinh viên kỹ năng tiếp cận, khai thác và sử dụngnhững thông tin mạng Internet phục vụ cho các hoạt độngnghiên cứu và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Số bài kiểm tra ngắn: 05Điểm thi kết thúc học phần: (50%)

- Thời lượng: 60’

- Hình thức: tự luậnTài liệu học tập Giáo trình chính:

[1]; TS Trần Văn Hòe, Giáo trình thương mại điện tử căn bản,

NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2007

[2]; Báo cáo Thương mại điện tử qua các năm, Vụ Thương mại

điện tử, Bộ Thương mại

[3]; Dương Tố Dung, Cẩm nang thương mại điện tử cho doanh nhân, NXB Lao Động, 2007.

2 Mục tiêu và nội dung học phần

1 Sinh viên hiểu được bản chất

của hoạt động thương mại điện

tử, những lợi ích và hạn chế của

thương mại điện tử, đồng thời

nắm được tình hình phát triển

thương mại điện tử trên thế giới

và tại Việt Nam

Chương 1: Khái quát vềthương mại điện tử

Giảng, thảo luận nhóm, tài liệu [1], [2], [3]

2 Sinh viên hiểu được các mô Chương 2: Các mô hình Giảng, thảo luận nhóm, tài liệu [1],

Trang 2

hình kinh doanh thương mại

điện tử, phân biệt được hình

thức hoạt động, hình thức giao

dịch và mô hình kinh doanh

thương mại điện tử

kinh doanh thương mạiđiện tử

[2], [3]

3 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức cơ bản về cơ sở

hạ tầng mạng thương mại điện

tử: Internet, Intranet, Extranet,

các nhà cung cấp dịch vụ …

đồng thời nắm được những điều

kiện cơ bản cần có khi tham gia

vào thương mại điện tử

Chương 3: Cơ sở hạ tầngmạng của thương mại điệntử

Giảng, thảo luận nhóm, tài liệu [1], [2], [3]

4 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức chung về vấn

đề pháp lý liên quan đến hoạt

động thương mại điện tử: các

quy định về thông điệp dữ liệu,

chữ ký điện tử, an toàn an ninh

mạng, tính bảo mật…

Chương 4: Môi trườngpháp lý trong thương mạiđiện tử

Giảng, thảo luận nhóm, tài liệu [1], [2], [3]

5 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức cơ bản làm nền

tảng cho việc triển khai hoạt

động thương mại điện tử: xây

dựng chiến lược, vấn đề tiếp thị

trực tuyến, quy trình xây dựng

và triển khai…

Chương 5: Triển khai vàquản lý hoạt động thươngmại điện tử

Giảng, thảo luận nhóm, tài liệu [1], [2], [3]

3 Kế hoạch đánh giá điểm quá trình học phần

Mục tiêu Mức độ yêu cầu đạt được

Hình thức đánh giá

Viết Vấn

đáp

Bài tậpnộp

Tiểuluận

1 Sinh viên hiểu được bản chất

của hoạt động thương mại điện

tử, những lợi ích và hạn chế của

thương mại điện tử, đồng thời

nắm được tình hình phát triển

thương mại điện tử trên thế giới

và tại Việt Nam

- Hiểu khái niệm, đặc trưng của hoạt động thương mại điện tử

- Nắm được những lợi ích

và hạn chế của TMĐT

- Nắm được tình hình phát triển TMĐT của VN và thếgiới

X

2 Sinh viên hiểu được các mô

hình kinh doanh thương mại

- Hiểu các bản chất các môhình kinh doanh TMĐT

X

Trang 3

điện tử, phân biệt được hình

thức hoạt động, hình thức giao

dịch và mô hình kinh doanh

thương mại điện tử

(đặc điểm, ưu nhược điểm,

áp dụng)

- Lấy ví dụ website TMĐT, phân tích mô hình kinh doanh áp dụng

3 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức cơ bản về cơ sở

hạ tầng mạng thương mại điện

tử: Internet, Intranet, Extranet,

các nhà cung cấp dịch vụ …

đồng thời nắm được những điều

kiện cơ bản cần có khi tham gia

vào thương mại điện tử

- Nắm được cơ sở hạ tầng mạng của TMĐT bao gồm những yếu tố nào

- Biết được trình tự thực hiện khi xây dựng website TMĐT

X

4 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức chung về vấn

đề pháp lý liên quan đến hoạt

động thương mại điện tử: các

quy định về thông điệp dữ liệu,

chữ ký điện tử, an toàn an ninh

mạng, tính bảo mật…

- Nắm được những vấn đề pháp lý chung liên quan đến TMĐT

- Biết được những tổ chức thế giới có liên quan đến việc hình thành các quy định pháp lý liên quan TMĐT

- Nắm được các quy định

về TMĐT của pháp luật Việt Nam

X

5 Cung cấp cho sinh viên

những kiến thức cơ bản làm nền

tảng cho việc triển khai hoạt

động thương mại điện tử: xây

dựng chiến lược, vấn đề tiếp thị

trực tuyến, quy trình xây dựng

và triển khai…

- Biết cách trình bày một chiến lược TMĐT

- Nắm được quy trình thực hiện TMĐT

- Hiểu được ý nghĩa và nội dung của tiếp thị trực tuyến

X

4 Kế hoạch đánh giá kết thúc học phần

Nội dung đánh giá Các nội dung trọng tâm:

- Kiến thức chung về thương mại điện tử

- Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử

- Các hình thức hoạt động thương mại điện tử

- Các vấn đề pháp lý liên quan hoạt động thương mại điện tử

Trang 4

- Triển khai hoạt động kinh doanh thương mại điện tử

Các nội dung nâng cao:

- - Chiến lược kinh doanh thương mại điện tử

- - Các vấn đề cơ sở hạ tầng mạng TMĐT

5 Đề cương chi tiết học phần

1 Chương I GIỚI THIỆU VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

1.1.2 Đặc trưng của thương mại điện tử

1.2 Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử

1.2.1 Lợi ích của thương mại điện tử

1.2.2 Hạn chế của thương mại điện tử

1.3 Các cấp độ áp dụng thương mại điện tử của doanh

nghiệp

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển thương mại điện tử

1.5 Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

Lý thuyết: 4 tiếtThảo luận: 2 tiết

2 Chương II CÁC MÔ HÌNH KINH DOANH THƯƠNG

MẠI ĐIỆN TỬ

2.1 Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử

2.1.1 Phân loại theo chủ thể tham gia

2.1.2 Phân loại theo công nghệ kết nối mạng

2.1.3 Phân loại theo hình thức dịch vụ

2.2 Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử

2.2.1 Mô hình cửa hàng điện tử

2.2.2 Mô hình đấu giá

2.2.3 Mô hình cổng giao tiếp

2.2.4 Mô hình định giá động

2.2.5 Một số mô hình khác

Lý thuyết: 6 tiếtThảo luận: 4 tiết

3 Chương III CƠ SỞ HẠ TẦNG MẠNG TRONG

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

3.1 Mạng máy tính & internet

3.2 Trang tin liên kết toàn cầu

3.3 Cơ sở dữ liệu

Lý thuyết: 4 tiếtThảo luận: 2 tiết

4 Chương IV MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ TRONG

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

4.1 Các vấn đề chính về luật trong thương mại điện tử

4.2 Bí mật cá nhân và cách bảo vệ

Lý thuyết: 6 tiếtThảo luận: 2 tiết

Trang 5

4.3 Quyền sở hữu trí tuệ và cách bảo vệ.

4.4 Thanh toán trực tuyến và an toàn mạng

4.5 Hợp đồng điện tử

4.6 Tình hình luật thương mại điện tử ở Việt Nam.

5 Chương V TRIỂN KHAI & QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

5.1 Chiến lược kinh doanh thương mại điện tử

5.2 Dịch vụ khách hàng trực tuyến

5.3 Tiếp thị trực tuyến

5.4 Quy trình thương mại điện tử

5.5 Triển khai hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam

Lý thuyết: 4 tiếtThảo luận: 2 tiết

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I.1 Mục tiêu chương 1

Chương 1 trình bày một cách khái quát các vấn đề cơ bản của thương mại điện

tử Sau khi học xong, sinh viên phải nắm được khái niệm, đặc trưng, các lợi ích cũngnhư các mặt hạn chế của thương mại điện tử; tình hình áp dụng và phát triển củathương mại điện tử tại Việt Nam và trên thế giới

I.2 Tóm tắt nội dung

- Khái niệm và đặc trưng của thương mại điện tử

- Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử

- Các cấp độ của thương mại điện tử

- Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam và thế giới

I.3 Các nội dung cụ thể

A Nội dung lý thuyết

1.1 Khái niệm về thương mại điện tử.

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử (EC hay E.Commerce hay Electronic Commerce) đang trởthành phương thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại trên cơ sở sự pháttriển nhanh chóng của các ngành công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin Chính vìvậy, thương mại điện tử đang và sẽ trở thành phương thức kinh doanh đại diện cho nềnkinh tế tri thức và là nhân tố kinh tế có ý nghĩa toàn cầu Hiện nay, tất cả các quốc giatrên thế giới ít hay nhiều đều tham gia và tập trung nguồn lực phát triển thương mạiđiện tử

Có cách tiếp cận khác nhau về thương mại điện tử:

Theo nghĩa rộng: Thương mại điện tử là các giao dịch tài chính và thương mạibằng phương tiện điện tử: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử, các hoạt độnggửi rút tiền bằng thẻ tín dụng

Theo nghĩa hẹp: Thương mại điện tử bao gồm các hoạt động thương mại đượcthực hiện thông qua mạng Internet (Cách tiếp cận này đồng nghĩa E.Commerce với E.Trade)

Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới: Thương mại điện tửbao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán vàthanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sảnphẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet

Trang 7

Theo cách định nghĩa của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc:Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền

dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet

Tóm lại có thể hiểu Thương mại điện tử là khái niệm để mô tả quá trình mua vàbán hoặc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin qua mạng máy tính, kể cả internet.Trên thực tế, nhiều người sử dụng thuật ngữ kinh doanh điện tử (E.Business hayElectronic Business) để chỉ phạm vi rộng hơn thương mại điện tử Đó không chỉ là quátrình mua và bán mà còn là dịch vụ khách hàng, kết nối với các đối tác kinh doanh,thực hiện các giao dịch điện tử trong phạm vi một tổ chức Do vậy có thể hiểuE.Commerce là một phần của E.Business

Xem xét thương mại điện tử theo mức độ số hóa, ta có thương mại điện tử hoạtđộng phụ thuộc vào mức độ số hóa của 3 yếu tố cơ bản là sản phẩm – dịch vụ, quátrình giao dịch và chủ thể tham gia giao dịch, sự kết hợp 3 yếu tố này mô tả trong môhình không gian 3 chiều, tạo thành 8 khối tương ứng với mức độ ứng dụng thương mạiđiện tử

Hình 1.1 Thương mại điện tử theo mức độ số hóa 1.1.2 Đặc trưng của thương mại điện tử

Thương mại điện tử có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Thương mại điện tử không thể hiện các văn bản giao dịch trên giấy Tất cả cácvăn bản đều có thể thể hiện bằng các dữ liệu tin học, các băng ghi âm, hay các phươngtiện điện tử khác Đặc trưng này làm thay đổi căn bản văn hóa giao dịch bởi lẽ độ tincậy không còn phụ thuộc vào cam kết bằng giấy tờ mà bằng niềm tin lẫn nhau giữa cácđối tác

Quá trình hữu hình

Quá trình

số hóa

Quá trình ảo

TM truyền thống

TMĐT mức cao

Trang 8

- Thương mại điện tử phụ thuộc công nghệ và trình độ công nghệ thông tin củangười sử dụng Để phát triển thương mại điện tử cần phải xây dựng và không ngừngnâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thươngmại điện tử như mạng máy tính và khả năng tiếp nối của mạng cới các cơ sở dữ liệuthông tin toàn cầu.

