1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

TÌM HIỂU NGHIỆP VỤ MUA BÁN NỢ TRONG XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

28 993 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ11. CƠ SỞ PHÁP LÝ:11.1Khái niệm về hoạt động mua bán nợ11.2Bản chất hoạt động mua bán nợ21.3Các chủ thể tham gia:31.4Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ31.5Nghiệp vụ mua, bán nợ4PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM61. HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI71.1 Mua, bán nợ và các ngân hàng71.2 Mua, bán nợ và xuất khẩu82.THỰC TRẠNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY102.1Sự cấp thiết về việc phát triển thị trường mua bán nợ102.2Thực trạng mua bán nợ tại các NHTM Việt Nam hiện nay112.2.1 Thực trạng tình hình nợ xấu của Việt Nam giai đoạn 20112015.112.2.1.1 Giai đoạn 2011 2013.122.2.1.2Giai đoạn 20142015122.2.1.3 Giai đoạn 2015 – Quý 1, 2017132.2.2 Hoạt động của các công ty mua bán nợ tại Việt Nam172.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu192.3.1 Nguyên nhân khách quan phát sinh nợ xấu192.3.1.1 Môi trường thiên nhiên192.3.1.2 Môi trường kinh tế202.3.1.3 Môi trường pháp lý202.3.1.4 Tín dụng chỉ định của chính phủ212.3.1.5 Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng212.3.1.6 Đạo đức khách hàng212.3.2 Nguyên nhân chủ quan phát sinh nợ xấu222.3.1 Chính sách tín dụng222.3.2 Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát222.3.3 Chất lượng cán bộ ngân hàng222.4 Giải pháp hiêụ quả xử lý nợ xấu23 

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG – PHÂN VIỆN PHÚ YÊN

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Đặng Vũ Khánh Vân

Bộ môn: Quản trị rủi ro tín dụng

5 Đào Thị Thùy Tâm

6 Nguyễn Viết Huy

Phú Yên, tháng 9 năm 2017

Trang 2

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ 1

1 CƠ SỞ PHÁP LÝ: 1

1.1 Khái niệm về hoạt động mua bán nợ 1

1.2 Bản chất hoạt động mua bán nợ 2

1.3 Các chủ thể tham gia: 3

1.4 Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ 3

1.5 Nghiệp vụ mua, bán nợ 4

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 6

1 HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Mua, bán nợ và các ngân hàng 7

1.2 Mua, bán nợ và xuất khẩu 8

2.THỰC TRẠNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 10

2.1 Sự cấp thiết về việc phát triển thị trường mua bán nợ 10

2.2 Thực trạng mua bán nợ tại các NHTM Việt Nam hiện nay 11

2.2.1 Thực trạng tình hình nợ xấu của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 11

2.2.1.1 Giai đoạn 2011- 2013 12

2.2.1.2 Giai đoạn 2014-2015 12

2.2.1.3 Giai đoạn 2015 – Quý 1, 2017 13

2.2.2 Hoạt động của các công ty mua bán nợ tại Việt Nam 17

2.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu 19

2.3.1 Nguyên nhân khách quan phát sinh nợ xấu 19

2.3.1.1 Môi trường thiên nhiên 19

2.3.1.2 Môi trường kinh tế 20

2.3.1.3 Môi trường pháp lý 20

2.3.1.4 Tín dụng chỉ định của chính phủ 21

2.3.1.5 Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng 21

2.3.1.6 Đạo đức khách hàng 21

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan phát sinh nợ xấu 22

2.3.1 Chính sách tín dụng 22

2.3.2 Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát 22

2.3.3 Chất lượng cán bộ ngân hàng 22

2.4 Giải pháp hiêụ quả xử lý nợ xấu 23

Trang 3

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ

1 CƠ SỞ PHÁP LÝ:

1.1 Khái niệm về hoạt động mua bán nợ

Có thể hiểu hoạt động mua bán nợ là việc chuyển nợ của người mua hàng (con nợ) từ người bán hay người cung ứng dịch vụ (chủ nợ cũ) sang công ty mua nợ (chủ nợ mới).

