1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

17 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi mang thai, người mẹ cần được cung cấp đầy đủ năng lượng cũng như các chất dinh dưỡng cần thiết cho phát triển bào thai và có nguồn dự trữ cần thiết để nuôi con sau này.. Khi có thai

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM

KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM



MÔN HỌC: DINH DƯỠNG BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 3

ĐỀ TÀI

DINH DƯỠNG CHO PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO

CON BÚ

Trang 2

I ĐẶC ĐIỂM VỀ NHÓM ĐỐI TƯỢNG PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ 3

II NHU CẦU NĂNG LƯỢNG 4

III NHU CẦU DINH DƯỠNG 5

IV CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG 5

V NGUỒN CUNG CẤP CÁC CHẤT DINH DƯỠNG 8

VI NHU CẦU DINH DƯỠNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN MANG THAI 11

VII CHẾ ĐỘ ĂN CỦA BÀ MẸ CHO CON BÚ 13

VIII CÁC MỤC PHỤ 15

Trang 3

I ĐẶC ĐIỂM VỀ NHÓM ĐỐI TƯỢNG PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ

Thai nghén là một trạng thái sinh lý bình thường nhưng dễ mất ổn định do có nhiều thay đổi trong cơ thể người mẹ Nhìn chung, khi mang thai và nuôi con bú nhu cầu dinh dưỡng của

người mẹ tăng cao hơn bình thường Khi mang thai, người mẹ cần được cung cấp đầy đủ

năng lượng cũng như các chất dinh dưỡng cần thiết cho phát triển bào thai và có nguồn dự trữ cần thiết để nuôi con sau này Khi nuôi con bú, ngoài nhu cầu dinh dưỡng cho người mẹ, khẩu phần ăn cần đáp ứng được nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng để tạo sữa nuôi con

Hình 1 Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

Bắt đầu có thai, một số người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, có cảm giác buồn nôn hoặc thèm ăn những thức ăn theo sở thích riêng của từng người Các hiện tượng đó chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, sau đó người mẹ cần chăm lo ăn uống hợp lý và giữ gìn sức khỏe để thai phát triển bình thường

Khi có thai hoặc nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn mức bình thường vì chẳng những phải đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú lại còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú Dinh dưỡng đầy đủ để đảm bảo sự thay đổi về sinh lý của người mẹ như về chuyển hoá, tích lũy mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung và vú

Trang 4

Quan trọng nhất trong vấn đề dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai là nó đảm bảo cho sự phát triển

của thai nhi và sau khi bé ra đời, còn là việc tạo nguồn sữa đầy đủ về chất và lượng để nuôi con bú

Hình 2 Tháp dinh dưỡng cho thời kì mang thai

II NHU CẦU NĂNG LƯỢNG

Ở phụ nữ mang thai, chuyển hóa năng lượng tăng cao và cao nhất trong những tháng cuối của

thai kỳ, trung bình chuyển hóa của phụ nữ có thai khoảng 20% so với khi chưa có thai Khi mang thai mỗi ngày cần bổ sung thêm khoảng 300 Kcal, từ đó cho thấy nhu cầu năng lượng cho cả quá trình mang thai (280 ngày) ước tính khoảng 80.000 Kcal cao hơn nhu cầu bình thường Nhu cầu năng lượng cần cho sự phát triển các mô trong thời kỳ mang thai có thể dựa trên số lượng protêin và chất béo tích tụ trong bào thai, nhau thai, nước ối, tử cung, vú, máu, dịch ngoại bào và các mô mỡ

Ở đối tượng phụ nữ cho con bú, nhu cầu chuyển hóa năng lượng cơ bản tăng lên 4 – 5% để

sản xuất sữa Trong 6 tháng đầu sau sinh, lượng sữa sản xuất trung bình khoảng 0.78lít/ngày và 0.6lít/ngày cho 6 tháng tiếp theo Khi nuôi con, ngoài nhu cầu dinh dưỡng dành cho người mẹ

mà khẩu phần ăn còn phải đáp ứng nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng để tạo sữa Ước tính nhu cầu năng lượng cho bà mẹ nuôi con là khoảng 2700 – 3000 Kcal/ngày Tùy thuộc vào năng lượng được cung cấp từ mỡ dự trữ trong thời kỳ mang thai, năng lượng của khẩu