- Thương mại điện tử phụ thuộc vào mức độ số hóa Tùy thuộc vào mức độ sốhóa của nền kinh tế và khả năng hội nhập số hóa với nền kinh tế toàn cầu mà thươngmại điện tử có thể đạt được các cấp độ từ thấp đến cao

- Thương mại điện tử có tốc độ nhanh Nhờ áp dụng kỹ thuật số nên tất cả cácbước của quá trình giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máy tính Ngôn ngữcủa công nghệ thông tin cho phép rút ngắn độ dài của các văn bản giao dịch Các dịch

vụ phần mềm ngày càng hoàn hảo, tốc độ đường truyền nhanh cho phép rút ngắn thờigian soạn thảo, giao tiếp và ký kết các văn bản giao dịch điện tử.Tất cả các điều này đãlàm cho thương mại điện tử đạt tốc độ nhanh nhất trong các phương thức giao dịch

1.2 Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử

1.2.1 Lợi ích của thương mại điện tử

Có thể nói sự áp dụng rộng rãi thương mại điện tử đã mang lại những lợi ích tolớn cho sự phát triển xã hội và kinh tế toàn cầu Thương mại điện tử tạo ra bản chấttoàn cầu của công nghệ, cắt giảm chi phí, tạo cơ hội để tiếp cận hàng triệu người trongmột thời gian ngắn, tạo ra sự tương tác lẫn nhau và kích thích tính năng động, tạo ranhiều khả năng và khai thác tối đa các nguồn lực, tạo ra sự tăng trưởng nhanh của cơ

sở hạ tầng trợ giúp làm tăng lợi ích tiềm năng của các tổ chức và cá nhân toàn xã hội

- Đối với các tổ chức: Thương mại điện tử có các lợi ích sau:

+ Thương mại điện tử giúp tổ chức dễ dàng mở rộng phạm vi giao dịch trên thịtrường toàn cầu

+ Thương mại điện tử làm giảm chi phí thu thập, xử lý, phân phối, lưu trữ và sửdụng thông tin

+ Thương mại điện tử tạo ra khả năng chuyên môn hóa cao trong kinh doanh đặcbiệt là đối với doanh nghiệp thương mại

+ Thương mại điện tử góp phần giảm lượng tồn kho và đòi hỏi về cơ sở vật chất

kỹ thuật thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dây chuyền cung ứng kéo.+ Thương mại điện tử làm giảm thời gian từ khi thanh toán tiền đến khi nhậnhàng hóa, dịch vụ

+ Thương mại điện tử kích thích sự sáng tạo và tạo điều kiện để khởi động những

dự án kinh doanh mới, tăng khả năng thành công của các phương án kinh doanh

Trang 9

+ Thương mại điện tử làm giảm chi phí viễn thông trong quá trình giao tiếp, đàmphán và ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ.

+ Thương mại điện tử góp phần cải thiện hình ảnh doanh nghiệp, nâng cao chấtlượng dịch vụ khách hàng, tìm kiếm đối tác kinh doanh, đơn giản hóa quá trình kinhdoanh

- Đối với người tiêu dùng:

+ Thương mại điện tử cho phép khách hàng mua sắm và thực hiện giao dịch24/24h trong ngày, tất cả các ngày trong năm và không giới hạn bởi phạm vi địa lý.+ Thương mại điện tử cung cấp cho khách hàng nhiều sự chọn lựa từ sản phẩm,dịch vụ, phương thức thanh toán

+ Thương mại điện tử làm giảm chi tiêu cho khách hàng về sản phẩm, hàng hóa,dịch vụ họ nhận được thông qua so sánh nhằm có được mức giá cả tốt nhất

+ Thương mại điện tử giúp khách hàng lựa chọn được nhà cung ứng phù hợp cókhả năng giao hàng nhanh nhất

+ Thương mại điện tử thúc đẩy cạnh tranh dẫn đến viêc giảm giá bền vững.+ Thương mại điện tử tạo khả năng cho khách hàng có thể tham gia các cuộc đấugiá trên mạng

+ Thương mại điện tử tạo điều kiện cho khách hàng tác động, hỗ trợ lẫn nhautrong cộng đồng kinh doanh thương mại điện tử

- Đối với xã hội:

+ Sự tiện lợi của thương mại điện tử làm giảm các vấn đề xã hội: giao thông, ônhiễm môi trường , góp phần tạo một xã hội an toàn

+ Thương mại điện tử dẫn đến việc bán hàng với giá thấp hơn nên sẽ tăng mứcsống dân cư

+ Thương mại điện tử tạo điều kiện để dân cư ở các nước đang phát triển và khuvực nông thôn có thể hưởng thụ các sản phẩm, dịch vụ mà tại nơi họ sống không có cơhội tiếp cận

+ Thương mại điện tử thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ công cộng như chămsóc sức khỏe, giáo dục, phân phối các dịch vụ xã hội của Chính phủ với chi phí thấp

1.2.2 Hạn chế của thương mại điện tử

Có hai loại hạn chế của thương mại điện tử, một nhóm mang tính kỹ thuật, mộtnhóm mang tính thương mại

Nhóm hạn chế về kỹ thuật

- Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy

- Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người dùng,

nhất là trong thương mại điện tử

Trang 10

- Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn trong giai đoạn đang phát triển

- Khó khăn khi kết hợp các phần mềm thương mại điện tử với các phần mềm ứng

dụng và các cơ sở dữ liệu truyền thống

- Cần có các máy chủ thương mại điện tử đặc biệt (công suất, an toàn) đòi hỏi

thêm chi phí đầu tư

- Chi phí truy cập Internet vẫn còn cao.

- Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi hệ thống kho

hàng tự động lớn

- An ninh và riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối với người tham gia thương mại

điện tử

- Thiếu lòng tin và thương mại điện tử và người bán hàng trong thương mại điện

tử do không được gặp trực tiếp

- Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa được làm rõ.

- Một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều kiện để thương mại điện tử phát

triển

- Các phương pháp đánh giá hiệu quả của thương mại điện tử còn chưa đầy đủ,

hoàn thiện

- Chuyển đổi thói quen tiêu dùng từ thực đến ảo cần thời gian.

- Sự tin cậy đối với môi trường kinh doanh không giấy tờ, không tiếp xúc trực

tiếp, giao dịch điện tử cần thời gian

- Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô (hoà vốn và có

lãi)

- Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của thương mại điện tử.

- Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khó khăn hơn sau sự sụp đổ hàng loạt của các

công ty dot.com

Theo nghiên cứu của CommerceNet (commerce.net), 10 cản trở lớn nhất củathương mại điện tử tại Mỹ theo thứ tự là:

1 Dễ mất an toàn

2 Thiếu tin tưởng và rủi ro

3 Thiếu nhân lực về thương mại điện tử

4 Khác biệt văn hóa

5 Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng thực còn hạnchế)

6 Nhận thức của các tổ chức về thương mại điện tử còn chưa cao

7 Gian lận trong thương mại điện tử (thẻ tín dụng )

Trang 11

8 Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng

9 Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống

10 Thiếu các tiêu chuẩn quốc tế về thương mại điện tử

1.3 Các cấp độ phát triển thương mại điện tử

Thương mại điện tử được chia ra thành nhiều cấp độ phát triển Có hai cáchphân chia điển hình như sau:

Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển thương mại điện tử

Cấp độ 1 - hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng Ở mức độ

này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm

mà không có các chức năng phức tạp khác

Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc

phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, ngườixem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện

Cấp độ 3 - chuẩn bị TMĐT: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch

vụ qua mạng Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục

vụ các giao dịch trên mạng Các giao dịch còn chậm và không an toàn

Cấp độ 4 – áp dụng TMĐT: website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong

mạng nội bộ của DN, các hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự canthiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả

Cấp độ 5 - TMĐT không dây: doanh nghiệp áp dụng TMĐT trên các thiết bị

không dây như điện thoại di động, pocket PC (máy tính bỏ túi) v.v… sử dụng giaothức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocal)

Cấp độ 6 - cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta

có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thôngtin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch

Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển TMĐT

Cấp độ 1 – thương mại thông tin (i-commerce, information commerce): doanhnghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các hoạtđộng mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống

Cấp độ 2 – thương mại giao dịch (t-commerce, transaction commerce): doanhnghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thểbao gồm cả thanh toán trực tuyến

Cấp độ 3 – thương mại tích hợp (c-commerce, colaborating commerce): websitecủa doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp,mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và

vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả

Trang 12

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển thương mại điện tử

Thuật ngữ "thương mại điện tử" được nói đến rất nhiều và nhiều người nghĩ rằngthương mại điện tử là sản phẩm của xã hội hiện đại Tuy nhiên, theo nghĩa rộng,thương mại điện tử, tức tiến hành kinh doanh bằng cách gửi và nhận thông điệp quamạng đã hình thành từ cách đây một thế kỷ

Năm 1910, 15 người bán hoa của Đức đã tập hợp lại cùng nhau để trao đổi theođường điện báo những đơn hàng hoa đặt mua từ ngoại thành Tổ hợp Điện báo Giaonhận của những người bán hoa nói trên, ngày nay là công ty FTD Inc., có thể đã làmạng thương mại điện tử thực sự đầu tiên

Tuy nhiên đối với các hệ thống thương mại điện tử được kết nối bằng máy tính,một yêu cầu quan trọng là cần có những tài liệu kinh doanh đã được chuẩn hoá để cácmáy tính ở mỗi đầu dây đều có thể hiểu được nhau Cội nguồn của loại hình thươngmại điện tử này cũng bắt đầu rất sớm, từ năm 1948, khi Liên bang Xô Viết, kiểm soátĐông Đức cắt đứt đường thuỷ, đường sắt và đường bộ giữa Tây Đức và Berlin, phầnlãnh thổ do Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát sau chiến tranh thế giới lần thứ II

Kết quả là Cầu hàng không Berlin ra đời Trong 13 tháng tiếp theo, hơn 2 triệutấn thực phẩm và những đồ tiếp tế khác đã được chuyển vào Tây Berlin bằng đườnghàng không Tuy nhiên, việc theo dõi hàng hoá mà việc bốc dỡ phải tiến hành thậtnhanh, đã không thể tiến hành được với những bản kê khai hàng hoá vận chuyển theonhững biểu mẫu khác nhau và đôi khi được viết bằng những ngôn ngữ khác nhau

