website Google Online thay vì gõ www.google.com Đây là lúc DNS "trổ tài chuyển đổi" ánh xạ các con số địa chỉ IP khô khan thành những ký tự ABC thân thiện hơn.II./DHCP SERVER Dynamic Hos
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ HUTECH TP.HCM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài lab , em cám ơn quý Thầy Cô bộ môn Trường Đại Học Công NghệTP.HCM đã giảng dạy , hỗ trợ kiến thức và định hướng những kiến thức quý báu để em
có thể tìm hiểu và tiếp cận với những công nghệ và lĩnh vực mới
Do thời gian eo hẹp và khả năng có hạn bài báo cáo không tránh những thiếu sót Kínhmong nhận được ý kiến đóng góp , phê bình của quý thầy cô để bài lab ngày càng hoàn
thiện hơn !
Em xin chân thành cám ơn !
Trang 3I./LINUX SERVER
Linux là tên gọi của một hệ điều hành máy tính và cũng là tên hạt nhân của hệ điều hành
Nó có lẽ là một ví dụ nổi tiếng nhất củaphần mềm tự do và của việc phát triển mã nguồnmở
Phiên bản Linux đầu tiên do Linus Torvalds viết vào năm 1991, lúc ông còn là một sinhviên của Đại học Helsinki tại Phần Lan Ông làm việc một cách hăng say trong vòng 3năm liên tục và cho ra đời phiên bản Linux 1.0 vào năm 1994 Bộ phận chủ yếu này đượcphát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License Do đó
mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem mã nguồn của Linux
Một cách chính xác, thuật ngữ "Linux" được sử dụng để chỉ Nhân Linux, nhưng tên nàyđược sử dụng một cách rộng rãi để miêu tả tổng thể một hệ điều hành giống Unix (cònđược biết đến dưới tên GNU/Linux) được tạo ra bởi việc đóng gói nhân Linux cùng vớicác thư viện và công cụ GNU, cũng như là các bản phân phối Linux Thực tế thì đó là tậphợp một số lượng lớn các phần mềm như máy chủ web, các ngôn ngữ lập trình, các hệquản trị cơ sở dữ liệu, các môi trường làm việc desktop như GNOME và KDE, và cácứng dụng thích hợp cho công việc văn phòng như OpenOfficehay LibreOffice
Khởi đầu, Linux được phát triển cho dòng vi xử lý 386, hiện tại hệ điều hành này hỗ trợmột số lượng lớn các kiến trúc vi xử lý, và được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau
từ máy tính cá nhân cho tới các siêu máy tính và các thiết bị nhúng như là các máy điệnthoại di động
Ban đầu, Linux được phát triển và sử dụng bởi những người say mê Tuy nhiên, hiện nayLinux đã có được sự hỗ trợ bởi các công ty lớn như IBM và Hewlett-Packard, đồng thời
nó cũng bắt kịp được các phiên bản Unix độc quyền và thậm chí là một thách thức đốivới sự thống trị của Microsoft Windows trong một số lĩnh vực Sở dĩ Linux đạt đượcnhững thành công một cách nhanh chóng là nhờ vào các đặc tính nổi bật so với các hệthống khác: chi phí phần cứng thấp, tốc độ cao (khi so sánh với các phiên bản Unix độcquyền) và khả năng bảo mật tốt, độ tin cậy cao (khi so sánh với Windows) cũng như làcác đặc điểm về giá thành rẻ, không bị phụ thuộc vào nhà cung cấp Một đặc tính nổi trộicủa nó là được phát triển bởi một mô hình phát triển phần mềm nguồn mở hiệu quả
Trang 4Tuy nhiên, hiện tại số lượng phần cứng được hỗ trợ bởi Linux vẫn còn rất khiêm tốn sovới Windows vì các trình điều khiển thiết bị tương thích với Windows nhiều hơn làLinux Nhưng trong tương lai số lượng phần cứng được hỗ trợ cho Linux sẽ tăng lên.