Trang 5

phần ăn và các chất dinh dưỡng hàng ngày cần tăng khoảng thêm 500 Kcal/ngày, nguồn năng lượng này sẽ giúp sản xuất 750ml sữa mẹ

III NHU CẦU DINH DƯỠNG

Nhu cầu protein của phụ nữ có thai và cho con bú cũng cao hơn mức bình thường Theo bảng Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam (1997), đối với phụ nữ có thai 6 tháng cuối, nhu cầu cần bổ sung là 350 Kcal và 15g protein/ngày; đối với bà mẹ nuôi con bú là 550 Kcal và 28g protein/ngày

Nhu cầu một số vi chất dinh dưỡng như sắt, calci, kẽm, … của các bà mẹ cũng tăng trong thời

kỳ mang thai và nuôi con bú Do trong thời kỳ mang thai và bắt đầu tiết sữa không có kinh nguyệt nên nhu cầu phụ về sắt của bà mẹ có thai và cho cón bú xấp xỉ như cầu của phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt Người ta ước tính trong thời kỳ mang thai người mẹ cần bổ sung khoảng 1g sắt để đáp ứng nhu cầu sắt của bào thai, nhau thai và tăng tổng hợp hồng cầu trong

cơ thể mẹ Calci chiếm 1/3 khối lượng chất khoáng trong cơ thể và khoảng 98% lưỡng calci của cơ thể nằm ở xương và răng Chính vì thế calci rât cần thiết cho phát triển của trẻ em và đối với phụ nữ có thai và cho con bú Phụ nữ có thai trong 3 tháng cuối và cho con bú cần 1000 –

1200 mg/ ngày Đối với bà mẹ có thai và cho con bú, nhu cầu của hầu hết các vitamin như vitamin A, B1, B2, PP và C đều tăng cao hơn mức bình thường

Hình 3 Nhu cầu một số chất dinh dưỡng cho bà mẹ có thai và nuôi con bú theo khuyến nghị

của Viện Dinh Dưỡng ( 1997 )

IV CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG

7 nguyên tắc vàng đối với dinh dưỡng thai phụ

1 Điều chỉnh lại chế độ ăn uống

2 Nói không với những thực phẩm có hại

3 Uống bổ sung vitamin và khoáng chất trước khi sinh

4 Không được ăn kiêng khi mang thai

Trang 6

5 Tăng cân dần dần

6 Ăn liên tục và chia thành nhiều bữa ăn nhỏ

7 Thỉnh thoảng hãy cho cơ thể mình được nếm vị ngọt

Tăng thêm năng lượng (Chủ yếu là ăn nhiều thực phẩm có nhiều tinh bột Ví dụ như cơm)

- Theo bảng nhu cầu khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng về năng lượng hàng ngày cho phụ nữ cần được bổ sung nhu sau:

+ Phụ nữ có thai 3 tháng cuối: thêm 350 Kcal, tuơng đương ăn thêm 1 bát cơm đầy mỗi ngày

+ Bà mẹ nuôi con bú 6 tháng đầu: thêm 550 Kcal, tương đương ăn thêm 2 bát cơm đầy mỗi ngày

- Năng lượng khẩu phầu, mức tăng cân của mẹ có mối liên quan chặt chẽ đến cân nặng trẻ sơ sinh

- Nuôi bào thai phát triển từ một tế bào thành một cơ thể hoàn chỉnh, khi ra đời đứa trẻ mới khoẻ mạnh, thông minh Tạo đủ sữa cho trẻ bú sau đẻ, trẻ chóng lớn và ít ốm đau Vì thế, người phụ nữ có thai cần phải ăn nhiều hơn lúc bình thường và biết chọn các thức ăn để có đủ chất dinh dưỡng