Để giải quyết vấn đề này, một sĩ quan quân đội Mỹ Edward A Guilbert và các sĩquan hậu cần khác đã phát triển một hệ thống kê khai chuẩn có thể truyền bằng telex,máy vô tuyến điện báo hoặc điện thoại Họ đã theo dõi hàng ngàn tấn hàng trong mộtngày cho đến khi các tuyến đường khác vào Berlin được mở lại vào năm 1949

Guilbert đã không quên giá trị của những kê khai chuẩn Đầu những năm 1960,trong khi đang làm việc tại Công ty Du Pont, ông đã phát triển một chuẩn dành chocác thông điệp điện tử để gửi thông tin hàng hoá giữa Công ty Du Pont và hãng vậnchuyển Chemical Leahman Tank Lines Năm 1965, hãng vận chuyển Steamship Line(liên doanh giữa một hãng của Mỹ và một hãng của Hà Lan) bắt đầu gửi cho hãng vậnchuyển Atlantic những bản kê khai chuyển hàng dưới dạng những thông điệp telex màsau đó có thể in ra giấy hoặc nhập vào máy tính

Đến năm 1968, rất nhiều các công ty vận chuyển đường sắt, hàng không, đường

bộ và vận chuyển đường biển đã sử dụng những chuẩn kê khai điện tử liên ngành do

Uỷ ban Phối hợp Truyền dữ liệu (Transportation Data Coordinating Committee TDCC) của Mỹ khởi xướng và vào năm 1975, TDCC đã xuất bản tài liệu đặc tả kỹthuật thuật trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) đầu tiên

Trang 13

-Ngành lương thực và thực phẩm bắt đầu một dự án thử nghiệm về trao đổi dữliệu điện tử vào năm 1977 Đến đầu những năm 1980, Tập đoàn ô tô Ford Motor vàTập đoàn ô tô General Motor yêu cầu những nhà cung cấp của họ sử dụng EDI Nhữngnhà bán lẻ lớn như Sears, Roebuck và Co và Kmart Corp cũng bắt đầu sử dụng EDI.Tuy nhiên, trong khi EDI tiết kiệm cho khách hàng rất nhiều tiền bạc bằng cách loại bỏtất cả các thủ tục giấy tờ, thì nó lại tỏ ra rất đắt đối với những nhà cung cấp Nó đòi hỏinhà cung cấp phải sử dụng phần mềm đắt tiền và những mạng gia tăng giá trị (VAN).Ngoài ra, những nhà cung cấp thường phải sử dụng những hệ thống EDI khác nhaucho các khách hàng lớn của mình vì không có khách hàng nào hoàn toàn tuân thủ tậpchuẩn con EDI trong ngành của mình Trước tình hình phần lớn khách hàng lớn đềuyêu cầu các nhà cung cấp phải sử dụng EDI, không có EDI, không có doanh thu.

Đến năm 1991, khoảng 12.000 doanh nghiệp Mỹ đang sử dụng EDI Đó cũng lànăm chính phủ Mỹ bãi bỏ hạn chế thương mại sử dụng Internet và là năm TimBerners-Lee phát minh ra world wide web (WWW), các tổ chức, cá nhân đã tích cựckhai thác, phát triển thêm WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ Các doanhnghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻthông tin, liên lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ đó, doanhnghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet, WWW đểphục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệm TMĐT Một kiểu thương mại điện

tử mới, từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng, trên web đã bùng nổ

Năm 1994, trình duyệt web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ "cookies",những tệp dữ liệu nhỏ được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạo điều kiện choviệc tạo những cửa hàng trên Web có khả năng nhận dạng những khách hàng, tập hợp

dữ liệu về họ và cá nhân hoá việc bán hàng để phù hợp với khách hàng

Trong khi những cửa hàng lớn trên mạng như Amazon.com Inc bán những sảnphẩm trực tuyến với giá thoả thuận và không cần phải cất giữ hàng hoá trong khohàng, những doanh nghiệp kinh doanh truyền thống lại tạo sự hiện diện của mình trênweb Một cơ sở hạ tầng tổng thể đã phát triển và chín muồi để hỗ trợ những công tydotcom: United Parcel Service Inc và FedEx Corp., chuyên về chuyển hàng; một sốcông ty bên thứ ba cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng, những hệ thống tiền điện tử vàthậm chí American Express Co còn giới thiệu Blue, một "thẻ thông minh" đặc biệtđược thiết kế cho việc mua hàng trên mạng

Internet cũng làm một cuộc cách mạng hoá nền thương mại điện tử doanh nghiệpđến doanh nghiệp EDI thông qua Internet đã rẻ hơn rất nhiều so với VANs và nhữngngười sử dụng EDI ở qui mô lớn đã phát triển những hệ thống giao dịch trực tuyến của

họ dựa trên web dựa trên những ngôn ngữ đánh dấu tương thích với Web thay chonhững tài liệu EDI cứng nhắc Năm 2001, một phiên bản của XML được thiết kế cho

Trang 14

thương mại điện tử, được gọi là ebXML, đã chính thức được chuẩn hoá và nhữngngười sử dụng ngày nay đang tiến hành kết hợp những yếu tố tốt nhất của EDI vàebXML để tạo ra một loại hình thương mại điện tử hoàn hảo hơn.

Các mốc thời gian quan trọng

Đầu những năm 1960: Edward A Guilbert lần đầu tiên gửi những thông điệpgiống EDI về thông tin hàng hoá cho việc trao đổi hàng giữa Du Pont và ChemicalLeahman Tank Lines

1965: Hãng vận chuyển Steamship Line gửi những bản kê khai chuyển hàng dướidạng những tin nhắn qua telex và được tự động chuyển thành dữ liệu lưu trong máytính

1968: Uỷ ban phối hợp truyền dữ liệu của Mỹ ra đời kết hợp các chuẩn kê khaihàng hoá cho từng ngành: ngành vận tải hàng không, đường bộ, đường thuỷ và đườngsắt

1977: Ngành lương thực và thực phẩm khai trương một dự án EDI thử nghiệm.1982: GM và Ford yêu cầu những đại lý cung cấp sử dụng EDI

1991: Mỹ bãi bỏ những hạn chế về thương mại sử dụng Internet

1994: Netscape Navigator 1.0 có tính năng hỗ trợ "cookies"

1995: Amazon.com, do Jeff Bezos thành lập, khai trương cửa hàng bán sách và

âm nhạc trực tuyến

1.5 Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

Ngày 19/11/1997 là ngày đầu tiên đánh dấu sự hoạt động của Internet tại Việtnam Đến nay, cả nước có 4,3 triệu thuê bao Internet quy đổi, đáp ứng nhu cầu của15,5 triệu dân, đạt mật độ 18,64 người/100 dân, cao hơn bình quân khu vực ASEAN

và thế giới; vượt xa Thái Lan (15,65%), Trung Quốc (9,41%), Philippinnes (9,12%), Với tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người sử dụng Internet là 123,4%/năm (cao nhấttrong khu vực ASEAN), đạt 1,9 triệu thuê bao Internet và gần 5,9 triệu người trongnăm 2004, Việt Nam là quốc gia được đánh giá là có tiềm năng rất lớn trong việc pháttriển thương mại điện tử Theo dự báo về mức tăng trưởng thị trường CNTT Việt Namcủa IDG, trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2008, mức chi cho CNTT của Việt Namnằm trong top 10 nước đứng đầu thế giới và sẽ vượt qua Trung Quốc với tỷ lệ tăngtrưởng đạt 16% Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia rất nhanh nhạy với mô hìnhkinh doanh trực tuyến

Tuy nhiên, hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn còn chưa được nhưmong muốn Hầu hết các website B2B chưa có định hướng hoạt động rõ ràng, màchúng ta chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thiết lập và thử nghiệm, giá trị giao dịchthực tế còn chưa cao Loại giao dịch B2B chưa thật sự hình thành ở Việt Nam, mới chỉ

Trang 15

dừng lại ở mức tìm thông tin thị trường, bán hàng qua thư điện tử và các websitethương mại điện tử Các hệ thống mua bán trực tuyến giữa các doanh nghiệp lớn vớinhau hầu như chưa tồn tại Các công ty nói chung khá nhanh nhạy trong việc áp dụngthương mại điện tử, nhưng còn không ít các công ty đến với hình thức này theo kiểu

“phong trào”, chưa kể số lượng các website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử quy

mô lớn chỉ đếm được trên đầu ngón tay Trong khi đó, việc mua bán trực tuyến B2C

và C2C tại Việt Nam chưa phổ biến và cũng chưa có doanh nghiệp nào cung cấp hoànchỉnh các công đoạn của một chu trình mua bán trực tuyến

Số liệu thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam cho thấy, hiện tại có 15 triệungười Việt Nam sử dụng Internet và trong 3 năm tới số người sử dụng Internet ở ViệtNam khoảng 30 triệu người Thị trường rộng lớn đó cùng với tốc độ tăng trưởng kinh

tế sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong những năm sắptới Tuy nhiên, theo điều tra của Bộ Công Thương lần gần đây nhất với 1.000 doanhnghiệp, số lượng doanh nghiệp có website chiếm 20-25%, nhưng tính năng thương mạiđiện tử trong các website này còn mờ nhạt Chức năng website chủ yếu là giới thiệu vềcông ty, chiếm 93,8%, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ chiếm 62,5%, trong khi tính nănggiao dịch thương mại điện tử cho phép đặt hàng chỉ chiếm 27,4%, hoạt động thanhtoán trực tuyến chỉ có 3,2%

Hoạt động thương mại điện tử mới chỉ manh nha ở các doanh nghiệp lớn, đại đa

số các doanh nghiệp nhỏ tại Việt Nam vẫn đang nằm ngoài guồng quay của phươngthức kinh doanh hiện đại này Một hệ thống bán hàng trực tuyến hoàn chỉnh phải đảmbảo yêu cầu: thay vì đến cơ sở của người bán, người mua có thể thực hiện tất cả cáccông đoạn của việc mua hàng chỉ thông qua Internet Nghĩa là người mua có thể thựchiện việc xem hàng, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng, thụ hưởng các dịch vụ sau bánhàng thông qua mạng Internet thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay thực chất chỉgồm việc thiết lập một “showroom trên mạng” để giới thiệu về doanh nghiệp và trưngbày các thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ Một số website thiết lập cơchế để người tiêu dùng có thể đặt hàng thông qua email hoặc gọi điện thoại đến nhàcung cấp Sau đó nhà cung cấp sẽ vận chuyển hàng hóa đến tận tay người mua hàng và

sẽ tiến hành thanh toán Nhưng việc mua bán hiện nay chỉ thể hiện ở giai đoạn xemhàng và đặt hàng, còn các công đoạn khác vẫn tiến hành theo cách thức thương mạitruyền thống

Trong bối cảnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại điện tử là công cụthiết yếu trong việc giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian, qua đó nâng cao khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp, cũng như đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực vàtốc độ tham gia thị trường chung Vì vậy, việc xác định những chính sách, giải pháp,điều kiện cần thiết cho phát triển thương mại điện tử, tìm ra những mô hình thích hợp

Trang 16

cho thương mại điện tử tại Việt Nam đang trở nên cấp thiết Hơn nữa, việc nâng caonhận thức của xã hội, khuyến khích ứng dụng và tăng cường hợp tác giữa khu vực nàyđóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung

Trước nhu cầu và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đòi hỏi có một

cơ quan thống nhất quản lý về hoạt động này, Vụ Thương mại Điện tử trực thuộc BộCông thương đã được thành lập với chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thươngmại điện tử, tổ chức ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ công tác quản lý nhà nước

về thương mại Trong thời gian qua, Bộ Công thương đã tích cực chủ trì hoặc tham gianghiên cứu, xây dựng các chiến lược, kế hoạch, dự án phát triển, cơ chế, chính sách vàvăn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về thương mại điện tử Bộ đã có nhiều hoạtđộng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, trong đó cóviệc đưa hoạt động Cổng Thương mại Điện tử Quốc gia

Bộ Công thương đã phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, phổbiến pháp luật, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn về thương mại điện tử Bên cạnh đó,

Bộ Công thương (Vụ Thương mại Điện tử) cũng là cơ quan đầu mối trong các hướngdẫn hợp tác quốc tế về thương mại điện tử

B Nội dung thảo luận

Câu hỏi thảo luận: Tìm hiểu tình hình thương mại điện tử ở Việt Nam, đánh giá

và đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.Yêu cầu: Sinh viên chuẩn bị nội dung ở nhà, trình bày trên lớp

C Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày khái niệm thương mại điện tử

2 Trình bày các đặc trưng của thương mại điện tử

3 Phân tích các lợi ích của thương mại điện tử

4 Phân tích các yếu tố hạn chế của thương mại điện tử

5 Trình bày các cấp độ của thương mại điện tử

Trang 17

CHƯƠNG 2 CÁC MÔ HÌNH KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

II.1 Mục tiêu chương 2

Chương 2 trình bày các mô hình kinh doanh thương mại điện tử và một sốwebsite thương mại điện tử trên thế giới và ở Việt Nam Sau khi học xong sinh viênphải nắm được các hình thức kinh doanh thương mại điện tử, các mô hình kinh doanhthương mại điện tử và có thể nhận biết các dạng website thương mại điện tử trên thựctế

II.2 Tóm tắt nội dung

- Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử

- Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử

- Giới thiệu một số website thương mại điện tử trên thế giới và ở Việt Nam.

II.3 Các nội dung cụ thể

A Nội dung lý thuyết

2.1 Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử.

2.1.1 Phân loại các hình thức kinh doanh thương mại điện tử

a Theo chủ thể tham gia

Trong thương mại điện tử có ba chủ thể tham gia: Doanh nghiệp (B) giữ vai tròđộng lực phát triển thương mại điện tử, người tiêu dùng (C) giữ vai trò quyết định sựthành công của thương mại điện tử và chính phủ (G) giữ vai trò định hướng, điều tiết

và quản lý Từ các mối quan hệ giữa các chủ thể trên ta có các loại giao dịch thươngmại điện tử: G2B, G2C, G2G, B2G, B2B, B2C, C2B, C2G, C2C Trong đó, B2B, B2C

và C2C là phổ biến nhất

- B2B (business to business - doanh nghiệp tới doanh nghiệp) : là để chỉ hoạtđộng mua bán giữa 2 hay nhiều công ty Ở loại hình này, người mua và người bán đều

là doanh nghiệp, ví dụ : nhà cung cấp và doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp sản xuất

và doanh nghiệp thương mại… Đây là loại hình có số lượng giao dịch trên mạng lớnnhất, với trị giá cao nhất hiện nay và ngày càng tăng dần

- B2C (business to consumer – doanh nghiệp tới người tiêu dùng): mối quan hệgiữa doanh nghiệp với người tiêu dùng Đây là loại hình điển hình cho các website bán

lẻ sản phẩm, ở đó người bán là doanh nghiệp và người mua là người tiêu dùng

- C2C (consumer to consumer – người tiêu dùng tới người tiêu dùng): để chỉ hoạtđộng mua bán được tiến hành giữa 2 cá nhân thông qua mạng Internet Loại hình nàyphổ biến trong các website đấu giá, mua bán, rao vặt,… ở đó người mua và người bán

có thể rao bán, chọn mua sản phẩm và tiến hành các giao dịch mua bán trực tiếp

Trang 18

Hình 2.1 Phân loại hình thức kinh doanh TMĐT theo đối tượng tham gia

b Phân loại theo công nghệ kết nối mạng: chia làm 2 loại

- Thương mại hữu tuyến.

- Thương mại di động (vô tuyến)

c Phân loại theo hình thức dịch vụ: gồm có chính phủ điện tử, giáo dục điện tử,

ngân hàng điện tử…

d Phân loại theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng: gồm

có thương mại thông tin, thương mại giao dịch, thương mại tích hợp

2.1.2 Các hình thức hoạt động thương mại điện tử

a Thư điện tử

Ngày nay, thư điện tử (electronic mail, viết tắt là e-mail) đã trở nên một hìnhthức thông tin liên lạc phổ biến và tiện dụng Người ta có thể dùng thư điện tử để gửihay nhận một thông điệp trên phạm vi toàn thế giới một cách tức thời Ngoài ra, tínhnăng đính kèm file của thư điện tử cho phép gửi kèm một hay nhiều tập tin dưới nhiềudạng thức, như : văn bản, bảng tính, âm thanh, hình ảnh, video… Không chỉ được sửdụng bởi các cá nhân, ngày càng nhiều các doanh nghiệp, tổ chức, các cơ quan Nhànước… sử dụng thư điện tử để gửi các văn bản, hợp đồng, công văn, giấy tờ chínhthức một cách “trực tuyến” Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo mộtcấu trúc định trước nào

Trang 19

Tuy nhiên, khi trao đổi dữ liệu qua thư điện tử cũng gặp phải nhiều vấn đề liênquan đến tính xác thực của e-mail, độ trễ thông tin, an toàn thông tin, như là : thông tin

bị đọc lén, bị sửa chửa, bị thất lạc, thư rác (spam mail), lây lan virus qua e-mail,…Giải quyết các vấn đề này đòi hỏi giải pháp liên quan công nghệ, thói quen sử dụng e-mail của doanh nghiệp và các luật của chính phủ

b Thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua bản tinđiện tử (electronic message) thay cho việc giao dịch dùng tiền mặt; ví dụ: trả lươngbằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng,thẻ tín dụng v.v thực chất đều là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sự phát triểncủa thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới

- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi

tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch vớinhau bằng điện tử

- Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành

(ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sang cácđồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như giữacác quốc gia (digital cash)

- Túi tiền điện tử (electronic purse); còn gọi là “ví điện tử” là nơi để tiền mặt

Internet, chủ yếu là thẻ thông minh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored valuecard), tiền được trả cho bất kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tựnhư kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”

- Giao dịch ngân hàng số hóa (digital banking), giao dịch chứng khoán số hóa

(digital securities trading) Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ thốnglớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:

(1)Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng

(2) Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị,…) (3) Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng

(4) Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác

c Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)

Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc traođổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form), từ máy tính điện tử này sangmáy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau,theo cách này sẽ tự động hóa hoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), việc traođổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc

Trang 20

chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phươngtiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin” Thương mại điện tử có đặc tính phi biên giới (Cross - border electroniccommerce), nghĩa là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp ở các quốcgia khác nhau, công việc trao đổi EDI thường là các nội dung sau:

1/ Giao dịch kết nối

2/ Đặt hàng

3/ Giao dịch gửi hàng

4/ Thanh toán

d Truyền dung liệu

Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa, mà không phải là bản thân vậtmang nội dung đó; ví dụ như: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phát thanh, truyềnhình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xemhát, hợp đồng bảo hiểm, v.v

Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật Ngày nay, dung liệu được

số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (digital delivery)

e Bán lẻ hàng hóa hữu hình

Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng, từ hoa tới quần

áo, ôtô và xuất hiện một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử” (electronicshopping), hay “mua hàng trên mạng”; ở một số nước, Internet bắt đầu trở thành công

cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hữu hình

Tận dụng tính năng đa phương tiện của môi trường Web và Java, người bán xâydựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (virtual shop), gọi là ảo bởi vì cửa hàng có thậtnhưng ta chỉ xem toàn bộ quang cảnh cửa hàng và các hàng hóa chứa trong đó trêntừng trang màn hình một Để có thể mua - bán hàng, khách hàng tìm Website của cửahàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toánđiện tử

Ban đầu, việc mua bán còn ở dạng sơ khai : người mua chọn hàng rồi đặt hàngthông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên Web Nhưng có trường hợp muốn lựachọn giữa nhiều loại hàng ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thìhàng hóa miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiềuphiền toái

Nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho việc mua bán trên mạng đã xuất hiện loại phầnmềm mới, cùng với hàng hóa của cửa hàng trên màn hình đã có thêm phần “xe muahàng” (shopping cart, shopping trolly), giỏ mua hàng (shopping basket, shopping bag)giống như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà người mua thường dùng khi vàosiêu thị

Trang 21

Xe và giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Webnày đến trang Web khác để chọn hàng, khi tìm được hàng vừa ý, người mua ấn phím

“Hãy bỏ vào giỏ” (Put it into shopping bag); các xe hay giỏ mua hàng này có nhiệm vụ

tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua Vì hànghóa là hữu hình, nên sau đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng theo kiểutruyền thống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng

2.2 Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử.

2.2.1 Mô hình cửa hiệu điện tử

Việc hướng tới thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích, cũng như nhiều thửthách, mô hình cửa hiệu điện tử rất gần gũi với suy nghĩ của mọi người khi nhắc đếnthương mại trực tuyến Mô hình cửa hiệu điện tử kết hợp xử lý giao tác, thanh toántrực tuyến, an toàn và lưu trữ thông tin để giúp các thương gia bán sản phẩm của họqua mạng Mô hình này là dạng cơ bản cho thương mại điện tử trong đó, người mua vàngười bán tương tác trực tiếp

Để xây dựng cửa hiệu điện tử, người bán cần phải tổ chức các danh mục trựctuyến về các sản phẩm, đặt hàng qua trang web của họ, chấp nhận chi trả an toàn, gửicác món hàng đến khách hàng và quản lý dữ liệu khách hàng ( ví dụ như hồ sơ kháchhàng, sở thích, thói quen mua sắm…) Họ còn phải tiếp thị địa chỉ của họ đến cáckhách hàng tiềm năng

Một số những công ty thành công nhất trong thương mại điện tử đã sử dụng môhình cửa hiệu trực tuyến Rất nhiều công ty hàng đầu theo mô hình cửa hiệu trực tuyến

là các công ty B2C (business to consumer – doanh nghiệp đến người tiêu dùng)