II./DNS SERVER
DNS viết tắt từ Domain Name System (tạm dịch Hệ thống tên miền) là Hệ thống phân giải tên được phát minh vào năm 1984 cho Internet và là một trong số các chuẩn công nghiệp của các cổng bao gồm cả TCP/IP DNS là chìa khóa chủ chốt của nhiều dịch vụ mạng như duyệt Internet, mail server, web server Có thể nói không có DNS, Internet sẽ mau chóng lụi tàn để bạn có thể hình dung về mức độ quan trọng của DNS
Các tài nguyên mạng được định danh bằng những địa chỉ IP dạng như 10.0.0.10 làm ví
dụ Mỗi máy tính khi kết nối vào mạng Internet cũng được gán cho 1 địa chỉ IP riêng biệt không trùng lẫn với bất kỳ máy tính nào khác trên thế giới Tương tự vậy với website cũng có các địa chỉ IP riêng biệt Tuy nhiên, bạn đâu thể nhớ rõ con số 8.8.8.8 sẽ dẫn đến
Trang 5website Google Online thay vì gõ www.google.com Đây là lúc DNS "trổ tài chuyển đổi" (ánh xạ) các con số địa chỉ IP khô khan thành những ký tự ABC thân thiện hơn.
II./DHCP SERVER
Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP - giao thức cấu hình động máy chủ) là
một giao thức cấu hình tự động địa chỉ IP Máy tính được cấu hình một cách tự động vì thế sẽ giảm việc can thiệp vào hệ thống mạng Nó cung cấp một database trung tâm để theo dõi tất cả các máy tính trong hệ thống mạng Mục đích quan trọng nhất là tránh trường hợp hai máy tính khác nhau lại có cùng địa chỉ IP
Nếu không có DHCP, các máy có thể cấu hình IP thủ công Ngoài việc cung cấp địa chỉ
IP, DHCP còn cung cấp thông tin cấu hình khác, cụ thể như DNS Hiện nay DHCP có 2 version: cho IPv4 và IPv6
DHCP đầu tiên được định nghĩa trong RFC 1531 vào tháng 10/1993, là phần mở rộng của Bootstrap Protocol(BOOTP) Động cơ để cải tiến BOOTP là BOOTP đòi hỏi phải cấu hình thủ công để thêm thông tin cho từng máy client, và không cung cấp cơ chế tái sửdụng lại địa chỉ IP Năm 1997, RFC 2131 ra đời,vẫn còn chuẩn IPv4 cho đến năm 2011
Trang 6DHCPv6 được định nghĩa trong RFC 3315 RFC 3633 được thêm vào DHCPv6 cơ chế prefix delegation.
Giao thức BOOTP lần đầu tiên được định nghĩa trong RFC 951 thay thê cho RARP (Reverse Address Resolution Protocol), mà động cơ thiết yếu để thay thế RARP bằng BOOTP là RARP hoạt động ở tầng data link, điều này làm cho việc thực hiện trên nhiều máy server trở nên khó khăn, và đòi hỏi một server xử lý trên riêng trên từng network
BOOTP có đổi mới relay agent, cho phép forwarding đến gói BOOTP trong mạng cục
bộ, vì vậy BOOTP server có thể phục vụ cho nhiều IP subnet
DHCP tự động quản lý các địa chỉ IP và loại bỏ được các lỗi có thể làm mất liên lạc Nó
tự động gán lại các địa chỉ chưa được sử dụng DHCP cho thuê địa chỉ trong một khoảng thời gian, có nghĩa là những địa chỉ nầy sẽ còn dùng được cho các hệ thống khác
Bạn hiếm khi bị hết địa chỉ DHCP tự động gán địa chỉ IP thích hợp với mạng con chứa máy trạm này Cũng vậy, DHCP tự động gán địa chỉ cho người dùng di động tại mạng con họ kết nối