1 Chất đạm

Chất đạm là vật liệu căn bản tạo ra các mô bào của thai nhi cũng như là nguồn dự trữ mà người

mẹ cần khi sinh con Khi có thai, nhu cầu đạm của mẹ cần tăng thêm khoảng 30 gr mỗi ngày, nhất là ba tháng cuối của thai kỳ vì đây là lúc mà thai nhi tăng trưởng mạnh Ngoài cung cấp cho thai nhi, cơ thể mẹ cũng cần đạm để cung cấp cho những thay đổi đáng kể khi mang thai(tử cung, tuyến vú và các tế bào khác đều lớn hơn để hỗ trợ thai nhi và cho con bú)

2 Carbohydrat (tinh bột)

Carbohydrat là nguồn năng lượng chính cho mẹ và con Mẹ nên sử dụng carbohydrat từ nhiều nguồn (như gạo còn cám, bánh mì, ngũ cốc khô, nui, tăng cường vitamin, rau, trái cây, khoai ) với lượng khoảng 400 - 500 g ngũ cốc/ngày

3 Chất béo

Chất béo cần thiết cho xây dựng màng tế bào và hệ thống thần kinh của thai nhi đồng thời cung cấp năng lượng và giúp hấp thu các vitamin tan trong dầu cho mẹ Phụ nữ có thai cần lipid ở mức cao hơn bình thường Chất béo nên chiếm 20% tổng năng lượng (khoảng 40g)

4 Các chất khoáng

Trang 7

+ Sắt: tình trạng thiếu sắt dẫn đến thiếu máu ở người mẹ ảnh hưởng đến mức tăng cân của mẹ trong thời gian mang thai cũng như cân nặng của trẻ sơ sinh làm tăng nguy cơ bị biến chứng sản khoa Người mẹ mang thai nên bổ sung 60mg sắt nguyên tố/ngày trong suốt thời gian mang thai đến sau đẻ 1 tháng

Theo bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt nam, nhu cầu sắt của người phụ nữ

là 24 mg/ngày

+ Canxi: canxi tích trữ trong thời gian mang thai tổng số gần 30g tất cả, gần như tương ứng với

việc tạo bộ xương thai nhi 3 tháng cuối của thai kỳ Lượng canxi ăn vào được khuyến cáo là 800- 1000mg mỗi ngày trong suốt thời gian bà mẹ mang thai và cho con bú

Canxi có nhiều trong tôm, cua, cá, sữa và chế phẩm của sữa Để tăng thêm canxi trong khẩu phần, người mẹ mang thai cần uống thêm sữa giàu canxi và các sản phẩm chế biến từ sữa như sữa chua, phomat, hoặc uống bổ sung viên canxi kèm theo vitamin D

+ Kẽm: thiếu kẽm gây nên vô sinh, sẩy thai, sinh non hoặc sinh già tháng, thai chết gần ngày

sinh và sinh không bình thường Nhu cầu kẽm của người mẹ mang thai là 15mg/ngày

Nguồn cung cấp kẽm tốt nhất là thịt, cá, hải sản Các thức ăn thực vật cũng có kẽm nhưng hàm lượng thấp và hấp thu kém

+ Iốt: thiếu iốt ở phụ nữ thời kỳ mang thai có thể gây sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non.

Khi thiếu iốt nặng, trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn Trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm, mắt lác Nhu cầu iốt của phụ nữ mang thai là 175- 200mcg iốt/ngày

Nguồn thức ăn giàu iốt là những thức ăn từ biển như cá biển, sò, rong biển Ngoài ra, phụ nữ mang thai nên sử dụng muối, bột canh có tăng cường iốt 5 Bổ sung các vitamin

5 Các vitamin

+ Axit Folic: Thiếu axit folic ở người mẹ có thể dẫn đến thiếu cân ở trẻ sơ sinh Axit folic có

vai trò bảo vệ chống lại những khiếm khuyết của ống thần kinh trong sự thụ thai Vì thế nhu cầu axit folic ở người mẹ có thai là 300- 400mcg/ngày Nguồn cung cấp axit folic là rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, các thực phẩm có bổ sung axit folic hoặc viên đa vi chất có axit folic

+ Vitamin A: có vai trò đặc biệt trong hoạt động thị giác, tăng cường miễn dịch trong cơ thể.