Mô hình cửa hiệu điện tử được chia thành 2 loại:

a Công nghệ giỏ mua hàng

Một trong những kỹ thuật thường được sử dụng cho thương mại điện tử là giỏmua sắm Công nghệ xử lý đơn đặt hàng cho phép người tiêu dùng chọn các món hàng

mà họ muốn mua khi họ đến cửa hàng Hỗ trợ cho giỏ mua sắm là một danh mục cácsản phẩm, được đặt trên máy chủ của người bán dưới dạng của một cơ sở dữ liệu Máychủ của người bán là hệ thống quản lý và lưu trữ dữ liệu được người bán tạo ra Nóthường là một hệ thống các máy tính mà thực hiện tất cả các chức năng cần thiết đểvận hành một trang web Một cơ sở dữ liệu là một phần của máy chủ được thiết kế đểlưu trữ và báo cáo trên số lượng lớn thông tin Ví dụ, một cơ sở dữ liệu cho một nhàbán lẻ quần áo trực tuyến thường bao gồm các chi tiết sản phẩm, như là mô tả mónhàng, kích thước, số lượng, thông tin về giao hàng, mức giá và các thông tin đặt hàngkhác Cơ sở dữ liệu còn lưu trữ thông tin khách hàng như là tên, địa chỉ, thẻ tín dụng,

và các lần mua sắm trước Công nghệ giỏ mua sắm mang lại cho người tiêu dùng sự

Trang 22

tiện lợi khi thực hiện các giao dịch nhanh chóng và dễ dàng, nó cũng tạo ra những vấn

đề về tính riêng tư của khách hàng và mức độ an toàn trực tuyến

b Siêu thị mua hàng trực tuyến

Các siêu thị mua sắm trực tuyến giới thiệu với người tiêu dùng khả năng chọn lựarộng rãi về các sản phẩm, dịch vụ Chúng tạo sự thuận lợi hơn cho người dùng so vớikhi tìm kiếm và mua sắm ở các cửa hiệu trực tiếp đơn lẻ Chẳng hạn, người tiêu dùng

có thể tìm thấy sản phẩm từ rất nhiều nhà cung cấp, và thay vì phải thực hiện vài lầnmua sắm riêng lẻ, họ có thể sử dụng công nghệ giỏ mua sắm của siêu thị để mua cácmón hàng từ nhiều cửa hiệu trong cùng 1 giao dịch Thường thì, các siêu thị mua sắmtrực tuyến này hoạt động như một cổng mua sắm, định hướng lưu thông đến các cửahiệu bán lẻ hàng đầu về một sản phẩm nào đó

2.2.2 Mô hình đấu giá

Mô hình đấu giá ngày càng trở lên phổ biến Thông thường, các trang đấu giáhoạt động như một diễn đàn, ở đó người dùng Internet có thể đóng vai là người bánhoặc người đấu giá Là người bán, bạn có thể gởi một món hàng mà bạn muốn bán, giátối thiểu bạn đòi hỏi để bán món hàng của bạn, và hạn chót để đóng một phiên đấu giá.Một số địa chỉ cho phép bạn thêm các đặc trưng như là một bức ảnh hay là mô tả vềđiều kiện của món hàng Là người đấu giá, bạn có thể tìm kiếm trên trang những mónhàng mà bạn đang cần, xem các hoạt động đấu giá và đặt một giá nào đó, thường làđược thiết kế tăng dần Một số địa chỉ cho phép bạn đưa ra giá đấu cao nhất và một hệthống tự động sẽ tiếp tục đấu giá cho bạn

Có 2 phương thức đấu giá trực tuyến là đấu giá theo giá tăng dần và đấu giá theogiá giảm dần (đấu giá ngược) Mô hình đấu giá thuận có nguyên tắc như đấu giá truyềnthống nghĩa là ai trả giá cao nhất sẽ là người được mua sản phẩm Mô hình đấu giángược cho phép người mua thiết lập một giá, mà người bán cạnh tranh với nhau đểphù hợp, hay thậm chí đánh bại

Mặc dù, các địa chỉ đấu giá thường đòi hỏi tỷ lệ hoa hồng từ phía người bán,những trang này chỉ là một diễn đàn giữa người mua và người bán mà thôi Khi mộtphiên đấu giá kết thúc thành công, cả người mua và người bán đều được thông báo,phương thức chi trả và giao hàng sẽ được thực hiện bởi hai phía Hầu hết các trang đấugiá đều không liên quan đến việc chi trả và giao hàng nhưng họ sẽ làm nếu dịch vụ chitrả và phân phối có thể được dùng để mang lại doanh thu và lợi nhuận

Đấu giá còn được áp dụng bởi các công ty B2B Trong các đấu giá này, ngườimua và người bán là các công ty Các công ty sử dụng đấu giá trực tuyến để bán cáchàng vượt quá sức chứa của kho và tìm đến các khách hàng mới và nhạy cảm với giá

2.2.3 Mô hình cổng giao tiếp

Trang 23

Các địa chỉ cổng giao tiếp cho khách hàng cơ hội để tìm gần như mọi thứ ở cùngmột nơi Chúng thường cung cấp tin tức, thể thao, dự báo thời tiết, cũng như khả năngtìm kiếm trên web Khi mọi người nghe đến từ “cổng giao tiếp”, họ thường nghĩ đếncông cụ tìm tin Có hai loại cổng giao tiếp là cổng theo chiều ngang (Horizontalpartals), hay là cổng tổng hợp các thông tin trên một phạm vi rộng các chủ đề và cổngdọc (vertical portals) chi tiết hơn, cung cấp một lượng lớn thông tin thuộc về một lĩnhvực quan tâm.

Cổng giao tiếp liên kết người tiêu dùng với các người bán trực tuyến, các siêu thịmua sắm trực tuyến và các địa chỉ đấu giá mang lại một số thuận lợi Các cổng nàygiúp người dùng thu thập thông tin về một món hàng mà họ tìm kiếm và cho phépngười dùng duyệt qua các cửa hiệu một cách độc lập, không giống như một số siêu thịmua sắm trực tuyến khác

Người tiêu dùng phải biết khi nào thì nên sử dụng cổng giao tiếp để mua sắmtrực tiếp Mỗi cổng giao tiếp sắp xếp các tiến trình mua sắm trực tiếp của nó khác nhaumột chút Một số cổng giao tiếp tính phí người bán để có các đường liên kết; một sốkhác lại không Các cổng mà tính phí liệt kê sẽ giới hạn số người bán đến được vớingười tiêu dùng

2.2.4 Mô hình định giá động

Trong quá khứ, những người tiêu dùng muốn mua sắm được những sản phẩm tốtvới giá phù hợp sẽ phải tới nhiều nhà bán lẻ và bán sỉ ở địa phương để so sánh và lựachọn Ngày nay với mô hình định giá động sẽ cho thấy các cách định giá sáng tạođược dùng để thực hiện công việc

Việc mua với số lượng lớn thường kéo giá xuống và hiện nay có những websitecho phép bạn mua hàng giá thấp bằng cách liên kết với các người mua hàng khác đểmua sản phẩm với số lượng lớn Một chiến lược giá cả khác được sử dụng bởi nhiềunhà kinh doanh trực tuyến là cung cấp sản phẩm và dịch vụ miễn phí Bằng cách hìnhthành các đối tác chiến lược và bán quảng cáo, nhiều công ty có thể cung cấp sảnphẩm với mức giá được giảm rất nhiều, và thường là miễn phí Trao đổi và giảm giá lànhững cách khác mà các công ty dùng để giữ giá thấp ở trên Internet

Ngoài ra các website còn cải tiến khả năng của khách hàng trong việc so sánh giágiữa các nhà cung cấp

Loại mô hình định giá động phân làm 6 loại:

a Mô hình khách hàng định giá

Mô hình kinh doanh “đặt giá của bạn” tăng khả năng của người dùng bằng cách

cho phép họ nói giá mà họ sẳn lòng trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ Nhiều doanhnghiệp cung cấp dịch vụ này đã hình thành đối tác với các nhà lãnh đạo của các nền

Trang 24

công nghiệp khác nhau như: du lịch, cho vay, bán lẻ,… Những nhà lãnh đạo côngnghiệp này nhận được giá cả mong muốn của khách hàng từ các doanh nghiệp, thườnghoạt động như đơn vị trung gian, và quyết định có bán hay không các sản phẩm haydịch vụ theo giá khách hàng muốn Nếu được chấp nhận, khách hàng bắt buộc phảimua sản phẩm.

b Mô hình so sánh giá cả

Mô hình so sánh giá cả cho phép người dùng bỏ phiếu cho nhiều người bán vàtìm ra một sản phẩm hay dịch vụ mong muốn với giá thấp nhất Những trang nàythường tạo ra doanh thu nhờ đối tác với những người bán nào đó Bạn cần phải cẩnthận khi sử dụng những dịch vụ này, vì bạn có thể không cần thiết có được giá tốt nhấttrên toàn bộ web

c Mô hình giá cả theo nhu cầu

Trang web cho phép khách hàng đòi hỏi các dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn với giá

rẻ hơn Nó còn cho phép người mua xem hàng trong các nhóm lớn để có được giảmgiá theo nhóm Ý tưởng đằng sau mô hình giá theo nhu cầu đó là càng nhiều ngườimua 1 sản phẩm trong 1 lần mua sắm, thì giá cả trên mỗi người sẽ càng giảm Việc bánsản phẩm một cách riêng lẻ có thể là mắc vì người bán phải định giá một sản phẩm đểbao gồm cả giá bán và chi phí toàn bộ, sao cho vẫn tạo ra lợi nhuận Khi khách hàngmua số lượng lớn, chi phí này được chia sẻ với các sản phẩm khác và biên giới lợinhuận sẽ tăng lên

d Mô hình trao đổi

Một phương pháp phổ biến khác để kinh doanh qua mạng là trao đổi, hay đưa ramột món này để đổi lấy một món khác Địa chỉ này cho phép các cá nhân và các công

ty muốn bán một sản phẩm gởi món hàng lên danh sách Người bán tạo ra các mónhàng ban đầu với 1 ý định trao đổi để đi đến thỏa thuận cuối cùng với người mua Córất nhiều sản phẩm và dịch vụ sẳn sàng để trao đổi

Nếu một doanh nghiệp tìm kiếm người để bán hết các sản phẩm quá định mức,Trang web theo mô hình này sẽ giúp họ bán chúng Các sản phẩm có thể được bán trựctiếp hay trên một nền tảng trao đổi Các khách hàng tiềm năng gởi các giá mà họ muốncho người bán, để họ lượng giá có nên bán hay không Các thỏa thuận thường là mộtphần trao đổi và một phần tiền mặt Ví dụ về các món hàng thường được trao đổi làcác món quá sức chứa của kho, sản xuất thừa và các tài sản không cần thiết

e Mô hình giảm giá

Giảm giá có thể thu hút khách hàng đến địa chỉ của bạn Nhiều công ty cung cấphàng hóa, dịch vụ với giá thấp quanh năm hoặc các khuyến mại để giữ khách hàngquay lại

Trang 25

f Mô hình miễn phí sản phẩm và dịch vụ

Nhiều công ty đang hình thành mô hình kinh doanh xoay quanh dòng doanh thuhướng quảng cáo Mạng truyền hình, đài phát thanh, tạp chí và phương tiện in ấn sửdụng quảng cáo là nguồn kinh phí cho hoạt động của họ và tạo ra lợi nhuận Các địachỉ được nói đến trong phần này cung cấp sản phẩm miễn phí trên Web Nhiều địa chỉcòn hình thành đối tác với các công ty để trao đổi sản phẩm và dịch vụ lấy không gianquảng cáo và ngược lại