Trình tự thuê Địa chỉ IP DHCP là một giao thức Internet có nguồn gốc ở BOOTP
(bootstrap protocol), được dùng để cấu hình các trạm không đĩa DHCP khai thác ưu điểm của giao thức truyền tin và các kỹ thuật khai báo cấu hình được định nghĩa trong BOOTP, trong đó có khả năng gán địa chỉ Sự tương tự nầy cũng cho phép các bộ định tuyến hiện nay chuyển tiếp các thông điệp BOOTP giữa các mạng con cũng có thể
chuyển tiếp các thông điệp DHCP Vì thế, máy chủ DHCP có thể đánh địa chỉ IP cho nhiều mạng con
Quá trình đạt được địa chỉ IP được mô tả dưới đây:
Bước 1: Máy trạm khởi động với “địa chỉ IP rỗng” cho phép liên lạc với máy chủ DHCP bằng giao thức TCP/IP Nó chuẩn bị một thông điệp chứa địa chỉ MAC (ví dụ địa chỉ của card Ethernet) và tên máy tính Thông điệp nầy có thể chứa địa chỉ IP trước đây đã thuê Máy trạm phát tán liên tục thông điệp này lên mạng cho đến khi nhận được phản hồi từ máy chủ
Bước 2: Mọi máy chủ DHCP có thể nhận thông điệp và chuẩn bị địa chỉ IP cho máy trạm.Nếu máy chủ có cấu hình hợp lệ cho máy trạm, nó chuẩn bị thông điệp “chào hàng” chứađịa chỉ MAC của khách, địa chỉ IP “chào hàng”, mặt nạ mạng con (subnet mask), địa chỉ
IP của máy chủ và thời gian cho thuê Địa chỉ “chào hàng” được đánh dấu là “reserve” (để dành) Máy chủ DHCP phát tán thông điệp chào hàng nầy lên mạng
Trang 7Bước 3: Khi khách nhận thông điệp chào hàng và chấp nhận một trong các địa chỉ IP, máy trạm phát tán thông điệp nầy để khẳng định nó đã chấp nhận địa chỉ IP và từ máy chủ DHCP nào.
Bước 4: Cuối cùng, máy chủ DHCP khẳng định toàn bộ sự việc với máy trạm Để ý rằng lúc đầu máy trạm phát tán yêu cầu về địa chỉ IP lên mạng, nghĩa là mọi máy chủ DHCP đều có thể nhận thông điệp nầy Do đó, có thể có nhiều hơn một máy chủ DHCP tìm cáchcho thuê địa chỉ IP bằng cách gởi thông điệp chào hàng Máy trạm chỉ chấp nhận một thông điệp chào hàng, sau đó phát tán thông điệp khẳng định lên mạng Vì thông điệp nầyđược phát tán, tất cả máy chủ DHCP có thể nhận được nó Thông điệp chứa địa chỉ IP củamáy chủ DHCP vừa cho thuê, vì thế các máy chủ DHCP khác rút lại thông điệp chào hàng của mình và hoàn trả địa chỉ IP vào vùng địa chỉ, để dành cho khách hàng khác
III./ WEB SERVER
Web Server (máy phục vụ Web): máy tính mà trên đó cài đặt phần mềm phục vụ Web, đôikhi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server Tất cả các Web Server đều hiểu
và chạy được các file *.htm và *.html, tuy nhiên mỗi Web Server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp, *.aspx ; Apache dành cho *.php ; Sun Java System Web Server của SUN dành cho *p
Máy Web Server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác (các mã Script, các chương trình, và các file Multimedia)
Trang 8Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua môi trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết kế để gửi các file đến trình duyệt Web (Web Browser), và các giao thức khác.