Thiếu vitamin A sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù loà vĩnh viễn nếu không được điều trị Đối với người phụ nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt, không cần bổ sung vitamin A trong suốt thời gian mang thai nếu đảm bảo đủ nhu cầu vitamin A 600mcg/ngày bằng cách thức ăn tự nhiên

Sữa, gan, trứng là nguồn vitamin A động vật, dễ dàng được hấp thu và dự trữ trong cơ thể Tất cả các loại rau xanh, nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, xoài, bí đỏ là những thức ăn nhiều caroten, còn gọi là tiền vitamin A, vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A

Trang 8

+ Vitamin D: giúp cho sự hấp thu các khoáng chất như canxi, phospho Nếu cơ thể thiếu

vitamin D, lượng canxi chỉ được hấp thu khoảng 20%, dễ gây các hậu quả như trẻ bị còi xương ngay trong bụng mẹ hay trẻ đẻ ra bình thường nhưng thóp sẽ lâu liền Những phụ nữ có thai nên có thời gian hoạt động ngoài trời càng nhiều càng tốt Nên được bổ sung vitamin D 10mcg/ ngày

Sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D như phomat, cá, trứng, sữa, hoặc các thực phẩm có tăng cường vitamin D

Ở phụ nữ có thai là 10μg/ngàyg/ngày (400IU/ngày), nhu cầu này gấp đôi so với lúc phụ

nữ không có thai

+ Vitamin B1: là yếu tố cần thiết để chuyển hoá gluxit Các loại hạt cần dự trữ vitamin B1 cho

quá trình nảy mầm do đó ngũ cốc và các hạt họ đậu là những nguồn vitamin B1 tốt

Ăn gạo không giã trắng quá, không bị mục, mốc, nhất là ăn nhiều đậu đỗ là cách tốt nhất bổ sung đủ vitamin B1 cho nhu cầu cơ thể và chống được bệnh tê phù

Trong thời gian mang thai và cho bú, nhu cầu tăng lên 1.5 mg/ ngày

+ Vitamin B2: tham gia quá trình tạo máu nên nếu thiếu vitamin B2 sẽ gây thiếu máu nhược

sắc

Nhu cầu vitamin B2 là 1,5mg/ngày

Vitamin B2 có nhiều trong thức ăn động vật, sữa, các loại rau, đậu Các hạt ngũ cốc toàn phần

là nguồn B2 tốt nhưng bị giảm đi nhiều qua quá trình xay xát

+ Vitamin C: có vai trò lớn trong việc làm tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt từ

bữa ăn, góp phần phòng chống thiếu máu do thiếu sắt Vitamin C có nhiều trong các quả chín Rau xanh có nhiều vitamin C nhưng bị hao hụt nhiều trong quá trình nấu nướng Đối với phụ

nữ có thai, nhu cầu vitamin C là 80mg/ ngày và đối với bà mẹ cho con bú là 100mg

+ Chất Omega 3: có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hệ thần kinh trung ương, sự

phát triển của não và mắt của bé trước và sau khi sinh

+ Folat: là B tổng hợp hòa tan trong nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp AND và

nhân tế bào Có trong các loại hạt, đậu khô và rau có lá Thiếu folat trong khi mang thai có liên quan tới những dị tật ống thần kinh ở thai nhi

Những phụ nữ không mang thai cần 0.2 mg/ngày, còn phụ nữ có thai cần 0.4 mg/ngày, và giảm xuống còn 0.2 mg/ngày trong giai đoạn cho con bú