2.2.5 Một số mô hình khác

- Mô hình thuê bao: Mô hình này được mô phỏng như là một câu lạc bộ dành

riêng cho hội viên và khách hàng Nó bắt buộc khách hàng đăng ký tên và mật khẩu đểtruy cập vào nội dung chính của website, có thể phải trả tiền để có được những quyềnlợi đặc biệt Mô hình này áp dụng với những doanh nghiệp có sản phẩm dịch vụ có thểphân phối trực tiếp trên mạng như báo điện tử, phần mềm, tư vấn… Với mô hình nàykhi truy cập khách hàng sẽ có những thông tin bổ ích hơn hẳn so với những ngườikhác không đăng ký

- Mô hình quảng cáo: Một loạt các website tìm kiếm ra đời là đại diện cho sự

phát triển của mô hình này Mô hình này hiển thị cung cấp các không gian quảng cáobên cạnh sự hỗ trợ tìm kiếm Một số website đưa ra chức năng quảng cáo theo yêu cầu.Khi khách hàng tìm kiếm một loại thông tin nào đó, banner có chứa thông tin về sảnphẩm tương ứng sẽ xuất hiện trên màn hình Mô hình này thích hợp cho các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng hay tiếp thị cho nhiều mặt hàng, chủng loại sảnphẩm

- Mô hình hội thương (mô hình liên kết): Đây là mô hình khi một website đứng ra

kêu gọi các chủ website tham gia làm các dịch vụ của mình Mô hình này ít được mọingười biết đến vì nó mang tính nội bộ, chỉ được giới thiệu trong phạm vi các websitevới nhau Tuy nhiên, mô hình này lại có giá trị rất lớn, nhờ nó mà các website xâydựng mối quan hệ với nhau, tạo điều kiện cho người truy cập một cách nhanh chóng

và tiện lợi Nó hoạt động như một hiệp hội các website liên kết với nhau để thu hútmột lượng lớn đối tượng khách hàng mục tiêu và hỗ trợ nhau trong việc cung cấp dịch

vụ và sự thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng

B Nội dung thảo luận

Câu hỏi thảo luận: Nêu đặc điểm của các loại mô hình kinh doanh thương mạiđiện tử Lấy ví dụ cụ thể và phân tích

Yêu cầu: Sinh viên chuẩn bị nội dung ở nhà, trình bày trên lớp

C Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày các cách phân loại hình thức kinh doanh thương mại điện tử

Trang 26

2 Trình bày đặc điểm của các hình thức B2B, B2C, C2C.

3 Trình bày các hình thức kinh doanh thương mại điện tử

4 Trình bày đặc điểm, ưu nhược điểm của các mô hình kinh doanh thương mạiđiện tử

5 Chọn 1 website thương mại điện tử tùy ý tại Việt Nam, phân tích mô hình kinhdoanh mà website này đang áp dụng

Trang 27

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ HẠ TẦNG MẠNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

III.1 Mục tiêu chương 3

Chương 3 trình bày các loại mạng máy tính và kết nối internet, ứng dụng cácmạng này trong hoạt động kinh doanh trực tuyến Sau khi học xong, sinh viên phảinắm được tầm quan trọng của cơ sở mạng trong thương mại điện tử, thể hiện củathương mại điện tử

III.2 Tóm tắt nội dung

- Mạng máy tính và internet

- Trang tin liên kết toàn cầu

- Cơ sở dữ liệu

III.3 Các nội dung cụ thể

A Nội dung lý thuyết

Mạng nội bộ LAN (Local Area Network): LAN là một mạng máy tính được nốivới nhau trong một khu vực hạn hẹp như trong một tòa nhà, nhờ một số loại cáp dẫn

và không sử dụng tới thuê bao điện thoại

Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network): WAN bao gồm các mạng liên kếtnội bộ kết nối với nhau Các mạng diện rộng được kết nối với nhau qua đường dâyđiện thoại thuê bao hoặc nhờ một số công nghệ khác như hệ thống điện tử viễn thônghoặc vệ tinh

3.1.2 Internet

Internet là một mạng giao tiếp toàn cầu cung cấp kết nối trực tiếp tới bất cứngười nào thông qua mạng LAN hoặc nhà cung cấp dịch vụ Internet Đây là một mạngcông cộng được kết nối và định hướng thông qua các cổng giao dịch Các máy tínhđược kết nối với nhau thông qua các phương tiện viễn thông như đường dây điệnthoại, vệ tinh

Trang 28

Internet ra đời trên cơ sở mạng ARPANET của Bộ Quốc Phòng Mỹ xây dựngtrong những năm 1970 Để đối phó với chiến tranh lạnh, Chính phủ Mỹ đã thành lậpmột cơ quan quản lý dự án nghiên cứu công nghệ cao (Advenced Research ProjectsAgency (ARPA) Vào cuối năm 1960, việc sử dụng máy tính ARPA và các cơ quankhác của chính phủ đã mở rộng ra rất nhiều, họ cần phải được chia sẻ số liệu với nhaunếu cần ARPANET, là khởi thủy của Internet, tạo ra để giải quyết vấn đề trên

Máy tính thường được chế tạo bởi các công ty khác nhau, hầu hết các máy tínhbởi sự khác nhau về các phần mềm và phần cứng ARPANET đã xây dựng các chuẩncho Internet Các nhà sản xuất phải cung cấp sản phẩm đáp ứng với những chuẩn này

và do đó bảo đảm rằng tất cả những máy tính có thể trao đổi số liệu với nhau

Một dấu mốc khác của Internet đến vào giữa năm 80, khi tổ chức khoa học NSF(National Science Foundation) đưa vào Internet 5 trung tâm siêu máy tính Điều này đãđem lại cho các trung tâm giáo dục, quân sự, và các NSF khác được quyền được truynhập vào các siêu máy tính, và quan trọng hơn là tạo ra một mạng xương sống(backborne) cho mạng Internet ngày nay

Một trong những lý do quyết định sự phát triển và quảng bá mạnh mẽ củaInternet là chính tính mở rộng tự nhiên của nó do giao thức TCP/IP đem lại Nó làmcho việc kết nối mạng máy tính internet trở nên dễ dàng vì vậy internet nhanh chóngtrở thành mạng được nhiều người sử dụng nhất ngày nay

3.1.3 Intranet

Intranet hay mạng web nội bộ là một hệ thống hạ tầng mạng để phục vụ nhu cầuchia sẻ thông tin trong nội bộ công ty bằng cách sử dụng nguyên lý và công cụ củaweb Nó cung cấp những tính năng của internet như dễ dàng xem, công cụ tìm kiếm,công cụ giao tiếp và phối hợp hợp tác trong doanh nghiệp Sử dụng web, người quản

lý có thể nhìn thấy lý lịch của người lao động, kế hoạch kinh doanh, quy định và quytắc của doannh nghiệp, truy cập vào dữ liệu bán hàng, xem xét và sửa đổi tài liệu vàbáo trước các buổi hẹn gặp Người lao động có thể tra cứu sự sẵn có của một loại phầnmềm bất kỳ cho một nhiệm vụ cụ thể và kiểm tra phần mềm đó ngay từ máy của họ.Mạng Intranet thông thường được kết nối Internet, cho phép công ty thực hiện các hoạtđộng thương mại điện tử, cụ thể như hợp tác với người cung cấp, khách hàng hoặckiểm tra mức độ tồn kho trước khi vận chuyển

Các loại thông tin đưa lên mạng Intranet chủ yếu liên quan đến các lĩnh vực nhưcatalog về sản phẩm, chính sách và nguyên tắc của công ty, đơn đặt hàng, chia sẻ tàiliệu, danh bạ điện thoại, mẫu liên quan đến quản lý nhân sự, chương trình đào tạo, cơ

sở dữ liệu khách hàng, dữ liệu của doanh nghiệp và truy cập vào những phương tiện hỗtrợ ra quyết định

Trang 29

Việc sử dụng intranet đem lại rất nhiều lợi ích đối với thương mại điện tử, dịch

vụ khách hàng, tìm kiếm và truy cập dữ liệu, cá thể hóa thông tin, thúc đẩy chia sẻkiến thức, thúc đẩy quá trình ra quyết định theo nhóm và quá trình kinh doanh, phânphối phần mềm, quản lý dữ liệu, thúc đẩy quá trình giao dịch, phân phối thông tinkhông cần qua giấy tờ và hoàn thiện quá trình thực hiện hành chính

3.1.4 Extranet

Extranet là một intranet được mở rộng ra bên ngoài công ty đến một người sửdụng khác ở bên ngoài mạng nội bộ, sử dụng đường truyền internet, nối mạng riêng,hay không qua hệ thống truyền thông

Extranet được bao gồm một loạt thành phần và người tham gia và một số các cấuhình.Thành phần của nó bao gồm: intranet, máy chủ lưu trữ web, bức tường lửa,ISP,công nghệ chuyển thông tin được mã hóa, phần mềm giao diễn và các ứng dụng trongkinh doanh

Extranet được ứng dụng để tăng cường khả năng giao tiếp thông qua việc tăngcường khả năng giao tiếp trong nội bộ doanh nghiệp, hoàn thiện kênh giao tiếp giữacác đối tác kinh doanh, tăng cường tính hiệu quả của các chương trình tiếp thị, bánhàng, dịch vụ khách hàng và giúp tăng cường tính hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ

sự liên kết Ngoài ra Extranet còn giúp tăng cường tính hiệu quả thông qua sự phânphối, chia sẻ thông tin kịp thời, giúp mở rông kinh doanh thông qua việc tiếp cận thịtrường nhanh hơn, giúp giảm chi phí sản xuất thông qua giảm các chi phí do sản xuấtsai, so sánh giá cả với đối thủ cạnh tranh để cắt giảm chi phí, tiết kiệm được các chiphí hành chính, giấy tờ

3.1.5 Mạng không dây

Mạng không dây (wireless network), như tên gọi của nó, là mạng truyền thôngkhông có dây kết nối giữa các thiết bị Công nghệ không dây dựa trên tần số sóngradio Các thiết bị không dây có đặc điểm là “di động”, tức người sử dụng có thể sửdụng chúng ở bất cứ nơi nào

Bluetooth là công nghệ không dây cho phép truyền dữ liệu, tiếng nói giữa cácthiết bị không dây trong phạm vi nhỏ với tốc độ cao Bluetooth có khả năng truyền đến

1 Mbps (mega bit trên giây) giữa các thiết bị không dây trong phạm vi tối đa 10 mét.Công nghệ Bluetooth không tiêu tốn nhiều năng lượng nên phù hợp với các thiết bịkhông dây dùng pin Bluetooth cũng được dùng để kết nối các thiết bị không dây trongvăn phòng như các máy tính trong mạng không dây, chuột hay bàn phím không dâyvới máy tính, máy tính và máy in mà không cần dây cáp Bluetooth dùng sóng radiovới tần số phổ biến trên toàn cầu, do đó, có tính tương thích trên toàn cầu

Wi-Fi là công nghệ không dây băng thông rộng với khả năng truyền dữ liệu gấp

10 lần của Bluetooth Những sản phẩm được chứng nhận là Wi-Fi có thể hoạt động

Trang 30

tương tác với nhau bất kể chúng được sản xuất bởi nhà sản xuất nào Wi-Fi cho phéptruyền dữ liệu trong 100 mét và lên đến tốc độ truyền 11 Mbps, rất lý tưởng cho việctruy cập Internet từ thiết bị không dây.

