Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra. Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua 3 yếu tố: Lỗi, động cơ và mục đích. Trong đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc, các dấu hiệu khác chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong một số trường hợp nhất định.
Trang 1LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
PHẦN CHUNG
Trang 2Khái niệm tội phạm: Tội phạm được quy định tại
Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 như sau:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”
Trang 3Các yếu tố cấu thành tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm
Khách thể tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm
Chủ thể của tội phạm
Trang 4MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM
Trang 5I Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm :
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành
vi đó gây ra
Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua 3 yếu tố: Lỗi, động cơ và mục đích Trong đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc, các dấu hiệu khác chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong một số trường hợp nhất định
Trang 6II Những dấu hiệu trong mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi
Động cơ
Mục đích
Trang 8* Một người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nếu đó là kết quả của sự tự lựa chọn và tự quyết định thực hiện hành vi trong khi họ
có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn
và quyết định một cách xử sự khác phù hợp hơn với các yêu cầu và chuẩn mực xã hội.
- Lỗi được xác định khi:
+ Người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi
+ Đạt độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự.
Trang 9L ỗ i
C ố V ô
Trang 11Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận
thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn hậu quả xảy ra;
+Về lý trí: Người thực hiện hành vi nhận
thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể hoặc tất yếu sẽ xảy ra.
+Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu
quả xảy ra.
Trang 12Hình thức lỗi cố ý trực tiếp có ba đặc điểm:
Một là người phạm tội thấy trước hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội.
Hai là người phạm tội thấy trước hậu quả tác hại của hành vi đó.
Ba là người phạm tội mong muốn gây ra hậu quả tác hại
Trang 13 Ví dụ:
Điều 93 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 quy định về tội giết người
Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, ở đây là tước đi tính mạng của người khác mà không được pháp luật cho phép.
Người phạm tội thấy trước hậu quả của hành vi giết người là sẽ có một hoặc nhiều người bị chết
Người thực hiện hành vi giết người mong muốn hậu quả sẽ xảy ra, ở đây hậu quả là sẽ có người bị giết bởi người thực hiện hành vi giết người trái pháp luật
Trang 14Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
+ Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi
của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
+Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn cho
hậu quả xảy ra, nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra do chính hành vi của mình.
Trang 15- Hình thức lỗi cố ý gián tiếp có 3 đặc điểm,
+ Một là: người phạm tội thấy trước hành
vi của mình nguy hiểm cho xã hội.
+ Hai là: người phạm tội thấy trước hậu quả tác hại của hành vi đó.
+ Ba là: người phạm tội để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Trang 16Ví dụ: Một hôm có hai người bạn thân A và B ngồi uống rượu với nhau, trong lúc nói chuyện thì giữa A và B xảy
ra mâu thuẫn, lợi dụng lúc A không để ý thì B chồm tới dùng tay tát vào mặt A một cái làm cho A ngã đập đầu xuống nền nhà và B bỏ đi về nhà mình ngủ, sau đó A đã
Trang 17Căn cứ vào sự tương quan giữa lý trí và ý chí của người phạm tội:
Trang 18Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành
vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn
ngừa được;
+Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ thấy hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.
+Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy
ra, “nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể
ngăn ngừa được” Người phạm tội thấy trước được hành vi
của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội nhưng tin rằng với khả năng, kinh nghiệm, với các biện pháp mình áp dụng, cách thức, phương tiện thực hiện, các điều kiện chủ quan, khách quan khác mà hậu quả tác hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được…nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội
đã xảy ra.
Trang 19 Ví dụ: Một nhà thiết kế công trình xây dựng, vì quá tin tường vào khả năng thiết kế của bản thân nên đã tự ý xây dựng một công trình mà không cần thẩm định lại bản vẽ thiết kế, hậu quả là công trình đó đã bị sup gây ra thiệt hại rất lớn về tài sản.
Ở đây nhà thiết kế có thể nhận thấy được hành vi thi công công trình mà chưa qua thẩm định bản vễ thiết kế
có thể gây ra thiệt hại về tài sản
Nhà thiết kế không mong muốn công trình thi công bị sụp , và nghĩ rằng với kinh nghiệm và khả năng thiết kế của mình thì công trình đó không thể nào bị sụp đổ được
Hậu quả là công trình thi công đã bị sụp, nhà thiết kế phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Trang 20Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy
trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể
thấy trước hậu quả đó
+ Về lý trí:người phạm tội không thấy trước hành vi
của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù người đó có trách nhiệm phải thấy trước hậu quả hoặc có thể thấy trước hậu quả xảy ra
+Về ý chí: Vì không thấy trước được hậu quả xảy ra
nên người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy
ra Nhưng họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước (theo luật định)
Trang 21Hình thức lỗi vô ý do cẩu thả có hai đặc điểm:
+ Một là người phạm tội không nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội;
+ Hai là người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng lẽ phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.