Trang 9

V NGUỒN CUNG CẤP CÁC CHẤT DINH DƯỠNG

+ Các thực phẩm có nhiều chất sắt bao gồm: thịt nạc đỏ (ví dụ thịt bò, thịt cừu); thịt vịt (đã

bỏ da); cá; các loại rau xanh như xúp lơ xanh, bắp cải và rau dền, rau muống; các loại đậu nấu chín như đậu xanh, đậu Hà Lan Ăn những thực phẩm giàu vitamin C cũng sẽ giúp bạn hấp thụ chất sắt

Hình 4 Khẩu phẩn chất Sắt hợp lý

Hình 5 Khẩu phần ăn Protein hợp lý

+ Thực phẩm chứa Axit folic : bánh mì, ngũ cốc, và mì ống, các loại rau xanh, dâu tây, cam,

bông cải xanh, các loại hạt, và đậu, gan, trứng, …

+ Những thực phẩm giàu Omega 3: bao gồm những loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá trình, cá

trích, cá trống và cá mòi Omega 3 còn có trong thịt gà, trứng, cá ngừ đóng hộp và dầu hạt lanh

Trang 10

- Vitamin A: Có trong trứng, sữa, tôm, cá, gan các loài động vật Các loại rau quả có màu đậm

(như rau ngót, rau muống, rau dền, rau đay, rau khoai loang, cần ta, gấc, cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài, củ khoai lang nghệ ) có nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A

- Vitamin B1: Có nhiều trong ngũ cốc và các loại đậu (hạt) như gạo, bột mì, bột đậu xanh

- Vitamin B2: Hạt ngũ cốc toàn phần, thức ăn có nguồn gốc động vật.

- Vitamin B6: có nhiều trong gan bê, ruốc thịt, thịt gà, ngô

- Vitamin B9 (hay còn gọi là axit folic) có nhiều trong măng tây, rau xanh, gan, thịt gà, trứng.

Hình 6 Khẩu phần ăn Floate và acid floic hợp lý

- Vitamin PP: Lạc, vừng, đậu các loại, rau ngót, giá đậu xanh, cải xanh, rau dền đỏ, rau bí, thịt,

cá, tôm, cua, ếch

- Vitamin B12: Pho mát làm từ thịt dê và thịt cừu, cá, quả hạnh nhân, cải xoong, dưa bắp cải,

sữa tươi, sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành, nước khoáng

- Vitamin C: Rau xanh (rau muống, rau ngót, bắp cải, cải xoong), quả chín (cam, chanh, bưởi,

xoài, ổi ), khoai tây, khoai lang, củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi,

Trang 11

Hình 7 Khẩu phần ăn Vitamin C hợp lý

- Vitamin D: Dầu gan cá, cá, gan, lòng đỏ trứng, thịt lợn, chất béo của sữa.

- Vitamin E: Các loại dầu (dầu hướng dương, dầu lạc, dầu cọ ), rau dền, giá đậu, quả mơ, quả

đào, gạo, ngô, lúa mì

VI NHU CẦU DINH DƯỠNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN MANG THAI

Thường chia làm 3 giai đoạn dinh dưỡng :

Ở thời kỳ đầu mang thai (giai đoạn 3 tháng đầu): thai nhi phát triển tương đối chậm,

do vậy nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng chỉ cần đáp ứng giống như trước khi mang thai, nghĩa là đủ dinh dưỡng hợp lý cung cấp cho người mẹ cả về đạm, đường, mỡ và các yếu tố vi lượng như khoáng chất và các vitamin

1 Tháng thứ nhất

Trong tháng đầu tiên mang thai, bà bầu thường có cảm giác mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, vì thế bạn cần chú ý bổ sung chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều loại thức ăn có chứa protein, sắt như thịt bò, thịt lợn, cá,