3.2 Trang tin liên kết toàn cầu (WWW – World Wide Web)

Trước năm 1990, Internet đã phát triển thành mạng của những máy tính kết nốivới tốc độ cao, nhưng nó vẫn chưa có một hệ thống cơ sở đặc biệt Người ta cần traođổi số liệu dưới dạng text, đồ họa và hyperlinks Tim Berners – Lee, một nhà khoa họclàm việc tại phòng thí nghiệm Châu Âu về vật lý tại Geneva, Thụy sỹ, đề nghị một bộProtocol cho phép truyền thông tin đồ họa trên Internet vào năm 1989 Những đềnghị này của Berners – Lee được một nhóm khác thực hiện và WorldWide Web ra đời

Internet và World Wide Web, hoặc đơn giản gọi là Web được gọi làtra cứu thông tin toàn cầu Nó bao gồm hàng triệu các website, mỗiwebsite được xây dựng từ nhiều trang web Mỗi trang web được xâydựng trên một ngôn ngữ HTML (Hyper Text Transfer Protocol) ngônngữ này có hai đặc trưng cơ bản: Tích hợp hình ảnh âm thanh tạo ramôi trường multimedia và Tạo ra các siêu liên kết cho phép có thểnhảy từ trang web này sang trang web khác không cần một trình tựnào Để đọc trang web người ta sử dụng các trình duyệt (browser) Cáctrình duyệt nổi tiếng hiện nay là Moliza FireFox, Google Chrome,Internet Explorer (tích hợp ngay trong hệ điều hành) và Nescape

* Trang mạng (Website)

Website là một “Show-room” trên mạng Internet – nơi trưng bày và giới thiệuthông tin, hình ảnh về doanh nghiệp và sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp (haygiới thiệu bất kỳ thông tin nào khác) cho mọi người trên toàn thế giới truy cập bất kỳlúc nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần)

Website là một tập hợp một hay nhiều trang web Để một website hoạt độngđược cần phải có tên miền (domain), lưu trữ (hosting) và nội dung (các trang web hoặc

cơ sở dữ liệu thông tin) Đặc điểm tiện lợi của website: thông tin dễ dàng cập nhật,thay đổi, khách hàng có thể xem thông tin ngay tức khắc, ở bất kỳ nơi nào, tiết kiệmchi phí in ấn, gửi bưu điện, fax, thông tin không giới hạn (đăng tải thông tin không hạnchế, không giới hạn số trang, diện tích bảng in ) và không giới hạn phạm vi địa lý

* Các khái niệm kỹ thuật: domain, host, vận hành

- Domain: chính là tên miền của website Có nhiều loại tên miền: tên miền quốc

gia (có đuôi tận cùng là .vn, .uk, .th…); và tên miền quốc tế (có đuôi tận cùng

là com, net, org…)

Trang 31

- Dịch vụ lưu trữ (hosting hay host): muốn những trang web được hiện lên khi

người ta truy cập vào website thì dữ liệu phải được lưu trữ trên một máy tính (máy chủ

- server) luôn hoạt động và kết nối với mạng Internet, máy tính này chính là hostserver Một host server có thể lưu trữ rất nhiều website cùng một lúc Nếu máy tínhnày có sự cố bị tắt trong một thời điểm nào đó thì lúc đó không ai truy cập được nhữngwebsite lưu trữ trên máy tính đó Tùy theo nhu cầu mà doanh nghiệp có thể chọn muahost với dung lượng 100MB (tức chứa được tối đa 100MB dữ liệu), 200MB, 500MB,1000MB hay nhiều hơn Giá hosting hiện nay cũng rất thấp, chỉ từ vài chục nghìn đếnmột hai trăm nghìn đồng mỗi tháng, tùy theo cấu hình host và ngôn ngữ lập trình và cơ

sở dữ liệu mà host hỗ trợ

- Dung lượng host và dung lượng truyền (transfer): dung lượng host là số MB

dành để chứa dữ liệu Ví dụ host 100MB cho doanh nghiệp 100MB để chứa file, cơ sở

dữ liệu, email Dung lượng truyền của host là tổng số MB dữ liệu, file truyền ratruyền vào (download, upload) máy chủ nơi host website trong mỗi tháng

- Vận hành: Khi đã có tên miền và đã có host Với một host A, ta có thông số IP

và DNS của host A (được cung cấp kèm theo với host), ta cài đặt thông số DNS củatên miền về thông số DNS mà host đã cung cấp, thế là website đã có thể vận hành Sau

đó, tùy theo nội dung (file, dữ liệu) mà ta up lên host, người truy cập từ mọi nơi trênthế giới đã có thể truy cập vào website của ta

3.3 Cơ sở dữ liệu

3.3.1 Khái niệm cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu là một cơ sở hạ tầng quan trọng trong thương mại điện tử, nó đượccoi là nền móng của mọi hoạt động giao dịch trực tuyến

Trước hết, dữ liệu điện tử là tất cả các mục thông tin, văn bản, hình ảnh, âmthanh hoặc sự kết hợp giữa chúng được lưu giữ bằng các phương tiện điện tử Cơ sở

dữ liệu là những dữ liệu được lưu trữ trên máy tính Cơ sở dữ liệu là một hệ thống dữliệu điện tử có cấu trúc, được kiểm soát và truy cập thông qua máy tính dựa vào mốiquan hệ giữa các dữ liệu về kinh doanh, tình huống và vấn đề đã định nghĩa trước Có

5 loại cơ sở dữ liệu là cơ sở dữ liệu liên hệ, cơ sở dữ liệu đa chiều, kho cơ sở dữ liệu,

cơ sở dữ liệu văn bản và hình ảnh, cơ sở dữ liệu siêu văn bản

Cơ sở dữ liệu có thể được đặt thành nhiều mẫu khác nhau và được sử dụng vàonhiều mục đích khác nhau Ví dụ như cơ sở dữ liệu về tồn kho, đơn đặt hàng, hóa đơnvận chuyển, khách hàng và người lao động

Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (DBMS) là một tập hợp các chương trình sử dụng

để định nghĩa cơ sở dữ liệu, thực hiện giao dịch dùng để cập nhật dữ liệu, lấy dữ liệu

từ cơ sở dữ liệu và thiết lập cơ sở dữ liệu một các hiệu quả Một vài hệ thống quản lý

cơ sở dữ liệu cho các máy tính cá nhân có thể được sử dụng trực tiếp bởi người sử

Trang 32

dụng cuối cùng để thiết lập một hệ thống thông tin nhỏ, trong khi các hệ thống quản lý

cơ sở dữ liệu khác phức tạp hơn và yêu cầu chương trình chuyên nghiệp Hệ thốngquản lý cơ sở dữ liệu bao hàm cả các ngôn ngữ hỏi, một dạng ngôn ngữ được sử dụngcho phép người sử dụng cuối cùng lấy được dữ liệu Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệugiúp dữ liệu trỏ thành nguồn lực và điều phối hoạt động của chương trình vì vậy làmcho truy cập dữ liệu có thể tin cậy và mạnh

Việc sử dụng hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu là một phương pháp làm cho dữ liệutrở thành nguồn tài nguyên phong phú Vấn đề là làm thế nào để biết được nguồn tàinguyên thông tin có nghĩa Tác dụng của thông tin được xác định một phần bởi cácyếu tố liên quan đến thông tin và một phần bởi kiến thức của người sử dụng và cáchthức mà quá trình kinh doanh của tổ chức Ba nhóm yếu tố liên quan đến sự hữu íchcủa thông tin là chất lượng thông tin, cách thức tra cứu thông tin và sự thể hiện củathông tin

3.3.2 Cơ sở dữ liệu khách hàng

Cơ sở dữ liệu khách hàng là một cơ sở dữ liệu về khách hàng hoặc những kháchhàng tương lai được sử dụng cho mục đích marketing như tăng khả năng bán hàng,tăng lượng bán hàng hoặc duy trì quan hệ khách hàng

Công ty sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng nhằm mục đích:

- Nhận biết khách hàng tiềm năng Nhiều công ty tăng khả năng bán hàng nhờvào quảng cáo sản phẩm hoặc chào hàng Phản hồi đối với chiến dịch quảng cáo thôngthường dựa vào một số thông điệp như khách hàng gọi điện thoại Cơ sở dữ liệu đượcxây dựng dựa vào những lần phản hồi như vậy Công ty chọn lọc từ cơ sở dữ liệu đểnhận diện những khách hàng tiềm năng và sau đó liên lạc với họ bằng thư, điện thoại

để biến họ thành khách hàng

- Xác định chương trình chào hàng đặc biệt cho một số đối tượng khách hàng.Công ty đưa ra một số các chỉ tiêu mô tả về khách hàng mục tiêu lý tưởng cho từngđợt chào hàng cụ thể Công ty tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu những khách hàng đạt tiêuchuẩn đề ra

- Tăng cường uy tín khách hàng Công ty cần thu hút sự quan tâm và tự nguyệncủa khách hàng đối với sản phẩm của công ty thông qua việc ghi nhớ sở thích củakhách hàng; gửi quà, tặng phiếu giảm giá và các tài liệu có nhiều thông tin thú vị

- Duy trì khách hàng Công ty có thể cài đặt các chương trình email tự độngnhằm gửi bưu thiếp chúc mừng sinh nhật, chúc mừng nhân các dịp lễ, nhắc nhở kháchhàng về dịp mua hàng có đợt khuyến mại, giảm giá đã được ghi lại trong cơ sở dữ liệu

B Nội dung thảo luận

Câu hỏi thảo luận: Vì sao Web được ứng dụng nhiều trong giao dịch trực tuyến?Yêu cầu: Sinh viên chuẩn bị nội dung ở nhà, trình bày trên lớp

Trang 33

C Câu hỏi ôn tập

1 Mạng máy tính là gì?

2 Thế nào là Internet, Intranet, Extranet? Phân biệt chúng

3 Trình bày tác dụng của Internet, Intranet, Extranet trong kinh doanh trựctuyến?

4 Web có đặc điểm gì?

5 Web có phải là cơ sở dữ liệu không?

6 Cơ sở dữ liệu là gì? Các loại cơ sở dữ liệu

Trang 34

CHƯƠNG 4 MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

IV.1 Mục tiêu chương 4

Chương này phân tích một số vấn đề liên quan đến thương mại điện tử như vănbản số hóa, chứ ký số, bản gốc chứng tư, thông tin cá nhân và bảo vệ dữ liệu, quyền sởhữu trí tuệ Yêu cầu sinh viên phải nắm được các vấn đề pháp lý liên quan đến thươngmại điện tử trên phạm vi chung toàn cầu và riêng ở Việt Nam

IV.2 Tóm tắt nội dung

- Các vấn đề chính về luật trong thương mại điện tử (giá trị pháp lý của dữ liệu

điện tử, chữ ký điện tử và văn bản gốc)

- Bí mật cá nhân và cách bảo vệ.

- Quyền sở hữu trí tuệ và cách bảo vệ

- Vấn đề thanh toán trực tuyến và an toàn mạng

- Vấn đề hợp đồng điện tử

- Tình hình luật thương mại điện tử ở Việt Nam.