Công ty mua nợ đảm bảo việc thu hồi nợ, tránh các rủi ro về việc không trả được nợ hoặckhông có khả năng trả nợ của người mua Công ty mua nợ có thể trả trước thời hạn toàn

bộ hoặc một phần các khoản nợ của người mua cùng với một khoản hoa hồng tài trợ vàphí thu nợ Mọi rủi ro không thu được đều do người tài trợ chịu Từ đó hình thành mộtquan hệ tài chính liên quan tới ba bên gồm công ty mua nợ (ngân hàng, tổ chức tàichính), người bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ và người mua hàng hóa hay nhận dịch

vụ Ngoài ra, nghiệp vụ mua bán nợ có thể “biến hóa” thành một số dịch vụ phụ nhưquản lý tài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tíndụng và thương mại nhằm tăng thu và giữ tốt mối quan hệ bạn hàng lâu dài

Việc mua bán như vậy dựa trên quyền thu nợ của chủ nợ, chứ không phải nghĩa vụ trả nợcủa con nợ Bên bán trong giao dịch này được lợi là hóa giải được bài toán tài chínhdoanh nghiệp dù phải chịu một khoản “lỗ” nào đó (có khi chỉ là kỹ thuật)

Thuật ngữ tiếng Anh gọi hoạt động này là “factoring” Factoring (tạm hiểu là giaodịch ủy quyền) tuy có vẻ không liên quan đến tài chính, nhưng từ lâu, đây là thuật ngữđược đặt cách dùng trong lĩnh vực giao dịch các khoản sẽ thu và cho vay tại thị trường

Âu - Mỹ Hoạt động này đôi khi có các biến thể và nghiệp vụ trung gian phức tạp, tuynhiên, dù là thế nào chúng ta cũng nên hiểu đúng đó là mua bán khoản sẽ thu hay giaodịch quyền thu nợ Đồng thời, cũng là để xóa đi cách hiểu sai, nghĩ lệch gần đây ở ta rằng

“việc mua bán nợ sẽ giúp giải quyết gánh nặng nợ nần cho doanh nghiệp”

Theo Edward W Reed và Edward K Gill, mua bán nợ là việc mua lại các khoản nợ.Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên cơ sở không truy đòi và tiếnhành một số các dịch vụ khác ngoài việc ứng trước các khoản nợ Công ty mua bán nợđánh giá mức tín dụng trong hiện tại và tương lai của khách hàng (người bán) và xác lậpcác hạn mức tín dụng ứng trước Các khách hàng được yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty

1

Trang 4

mua bán nợ bản sao hóa đơn Khoản ứng trước thường chiếm khoảng 80% - 90% giá trịhóa đơn Khoản dự trữ 10% - 20% được công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa việc hàngtrả lại, hàng giao thiếu, hoặc yêu cầu khác của người mua Thường vào cuối năm, công tymua nợ tính toán mức phí thu được trên số dư các khoản nợ chưa thu và cấp thêm vốncho khách hàng.

Hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay của các TCTD được quy định tại Quychế mua, bán nợ của các TCTD kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐNHNN của Thốngđốc Ngân Hàng Nhà Nước ban hành ngày 17/07/2015

Quy chế này ban hành quy định rõ hoạt động mua bán nợ của các TCTD (kể cả cácTCTD có nhiệm vụ thực hiện mua, bán nợ trực thuộc TCTD) được thành lập và hoạtđộng theo Luật các TCTD, đối với các khoản nợ mà TCTD cho khách hàng vay

Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với

khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo

đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ.

Khoản nợ được mua, bán là khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay và khoản trả

thay trong nghiệp vụ bảo lãnh theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đang được theo dõi hạch toán nội bảng, ngoại bảng tại bảng cân đối kế toán

1.2 Bản chất hoạt động mua bán nợ

Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng, cụ thể khi đếnhạn khách hàng không thanh toán khoản nợ cho ngân hàng Lúc này, ngân hàng sẽchuyển giao khoản nợ trên cho công ty mua bán nợ Trước đây, mọi người quan điểmrằng công ty mua bán nợ hoạt động như một tổ chức chuyên đòi nợ thuê, khi nhận đượckhoản nợ từ ngân hàng sẽ tổ chức xử lý đòi nợ thay cho ngân hàng Nhưng thực chất,ngân hàng thay vì thực hiện quyền đòi nợ đã bán quyền sở hữu khoản nợ, bao gồmquyền đòi nợ và các quyền liên quan của mình cho công ty mua bán nợ Như vậy, bảnchất của hoạt động mua bán nợ chính là mua quyền đòi nợ từ ngân hàng, sau đó xử lýbằng các nghiệp vụ chuyên môn, và tiến hành kinh doanh thu lợi nhuận trên khoản nợ