2 Tháng thứ hai

Cơ thể thai phụ có nhiều thay đổi như: dừng vòng kinh, đau đầu, chóng mặt, hoặc kèm theo nôn nhiều, núm vú và những vùng xung quanh hơi có cảm giác đau Bạn có thể bổ sung các dưỡng chất bằng cách ăn nhiều hoa quả Thai phụ nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: bánh

mỳ, cháo, nước hoa quả, mật ong…

3 Tháng thứ ba

Trang 12

Tháng thứ ba thích hợp với việc ăn canh gà trống và ăn nhiều các loại thịt, cá, trứng và các loại đậu

Ở thời kỳ giữa mang thai (được 4-6 tháng): Giai đoạn này thai nhi phát triển mạnh, do

đó đòi hỏi nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng tăng lên rất cao Nếu như không đáp ứng lượng dinh dưỡng cần thiết sẽ xuất hiện nhiều hiện tượng khó chịu như thiếu máu, chuột rút Trong thời kỳ này, người mẹ cần ăn nhiều các thức ăn giàu dinh dưỡng như trứng, thịt nạc, cá, đậu, sữa, rau xanh và trái cây để tăng cường đạm, đường, các khoáng chất đặc biệt là canxi, sắt, kẽm, iốt, axit folic, sêlen., các vitamin đặc biệt là nhóm B, vitamin C, A, D, E ăn ít mỡ, nhưng lại cần ăn cá nhiều để dễ hấp thu canxi và axit béo omega-3

4 Tháng thứ tư

Thai phụ nên ăn làm nhiều bữa Không nên ăn những loại thức ăn chứa các chất kích thích như: rượu, bia và không hút thuốc lá Nên ăn những loại thức ăn có chứa nhiều vitamin

5 Tháng thứ năm

Thai ở tháng thứ 5, não bắt đầu phát triển nhanh, vì thế nếu thai phụ ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho sự phát triển não của thai nhi Ví dụ: ăn nhiều thịt sẽ khiến cơ thể có nhiều axít, làm cho não của thai nhi không linh hoạt; ăn quá nhiều đường trắng không có lợi cho việc phát triển tế bào ở đại não; nên lựa chọn những loại thức ăn thô như: bột mỳ, bột gạo

6 Tháng thứ sáu

Ở tháng thứ 6, thai nhi sinh trưởng rất nhanh, vì thế trong chế độ ăn uống nên có nhiều lòng trắng trứng gà, bổ sung các chất khoáng cũng như vitamin

Phụ nữ mang thai 5 - 6 tháng cũng rất dễ phát sinh bệnh thiếu máu, vì lượng máu và sắt cần cho thai nhi sẽ tăng lên gấp đôi Ngoài ra, cơ thể người mẹ lại thêm dịch vị nên cũng ảnh hưởng đến việc hấp thụ lượng sắt trong cơ thể Thiếu sắt đối với phụ nữ mang thai hay thai nhi đều rất nguy hiểm, làm cho thai nhi sinh trưởng chậm…Vì vậy, người mẹ mang thai cần hấp thụ một lượng sắt cần thiết

Thời kỳ cuối mang thai (được 7-9 tháng): thai nhi phát triển nhanh hơn, song lượng

dinh dưỡng cần được tích trữ trong thai nhi cũng cao nhất ở giai đoạn này Vì vậy nhu cầu về chất dinh dưỡng trong từng bữa cơm cũng rất cao, nên người mẹ phải ăn đa dạng thức ăn giàu dinh dưỡng để bảo đảm nhu cầu phát triển nhanh chóng của thai nhi

7 Tháng thứ bảy

Tăng cường ăn đồ ăn nóng Nhưng liều lượng nên vừa đủ, tránh cho thai phị bị béo phì, thai nhi quá to

Ăn nhiều chất có chứa hàm lượng sắt nhiều

Tăng cường các loại vitamin như A, B, B1, B2, C, E, D…

Đảm bảo cung cấp đủ lượng mỡ

Ngày đăng: 19/11/2017, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w