IV.3 Các nội dung cụ thể

A Nội dung lý thuyết

4.1 Các vấn đề chính về luật trong thương mại điện tử.

Sự phát triển nhanh chóng của các giao dịch điện tử đang ngày càng tạo ra nhiều

cơ hội mới cho phát triển kinh tế và xúc tiến thương mại toàn cầu Có thể nói thươngmại điện tử ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong hoạt động thương mại quốc tế Do vậy,việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý thương mại điện tử thuận lợi, nhất quán trênphạm vi toàn cầu là chìa khóa cho sự phát triển của thương mại điện tử và thương mạitoàn cầu trong tương lai Trong mấy năm gần đây, việc xây dựng khuôn khổ pháp lýthương mại điện tử toàn cầu đã thu hút được sự tập trung chú ý của cộng đồng quốc tế

và bước đầu đã đạt được một số kết quả trên khắp các diễn đàn quốc tế như: Hội đồngChâu Âu (EC), Phòng Thương mại quốc tế (ICC), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (OECD), Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tê (UNCITRAL), Chươngtrình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO)

Theo ý kiến đánh giá của các diễn đàn thảo luận quốc tế nêu trên thì yêu cầu hiệnnay của luật quốc gia và quốc tế về văn bản chứng thực trên giấy, chữ ký tay và bảngốc chứng từ trong giao dịch thương mại quốc tế là trở ngại lớn nhất đối với sự pháttriển của thương mại điện tử trên phạm vi toàn cầu, ngoài ra còn các vấn đề khác nhưtính riêng tư và sở hữu trí tuê cũng cần được quan tâm

Trang 35

Hiện nay, hầu hết các nước đều đã từng bước xây dựng khung pháp luật điềuchỉnh các giao dịch điện tử riêng cho mình Tuy luật của các nước khác nhau tùy thuộcvào hệ thống pháp luật và điều kiện của từng nước, nhưng đều phải thống nhất về mặtnguyên tắc Hai nguyên tắc chính thống nhất xác định khuôn khổ pháp lý thương mạiđiện tử cơ bản là:

- Khuôn khổ pháp lý TMĐT phải được xây dựng trên cơ sở nền tảng các khuônkhổ pháp lý điều chỉnh giao dịch thương mại truyền thống

- Khuôn khổ pháp lý TMĐT phải xóa bỏ được rào cản kiềm chế sự phát triểnTMĐT

Để hỗ trợ các nước trong việc xây dựng luật đồng thời tìm tiếng nói chung trongcộng đồng quốc tế, các tổ chức quốc tế bao gồm UNCITRAL, WTO, ICC, EC, đãsoạn thảo các đạo luật mẫu, quy định, quy tắc hướng dẫn, các điều khoản hợp đồngchuẩn cho hoạt động thương mại điện tử UNCITRAL là một trong các tổ chức tiênphong trong lĩnh vực soạn thảo các quy định pháp lý liên quan đến thương mại điện tử.Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 UNCITRAL đãsoạn thảo một luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu vềthừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý chonhững tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử Luật mẫu có thểđược sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng phápluật về thương mại điện tử của mình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giaodịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có nhữnghành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằngphương tiện điện tử Luật mẫu được soạn thảo dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

 Tài liệu điện tử có thể được coi là có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạngvăn bản nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;

 Tự do thoả thuận hợp đồng;

 Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;

 Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý

về hình thức hợp đồng; những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý vàkhả năng được thi hành phải được tôn trọng;

 Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung : luật chỉ ápdụng đối với hình thức hợp đồng mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phảithoả mãn những đòi hỏi pháp lý nhất định;

 Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước Nhiều quốc gia đã thểhiện các nguyên tắc và nội dung của luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống phápluật quốc gia của nước mình

Trang 36

Các nội dung nghiên cứu phần tiếp sau đây dựa trên luật mẫu của UNCITRAL

về thương mại điện tử

4.1.1 Giá trị pháp lý của các dữ liệu điện tử

Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL đưa ra các nguyên tắc chốngphân biệt đối xử giữa dữ liệu điện tử với văn bản truyền thống Điều 5 của luật mẫuquy định “hiệu lực pháp lý, giá trị pháp lý hoặc hiệu lực thi hành của thông tin khôngthể bị phủ nhận chỉ vì lý do thông tin ấy được thể hiện dưới dạng một thông điệp điệntử” Trên cơ sở nguyên tắc này, luật mẫu đưa ra các quy định cụ thể để xác định cácđiều kiện để một dữ liệu điện tử được công nhận giá trị pháp lý tương đương với vănbản, chữ ký và bản gốc

Về yêu cầu văn bản, luật mẫu đưa ra các điều kiện để một thông điệp điện tử cóthể được coi là có giá trị như văn bản truyền thống Khi quy định về yêu cầu văn bản,Luật mẫu chú trọng đến chức năng có khả năng đọc và sao chép Cụ thể điều 6 luậtmẫu quy định “trong trường hợp luật pháp yêu cầu thông tin phải được trình bày dướidạng văn bản thì một thông điệp sẽ thỏa mãn yêu cầu đó nếu thông tin chứa trongthông điệp điện tử đó có thể được truy cập để sử dụng làm tài liệu tham chiếu” Ngoài

ra, Luật mẫu còn quy đinh về giá trị pháp lý của thông điệp điện tử trong trường hợpgiao kết hợp đồng Điều 11 luật mẫu quy định “Khi kết lập hợp đồng, trừ trường hợpcác bên có thỏa thuận khác, một chào hàng và một chấp nhận chào hàng có thể đượcthể hiện thông qua các thông điệp điện tử Khi một thông điệp dữ liệu được sử dụngtrong việc kết lập một hợp đồng, thì giá trị pháp lý hoặc hiệu lực thi hành của hợpđồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với lý do là một thông điệp dữ liệu đã được dùngvào mục đích ấy”

Về yêu cầu đối với chữ ký, để tránh lệ thuộc vào công nghệ, luật mẫu không quyđịnh các thức ký kết một thông điệp điện tử, mà chú trọng đến chức năng của chữ ký làxác định danh tính và gắn kết người ký với nội dung được ký kết Cụ thể điều 7 luậtmẫu quy định “ Trong trường hợp luật pháp yêu cầu chữ ký của một người, thì mộtthông điệp dữ liệu sẽ thỏa mãn yêu cầu đó nếu thông điệp đó sử dụng một phươngpháp cho phép xác định người đó và thể hiện được sự chấp thuận của người đóvới nộidung thông tin trong thông điệp dữ liệu với điều kiện phương pháp được sử dụng phảitin cậy và phù hợp với mục đích theo đó thông điệp được khởi tạo hoặc liên lạc trongtất cả các trường hợp, kể cả đối với các thỏa thuận liên quan

4.1.2 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử

Từ trước đến nay chữ ký là phương thức phổ biến để ghi nhận tính xác thực củathông tin được chứa đựng trong văn bản Chữ ký có một số đặc trưng cơ bản như chữ

ký nhằm xác định tác giả của văn bản; chữ ký thể hiện sự chấp nhận của tác giả với nội

Trang 37

dung thông tin chứa đựng trong văn bản Trong thương mại điện tử, người ta sử dụnghình thức chữ ký điện tử.

Chữ ký điện tử là thông tin dưới dạng điện tử được gắn kèm một cách phù hợpvới dữ liệu điện tử nhằm xác lập mối liên hệ giữa người gửi và nội dung của dữ liệuđiện tử đó Chữ ký điện tử được mã hóa bằng khóa mật mã và được xác lập riêng chomỗi cá nhân để xác định quyền và trách nhiệm của người lập và những người liên quanchịu trách nhiệm về tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử Đông thời đặt racác yêu cầu về nhận dạng chữ ký điện tử, cho phép các bên không liên quan hoặc có ítthông tin về nhau có thể xác định được chính xác chữ ký điện tử Chữ ký điện tử ngàycàng được sử dụng nhiều và trở thành một thành tố quan trọng trong văn bản điện tử.Một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là về mặt công nghệ và pháp lý thì chữ ký điện

tử phải đáp ứng được sự an toàn và thể hiện ý chí rõ ràng của các bên về thông tinchứa đựng trong văn bản điện tử

Luật mẫu về chữ ký điện tử sử dụng 2 cấp yêu cầu đối với chữ ký điện tử, theo

đó cấp thứ nhất yêu cầu chữ ký điện tử phải thỏa mãn các điều kiện chung nhất đối vớimột chữ ký điện tử như quy định ở phần trước Bên cạnh đó cấp thứ 2 sẽ giới hạn chữ

ký hẹp lại bằng cách yêu cầu nâng cao tiêu chuẩn đối với chữ ký điện tử hoặc yêu cầuchữ ký điện tử phải phù hợp với điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên.Ngoài ra, để xác định được độ tin cậy của chữ ký điện tử người ta trù liệu hình thànhmột cơ quan trung gian nhằm chứng thực tính xác thực và đảm bảo độ tin cậy của chữ

ký điện tử Cơ quan này hình thành nhằm cung cấp một dịch vụ mang nhiều ý nghĩa vềmặt pháp lý hơn là về mặt công nghệ

4.1.3 Văn bản gốc

Vấn đề "bản gốc" có liên quan chặt chẽ đến vấn đề "chữ ký" và "văn bản" trongmôi truờng kinh doanh điện tử Bản gốc thể hiện sự toàn vẹn của thông tin chứa đựngtrong văn bản Trong môi trường giao dịch qua mạng thì vấn đề bản gốc được đặt gắnliền với việc sử dụng chữ ký điện tử Do đó chữ ký điện tử không những chỉ xác địnhngười ký mà còn nhằm xác minh cho tính toàn vẹn của nội dung thông tin chứa trongvăn bản Việc sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc mã hoá tài liệu được ký kết

Về mặt nguyên tắc thì văn bản điện tử và văn bản truyền thống có giá trị ngang nhau

về mặt pháp lý Vấn đề này được làm rõ sẽ là cơ sở cho việc xác định giá trị chứng cứcủa văn bản điện tử Việc công nhận giá trị chứng cứ của văn bản điện tử đóng một vaitrò quan trọng trong sự phát triển của thương mại điện tử Chỉ khi giá trị của văn bảnđiện tử được đặt ngang hàng với văn bản viết truyền thống thì các chủ thể trong giaodịch thương mại điện tử mới sử dụng một cách thường xuyên văn bản điện tử thay chovăn bản viết truyền thống Tuy vậy giá trị của văn bản điện tử cũng chỉ được xác nhậnkhi nó đảm bảo được các thành tố mà đã được nêu ở phần trên

Ngày đăng: 19/11/2017, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo Thương mại điện tử 2010, Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử
2. Dương Tố Dung, Cẩm nang thương mại điện tử cho doanh nhân, NXB Lao Động, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thương mại điện tử cho doanh nhân
Nhà XB: NXB Lao Động
3. TS Trần Văn Hòe, Giáo trình thương mại điện tử căn bản, NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thương mại điện tử căn bản
Nhà XB: NXB Đại học kinh tếquốc dân
4. Nghị định 57/2006/NDD-Chính phủ của Chính phủ ngày 09/6/2006 về thương mại điện tử Khác
5. Quyết định số 222/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/9/2005 về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010 Khác
6. Quyết định số 1073/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/7/2010 về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 – 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w