2

Trang 5

1.3 Các chủ thể tham gia:

Bên bán nợ là các Tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín

dụng, tổ chức có nhiệm vụ thực hiện việc mua, bán nợ trực thuộc tổ chức tín dụng, tổchứ c tín dụng nước ngoài sở hữ u khoản nợ và bên mua nợ là các tổ chức và cá nhântrong nước và nước ngoài có nhu cầu mua khoản nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sởhữu mới của khoản nợ

Bên mua nợ là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài có nhu cầu mua khoản

nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ

Bên môi giới là các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng làm chức năng trung gian, dàn xếp

việc mua, bán nợ giữa các bên mua, bán nợ và được hưởng phí dịch vụ môi giới theothỏa thuận

Bên nợ là các tổ chức, cá nhân vay nợ tổ chức tín dụng.

1.4 Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ

a Phạm vi mua, bán nợ

Các khoản nợ được mua, bán bao gồm:

 Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay (kể cả khoản nợ cho vay đối vớicác tổ chức tín dụng khác) đang hạch toán nội bảng

 Các khoản nợ đã được tổ chức tín dụng xử lý bằng dự phòng rủi ro hoặc bằng nguồnkhác hiện đang được hạch toán theo dõi ngoại bảng

Một khoản nợ có thể được mua, bán một phần hay toàn bộ do các bên mua, bán nợ thỏathuận

Các bên không thực hiện mua, bán đối với các khoản nợ đã có thỏa thuận không đượcmua, bán

b Nguyên tắc mua bán các khoản nợ:

 Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luậtViệt Nam và thông lệ quốc tế Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã

3

Trang 6

hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định tại Quy chếnày thì áp dụng các điều ước quốc tế đó Việc mua, bán nợ được thực hiện trên cơ sở thỏathuận giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên tham gia mua, bán nợ.

 Việc chuyển giao khoản nợ được mua, bán được tiến hành đồng thời với việc chuyểngiao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả các quyền gắnliền với các bảo đảm cho khoản nợ) từ bên bán nợ sang bên mua nợ

 Việc mua, bán nợ có liên quan tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài và thanh toán bằngngoại tệ, các bên mua, bán nợ phải chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành vềquản lý ngoại hối và các quy định liên quan khác của pháp luật Việt Nam

 Một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và cóthể được mua, bán nhiều lần

c Phương thức các bên tham gia mua, bán nợ

 Phương thức mua, bán nợ thông qua đấu giá các khoản nợ thực hiện theo quy định củapháp luật về bán đấu giá tài sản

 Phương thức mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợhoặc thông qua môi giới

Giá mua, bán nợ được xác định như sau:

 Do các bên thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên môi giới Riêng đối với các khoản nợthuộc Nhóm 1 theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, tríchlập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổchức tín dụng, thì giá mua, bán nợ không được thấp hơn giá trị khoản nợ được mua, bán

 Là giá mua cao nhất trong trường hợp khoản nợ được bán theo phương thức đấu giá

1.5 Nghiệp vụ mua, bán nợ

Mục tiêu của hoạt động mua bán nợ là tối thiểu hóa tổn thất rủi ro do các khoản

nợ quá hạn mang lại, kinh doanh thu lợi nhuận và đồng thời thực hiện các mục tiêu xãhội Vì vậy mà các nghiệp vụ của nó mang tính chuyên nghiệp hơn so với bộ phận xử

lý rủi ro tài chính các ngân hàng Các nghiệp vụ mua bán nợ thông qua ba giai đoạnsau:

4

Trang 7

Nghiệp vụ mua nợ:

- Hàng hóa của các công ty mua bán nợ chủ yếu là các khoản nợ có vấn đề củacác NHTM và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản và quyền sử dụngđất được sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ Tiếp nhận để xử lý các k hoản nợ và tàisản đã loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước

- Định giá khoản nợ: dựa trên sự điều tra, phân loại nợ, từ đó xác định mức giámua hợp lý bằng các hình thức: thỏa thuận trực tiếp, đấu thầu, đấu giá hoặc theo chỉđịnh của Thủ tướng Chính phủ

Nghiệp vụ xử lý:

Xử lý các khoản nợ đã mua bằng nhiều cách:

- Đối với những khoản nợ có nguy cơ phá sản, hoạt động kinh doanh quá yếu kém khôngcòn khả năngphục hồi thì đề nghị cho phá sản, thanh lý tài s ản

- Đối với những khoản nợ có khả năng phục hồi tình hình kinh doanh trong tương laiđang gặp khó khăn nhất thời thì có thể can thiệp điều hành vào hoạt động, tư vấn chodoanh nghiệp

- Đối với những khoản nợ gặp khó khăn nhất thời về tài chính như ng có tiềm năng pháttriển, công ty có thể chuyển nợ thành vốn góp, đầu tư thêm vốn vào doanh nghiệp

Xử lý tài sản đã mua, tiếp nhận: Bảo quản, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho

thuê, đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh, liên doanh khai thác tài sản

Nghiệp vụ bán nợ:

Sau khi tổ chức xử lý, khai thác, công ty mua bán nợ sẽ thu hồi vốn và lợi nhuậnbằng cách bán ra các khoản nợ và tài sản bằng các hình thức như thỏa thuận trực tiếp,đấu thầu, đấu giá hay bán qua thị trường chứng khoán

Ngoài ra, còn thực hiện các nghiệp vụ như: Tư vấn, môi giới xử lý nợ và tài sảntồn đọng Huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu mua nợ để mua một khoản

nợ nhất định có giá trị lớn, có tài sản bảo đảm

5

Trang 8

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Điều cốt lõi của nghiệp vụ mua bán nợ là tạo ra lòng tin về khả năng thanh toán nợ củanhiều công ty cho vay, nhờ vậy, các công ty này sẽ yên tâm và tập trung vào công việc kinhdoanh của mình để đẩy mạnh doanh thu và lợi nhuận Không quan tâm đến mọi diễn tiếnxung quanh (thậm chí cả trong trường hợp phá sản), với mua bán nợ, những khoản tiền mặt

“nóng” sẽ luôn sẵn sàng Ngoài ra, mua bán nợ không chỉ là sự lựa chọn cho những khoản

nợ khó đòi, việc sử dụng dịch vụ này còn có thể đẩy nhanh những khoản thanh toán từkhách hàng mua hàng trả chậm Dịch vụ của các công ty mua bán nợ không giống nhau mà

có thể có những khác biệt về điều khoản, điều kiện mua bán nơ cũng như tỷ lệ chiết khấutuỳ theo nhu cầu của khách hàng, con số nợ nần, khả năng thu hồi nợ…

Sau cuộc khủng hoảng của hàng loạt ngân hàng trên thế giới, phản ứng chính sách đầutiên của các quốc gia là cẩn trọng điều hành chính sách vĩ mô khi sử dụng các công cụ như:tăng dự trữ bắt buộc, trích lập dự phòng rủi ro, các chuẩn mực kế toán, siết chặt cho vay, hỗtrợ tổ chức tài chính mất thanh khoản…

Đặc biệt, các định chế tài chính ban hành các tiêu chuẩn quản trị rủi ro, an toàn vốn Basel III nhằm tăng cường giám sát, quản lý rủi ro mang tính hệ thống hiệu quả hơn

-Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia thành viên của Ủy ban Basel vềgiám sát ngân hàng, tức không chịu áp lực phải vận dụng các quy định an toàn của các hiệpước này, song việc vận dụng các hiệp ước Basel trong hoạt động quản trị ngân hàng là vấn

đề hết sức ý nghĩa và cần thiết đối với hệ thống ngân hàng nước ta

Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra cácnguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt độngcấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:

 Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): Hội đồng quản trịphải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xâydựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấpnhận rủi ro…) Ban tổng giám đốc có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà Hội đồng

Trang 9

quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi

và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mụcđầu tư Các ngân hàng cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm củamình

 Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Các ngân hàng phải hoạtđộng trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng Ngân hàngcần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàngvay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách

kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việcphê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho cáckhoản tín dụng hiện tại Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch côngbằng giữa các bên

 Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danhmục đầu tư có rủi ro tín dụng, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng,bao gồm mức độ đầy đủ của dự phòng và dự trữ Khuyến khích ngân hàng phát triển và sửdụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng cần có hệthống thông tin và các kỹ thuật phân tích để đo lường được rủi ro tín dụng trong mọi hoạtđộng nội và ngoại bảng; phải có hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danhmục đầu tư tín dụng; cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản

lý các khoản tín dụng có vấn đề Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõcách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề

1 HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Mua, bán nợ và các ngân hàng

Theo quy định của Basel II và III, nợ xấu của ngân hàng không được vượt quá 2% trêntổng dư nợ

Nhiều ngân hàng đã vận dụng mua bán nợ như một trong những hoạt động kinh doanhchính của mình Với dịch vụ mua bán nợ, các ngân hàng lớn trên thế giới nhận thấy có thể

mở rộng mối liên hệ với khách hàng của họ trong một số ngành công nghiệp Hơn nữa, họ

Trang 10

có thể tiến hành dịch vụ cho các ngân hàng đại lý có các khách hàng cần đến các dịch vụmua bán nợ.

Hiện nay, có không ít các ngân hàng thương mại đang duy trì hình thức cho vay chiphí sản xuất hàng hoá hoặc thu mua hàng và cho vay luân chuyển hàng hoá Cho vay nhưthế đưa đến việc doanh nghiệp sẽ ỷ lại vào vốn tín dụng của ngân hàng thương mại Dovậy, việc cho vay chi phí sản xuất và cho vay luân chuyển hàng hoá sẽ khiến ngân hàngthương mại chịu rủi ro cùng doanh nghiệp: một khi hàng hoá không tiêu thụ được, khoản nợ

sẽ rất khó thu hồi

Trong khi đó, sử dụng dịch vụ mua bán nợ, các ngân hàng thương mại cung ứng vốncho doanh nghiệp tiếp tục chu kỳ sản xuất sau, nhưng ngân hàng thương mại ấy thu nợ bằngtiền hàng hoá bán chịu của chu kỳ sản xuất trước nên mức độ rủi ro ít hơn Nhờ vậy, dịch vụmua bán nợ còn giúp doanh nghiệp không lâm vào cảnh nợ nần dây dưa, khó đòi

Bên cạnh việc các ngân hàng mở dịch vụ chiết khấu thương phiếu đối với hàng hoátiêu thụ thì dịch vụ mua bán nợ khiến việc cung ứng vốn tín dụng của ngân hàng thươngmại cho các công ty trên thị trường được đơn giản hơn và an toàn hơn Đồng thời, việc nàycòn khuyến khích doanh nghiệp sản xuất hoặc thu mua hàng hoá bằng vốn tự có của mình.Vốn tín dụng của chi nhánh ngân hàng thương mại chỉ là vốn bổ sung khi doanh nghiệp bánhàng trả chậm

1.2 Mua, bán nợ và xuất khẩu

Có một thực tế hiển nhiên là cuộc cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đang ngày càngtrở nên khắc nghiệt và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn phải tìm mọi cách để nâng caokhả năng cạnh tranh của mình Một trong những yếu tố để cạnh tranh giữa các nhà xuấtkhẩu là điều kiện thanh toán Nếu như một doanh nghiệp có thể xuất khẩu với phương thứcthanh toán ghi sổ nợ (open account), thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ ký thêm được nhiềuhợp đồng Tuy nhiên, nếu xuất khẩu với hình thức này thì rủi ro thanh toán sẽ tăng lên Vìvậy, doanh nghiệp chỉ dám chấp nhận phương thức này với những khách hàng uy tín, lâunăm của mình mà thôi Ngay cả khi được đảm bảo về rủi ro thanh toán, doanh nghiệp vẫn bịkhách hàng chiếm dụng vốn trong suốt thời gian chờ đợi Thiếu luồng tiền mặt mà lại khôngthể dễ dàng tiếp cận với vốn từ các nguồn truyền thống (như tín dụng ngân hàng), doanh