Trang 22Ví dụ: Một thanh niên A vào đổ xăng tại một
cây xăng, khi đổ xăng A có quăng tàn thuốc ở
đây mà không biết là tàn thuốc còn cháy cũng có thể gây ra hỏa hoạn, sau khi A rời đi thì tàn
thuốc đã bén vào hơi xăng và gây ra một vụ hỏa hoạn
+ A không thấy được hành vi vứt tàn thuốc ở
cây xăng của mình có thể gây ra hỏa hoạn nhung bắt buộc A phải biết điều đó
+ Cây xăng xảy ra hỏa hoạn là nằm ngoài ý
muốn của A
A phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 23Ngoài ra trong khoa học luật hình sự
và thực tiễn còn thừa nhận trường hợp hỗn hợp lỗi
Hỗn hợp lỗi là trường hợp mà trong đó thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi là cố ý nhưng đối với hậu quả thực tế xảy ra thì lỗi của người đó lại là vô ý ( hậu quả thực tế nằm ngoài
ý muốn chủ quan của người phạm tội)
Trang 242 Động cơ phạm tội:
- Động cơ phạm tội là động lực (nhân tố) bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội.
- Cơ sở hình thành động cơ phạm tội là những nhu cầu
về vật chất, tinh thần, các lợi ích cá nhân mà chủ thể
có những định hướng sai lệch hoặc là những tư tưởng sai lệch của chủ thể, nó cũng có thể là những nhu cầu cơ bản, bình thường nhưng chủ thể đã lựa chọn cách thức để thỏa mãn những nhu cầu đó trái với các lợi ích và chuẩn mực của xã hội.
Trang 25* Động cơ phạm tội chỉ có ở những tội phạm thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
- Đối với những tội phạm do lỗi vô ý, người tội phạm không mong muốn thực hiện tội phạm, không mong muốn gây ra thiệt hại cho xã hội nên không có động
cơ phạm tội.
Những tội phạm thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý
có thể có động cơ hành động chứ không có động cơ phạm tội.
Động cơ phạm tội còn là tình tiết định khung ( định khung tăng nặng hoặc định khung giảm nhẹ) hoặc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, lượng hình
Trang 26+ Mục đích phạm tội là yêu cầu, kết quả cuối cùng mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện tội phạm (hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm).
Trang 27+ Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp bao giờ cũng có mục đích phạm tội.
+ Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội có thể theo đuổi những mục đích nhất định nhưng chưa chắc đó đã là mục đích phạm tội
Trong Luật hình sự, mục đích phạm tội không được thể hiện trong cấu thành tội phạm ở tất cả các tội phạm Tuy nhiên, ở một số tội phạm, dấu hiệu mục đích là bắt buộc trong cấu thành tội phạm
Trang 284 Sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đối với trách nhiệm hình sự
Sai lầm là quan niệm không đúng của người phạm tội về tính chất pháp lý, hậu quả pháp lý cũng như trong việc đánh giá các tình tiết thực tế của hành vi và đối tượng mà hành vi đó tác động đến.
Trang 29Sai lầm về pháp luật: là nhận thức không đúng của người phạm tội về tính chất pháp lý của hành vi
Sai lầm về sự việc: là nhận thức không đúng của một người về những tình tiết thực tế của hành vi cũng như đối tượng mà hành vi đó tác động lên
Ngoài ra, khoa học luật hình sự còn ghi nhận các sai lầm khác như: sai lầm về thời gian, địa điểm; sai lầm về qua hệ nhân quả…
Để giải quyết đúng đắn về vấn đề trách nhiệm hình sự của tội phạm đối với những trường hợp sai lầm cần phải xuất phát từ các tình huống của thực
tế và phải phù hợp với lỗi của chủ thể
Trang 30III Ý nghĩa khi nghiên cứu
mặt chủ quan của tội phạm:
-Thứ nhất, với tư cách là 1 bộ phận cấu thành của cơ sở trách nhiệm pháp lý nó phân biệt hành vi phạm tội với hành vi không phải tội phạm
-Thứ hai, mặt chủ quan của tội phạm là cơ sở phân biệt