Tất cả các Web Server đều có một địa chỉ IP (IP Address) hoặc cũng có thể có một
Domain Name Giả sử khi bạn đánh vào thanh Address trên trình duyệt của bạn một dònghttp://www.abc.com sau đó gõ phím Enter bạn sẽ gửi một yêu cầu đến một Server có Domain Name là www.abc.com Server này sẽ tìm trang Web có tên là index.htm rồi gửi
Giống như những phần mềm khác mà bạn đã từng cài đặt trên máy tính của mình, Web Server Software cũng chỉ là một ứng dụng phần mềm Nó được cài đặt, và chạy trên máy tính dùng làm Web Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các thông tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet, Intranet)
Web Server Software còn có thể được tích hợp với CSDL (Database), hay điều khiển việckết nối vào CSDL để có thể truy cập và kết xuất thông tin từ CSDL lên các trang Web và truyền tải chúng đến người dùng
Server phải hoạt động liên tục 24/24 giờ, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm, để phục
vụ cho việc cung cấp thông tin trực tuyến Vị trí đặt server đóng vai trò quan trọng trong chất lượng và tốc độ lưu chuyển thông tin từ server và máy tính truy cập
III./ FTP SERVER
FTP (viết tắt của File Transfer Protocol dịch ra là "Giao thức truyền tập tin") thường
được dùng để trao đổi tập tin qua mạng lưới truyền thông dùng giao thức TCP/IP (chẳng
Trang 9hạn như Internet - mạng ngoại bộ - hoặc intranet - mạng nội bộ) Hoạt động của FTP cần
có hai máy tính, một máy chủ và một máy khách) Máy chủ FTP, dùng chạy phần mềm cung cấp dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe yêu cầu về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng lưới Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người sử dụng dịch vụ, gọi là trình khách, thì khởi đầu một liên kết với máy chủ Một khi hai máy đã liên kết với nhau, máy khách có thể xử lý một số thao tác về tập tin, như tải tập tin lên máy chủ, tải tập tin từ máy chủ xuống máy của mình, đổi tên của tập tin, hoặc xóa tập tin ở máy chủ v.v Vì giao thức FTP là một giao thức chuẩn công khai, cho nên bất cứ một công ty phần mềm nào, hay một lập trình viên nào cũng có thể viết trình chủ FTP hoặc trình khách FTP Hầu như bất cứ một nền tảng hệ điều hành máy tính nào cũng hỗ trợ giao thức FTP Điều này cho phép tất cả các máy tính kết nối với một mạng lưới có nền TCP/IP, xử lý tập tin trên một máy tính khác trên cùng một mạng lưới với mình, bất kể máy tính ấy dùng hệ điều hành nào (nếu các máy tính ấy đều cho phép sự truy cập của các máy tính khác, dùng giao thức FTP) Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các trình khách và trình chủ FTP, và phần đông các trình ứng dụng này cho phép người dùng được lấy tự do, không mất tiền
Trang 10FTP thường chạy trên hai cổng, 20 và 21, và chỉ chạy riêng trên nền của TCP Trình chủ FTP lắng nghe các yêu cầu dịch vụ từ những kết nối vào máy của các trình khách FTP, trên cổng 21 Đường kết nối trên cổng 21 này tạo nên một dòng truyền điều khiển, cho phép các dòng lệnh được chuyển qua trình chủ FTP Để truyền tải tập tin qua lại giữa hai máy, chúng ta cần phải có một kết nối khác Tùy thuộc vào chế độ truyền tải được sử
dụng, trình khách (ở chế độ năng động - active mode) hoặc trình chủ (ở chế độ bị động -passive mode) đều có thể lắng nghe yêu cầu kết nối đến từ đầu kia của mình Trong
trường hợp kết nối ở chế độ năng động, (trình chủ kết nối với trình khách để truyền tải dữliệu), trình chủ phải trước tiên đóng kết vào cổng 20, trước khi liên lạc và kết nối với trình khách Trong chế độ bị động, hạn chế này được giải tỏa, và việc đóng kết trước là một việc không cần phải làm
Trong khi dữ liệu được truyền tải qua dòng dữ liệu, dòng điều khiển đứng im Tình trạng này gây ra một số vấn đề, đặc biệt khi số lượng dữ liệu đòi hỏi được truyền tải là một số lượng lớn, và đường truyền tải chạy thông qua những bức tường lửa Bức tường lửa là dụng cụ thường tự động ngắt các phiên giao dịch sau một thời gian dài im lặng Tuy tập tin có thể được truyền tải qua hoàn thiện, song dòng điều khiển do bị bức tường lửa ngắt mạch truyền thông giữa quãng, gây ra báo lỗi
Mục đích của giao thức FTP, như được phác thảo trong bản RFC, là:
1. Khuyến khích việc dùng chung tập tin (như chương trình ứng dụng vi tính hoặc dữliệu)
2. Khuyến khích việc sử dụng máy tính ở xa một cách gián tiếp / âm thầm (implicit).
3. Che đậy sự khác biệt về hệ thống lưu trữ tập tin giữa các máy chủ, hầu cho người dùng không cần phải quan tâm đến những sự khác biệt riêng tư của chúng
4. Truyền tải dữ liệu một cách đáng tin cậy và có hiệu quả cao
III./ MRTG
1. MRTG là gì ?
- Hệ thống mạng của đơn vị bạn có thiết bị mạng như Router, Switch và Server và bạn muốn giám sát traffic hàng ngày trên thiết bị mạng đó? MRTG là một phần mềm cho phép bạn thực hiện công việc trên
Trang 11- MRTG hoạt động dựa trên giao thức mạng SNMP
- MRTG hiện thị hình ảnh về lưu lượng traffic đi qua các interface của thiết bị mạng trên giao diện web
- MRTG là phần mềm được viết bằng ngôn ngữ lập trình Perl và là phần mềm miễn phí chạy trên hệ điều hành Unix/Linux, Windows
Dưới đây là hình ảnh minh họa về phần mềm MRTG
2 Giới thiệu về giao thức SNMP
SNMP (viết tắt từ tiếng Anh: Simple Network Management Protocol) là một tập hợp các giao
thức không chỉ cho phép kiểm tra nhằm đảm bảo các thiết bị mạng
như router , switch hay server đang vận hành mà còn vận hành một cách tối ưu, ngoài ra SNMP còn cho phép quản lý các thiết bị mạng từ xa.
Trang 12SNMP sử dụng UDP (User Datagram Protocol) như là giao thức truyền tải thông tin giữa các manager và agent Việc sử dụng UDP, thay vì TCP, bởi vì UDP là phương thức truyền mà trong đó hai đầu thông tin không cần thiết lập kết nối
trứơc khi dữ liệu được trao đổi (connectionless), thuộc tính này phù hợp trong điều
kiện mạng gặp trục trặc, hư hỏng v.v
SNMP có các phương thức quản lý nhất định và các phương thức này được định
dạng bởi các gói tin PDU (Protocol Data Unit) Các manager và agent sử dụng
PDU để trao đổi với nhau
IV./ NAGIOS – CÔNG CỤ GIÁM SÁT MẠNH MẼ
Nagios là một mã nguồn mở phổ biến hệ thống máy tính và phần mềm ứng dụng giám sát mạng Nagios kiểm soát hoạt động máy chủ và dịch vụ, cảnh báo người dùng khi gặp gì sai trong hệ thống
Trang 13Nagios, ban đầu được đặt tên là NetSaint t, đã được viết và hiện đang được nghiên cứu
"cải tiến" bởi Ethan Galstad, cùng với một nhóm các nhà phát triển tích cực duy trì cả haichính thức và không chính thức bổ sung N.A.G.I.O.S là một từ viết tắt đệ quy: "Khôngphải là Gonna Nagios Luôn nhấn mạnh về phong Thánh" , "phong Thánh" là một thamchiếu đến tên ban đầu của phần mềm, mà đã được thay đổi để đáp ứng với một thách thứcpháp lý của chủ sở hữu của một nhãn hiệu tương tự "Agios"
Nagios ban đầu được thiết kế để chạy theo GNU / Linux, nhưng cũng chạy tốt trên cácphiên bản Unix Nó là miễn phí phần mềm, cấp phép theo các điều khoản của GNUGeneral Public License phiên bản 2 như được xuất bản bởi Tổ chức Phần mềm Tự do