Trang 11

nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn để duy trì sản xuất Trong tình thế đó, mua bán nợ đã xuấthiện như một vị cứu tinh Mua bán nợ được đánh giá là một dịch vụ tài chính mới, chỉ vớithủ tục rất đơn giản, có thể giúp doanh nghiệp vừa xuất khẩu cho khách hàng theo điều kiệnthanh toán ghi sổ, lại vừa thu được tiền mặt ngay sau khi xuất hàng đi

Với giới kinh doanh xuất nhập khẩu thì mua bán nợ được hiểu là dịch vụ mua bán cáckhoản phải thu của khách hàng (purchase/sale of account receivables) Định nghĩa này xuấtphát từ thuật ngữ kế toán: khi xuất hàng bán cho khách hàng nhưng bên bán chưa nhận đượctiền hàng thì khoản tiền này được ghi vào tài khoản phải thu của khách hàng Mua bán nợ làdịch vụ mua các khoản tiền nằm trong tài khoản nói trên Cơ chế của mua bán nợ trong xuấtnhập khẩu rất dễ hiểu Nhà xuất khẩu ký hợp đồng dịch vụ với công ty mua bán nợ Khihàng được giao đi cho khách hàng, nhà xuất khẩu gửi hoá đơn tới công ty mua bán nợ.Công ty mua bán nợ sẽ ứng trước cho nhà xuất khẩu khoảng 80% giá trị của hoá đơn Công

ty mua bán nợ sẽ thu tiền hàng từ nhà nhập khẩu Sau khi thu được 100% tiền hàng, công tymua bán nợ sẽ thanh toán nốt 20% còn lại cho nhà xuất khẩu

Với ý nghĩa là mua bán nợ nhằm bảo hiểm rủi ro thanh toán, chúng ta có hai loại muabán nợ: mua bán nợ truy đòi và mua bán nợ miễn truy đòi Đối với mua bán nợ truy đòi,công ty mua bán nợ có quyền đòi lại khoản tiền đã ứng trước cho nhà xuất khẩu nếu nhànhập khẩu không thanh toán Với mua bán nợ miễn truy đòi, nếu nhà nhập khẩu mất khảnăng chi trả, công ty mua bán nợ có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị hoá đơn cho nhàxuất khẩu

Dịch vụ mua bán nợ trong xuất nhập khẩu đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trênthế giới Các nước trong khu vực cũng đã phát triển mua bán nợ như Trung quốc, Indonesia,Ấn độ, Nhật bản, Malaysia, Hàn quốc, Singapore, Sri Lanka, Đài loan và Thái lan Thậtkhông công bằng cho các nhà xuất khẩu Việt nam khi các đối thủ cạnh tranh của họ ở cácnước khác đang được hưỏng lợi thế từ dịch vụ này Chỉ những năm gần đây, dịch vụ muabán nợ mới bắt đầu được đưa vào phục vụ các công ty xuất nhập khẩu Việt Nam

“Thương trường như chiến trường”, để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranhkhốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp ngoài nỗ lực tự thân còn rất cần đến sự trợ giúp nhiềumặt của các ngân hàng cũng như các công ty đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền

Trang 12

tệ Điều đó đòi hỏi các công ty tài chính phải nhanh chóng nâng cao chất lượng sản phẩm,dịch vụ và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán thươngmại Nếu không, các doanh nghiệp khó tránh khỏi nguy cơ thiếu vốn sản xuất, kinh doanh

do vốn bị chiếm dụng, các nhà xuất khẩu khó tránh khỏi rủi ro trong thanh toán, kéo theogây tâm lý lo lắng, bất ổn cho doanh nghiệp nói riêng, cũng như kìm hãm tốc độ phát triểncủa nền kinh tế quốc dân nói chung Để đạt mục tiêu đó, các công ty tài chính không có conđường nào khác là phải nhanh chóng áp dụng nhiều nghiệp vụ tài chính mới mà các công ty,tập đoàn trên thế giới đã áp dụng thành công Và nghiệp vụ mua bánnợ là một trong số đó

2 THỰC TRẠNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Sự cấp thiết về việc phát triển thị trường mua bán nợ

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trongviệc phát triển kinh tế như cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng, lưu chuyển vốn từ nơithừa đến nơi thiếu… Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng vẫn chứa đựng tiềm ẩn nhiều rủi ro,gây ra nhiều nguy cơ đỗ vỡ hoàng loạt cho hệ thống, và minh chứng tiêu biểu là của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007- 2008 Một trong những nguyên nhân quan trọngcủa sự suy yếu của ngân hàng chính là tình trạng nợ xấu tồn đọng quá cao trong một thờigian dài, nhưng không được xử lý dẫn đến tình hình tài chính của ngân hàng rơi vào khókhăn, tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng và thậm chí chờ phá sản Vì vậy, vấn đề xử lý

nợ được nhiều quốc gia quan tâm đặc biệt là ở một số nước có tỷ lệ nợ quá cao và vượt mứcgiới hạn an toàn Có nhiều giải pháp để xử lý nợ xấu như xử lý tài sản đảm bảo, bán nợ, cơcấu lại nợ, chứng khoán hóa nợ Trong đó, việc hình thành các công ty quản lý nợ và khaithác tài sản như DATC, AMC, VAMC được xem là một công cụ hiệu quả, góp phần khaithông dòng chảy vốn

Hiện nay, ở nước ta việc cơ cấu lại ngân hàng đã và đang triển khai nhằm củng cố vàtăng cường sức mạnh tài chính cho hệ thống ngân hàng, công tác xử lý nợ của các NHTMđang được triển khai Sự hình thành và phát triển của các công ty quản lý nợ và khai thác tàisản cần phải chú trọng và phát huy và xây dựng mô hình phù hợp với tình hình thực tế nước

ta hiện nay Đây là vấn đề quan trọng và rất cần thiết để hình thành một thị trường mua bán

Trang 13

nợ hoạt động nhằm giúp các DN đang gặp khó khăn tài chính cũng như tiếp cận các nguồntài chính mới, khơi thông dòng chảy tạo đà phát triển kinh tế.

2.2 Thực trạng mua bán nợ tại các NHTM Việt Nam hiện nay

2.2.1 Thực trạng tình hình nợ xấu của Việt Nam giai đoạn 2011-2015.

Theo con số thống kê được công bố cho thấy: Xét trên toàn ngành NH, tỷ lệ nợ xấu giữacác năm có sự biến động trên mức 3% Đặc biệt vào năm 2012, tỷ lệ này lên đến con số4.09% Năm 2013, đánh dấu sự ra đời của VAMC, đã làm cho tỉ lệ nợ xấu có xu hướnggiảm, tuy nhiên ta vẫn thấy sự giảm vẫn là nhất thời và chưa có dấu hiệu giảm thực thụ Tuy nhiên, sự chính xác của các con số này trên thực tế còn là một vấn đề rất nan giảibởi các thủ thuật che, ủ nợ xấu hay các kĩ thuật làm đẹp báo cáo tài chính

Nguồn: Tổng hợp số liệu của NHNN qua các năm

Hơn nữa, các con số nợ xấu được thống kê thông qua tỷ trọng của các khối ngân hàngtrong nền kinh tế như sau:

Trang 14

Tại thời điểm đó, có 15 ngân hàng công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm Trong sốcác ngân hàng đã niêm yết thì tỷ lệ nợ xấu của SHB đang dẫn đầu với 9%, tiếp đến làNavibank với 6,1% và TechcomBank (5,28%) Các ngân hàng còn lại đều có nợ xấu dưới3% như ACB 2,99%; Sacombank 2,55%; Vietinbank 2,1%; Vietcombank 2,81%; Eximbank1,49% và MB 2,44%.

Theo báo cáo của các NH, nợ xấu có vẻ đã giảm khi hầu hết NH đều có tỷ lệ nợ xấudưới mức 3%- mức được xem là an toàn, nằm trong tầm kiểm soát Tuy nhiên, theo tínhtoán, các ngân hàng này chiếm khoảng 75% tổng dư nợ của toàn hệ thống Trong khi đó, kếtquả khảo sát mới đây của Vụ Dự báo thống kê tiền tệ, NHNN cho thấy, trong số 124 TCTDtham gia khảo sát, có khoảng 30 TCTD khai báo tỷ lệ nợ xấu ở mức trên 3%, chiếm khoảng

Ngày đăng: 19/11/2017, 10:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w