LỜI NÓI ĐẦUTrong nền kinh tế thị trường, tiền trở thành một phương tiện đảm bảo cho mọi hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường. Hoạt động của tiền trong nền kinh tế luôn gắn liền với các hiện tượng kinh tế như: lạm phát, chu kỳ kinh doanh, thâm hụt ngân sách ... Tiền liên quan đến các quyết định của các cá nhân và ảnh hưởng đến tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia. Liên quan đến sự vận động của tiền trong nền kinh tế là hoạt động của các tổ chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ tương trợ...) và thị trường tài chính (thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu và hối đoái). Các thị trường tài chính và các tổ chức tài chính không chỉ tác động đến đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân mà còn liên quan đến sự luân chuyển của những dòng vốn lớn trong nền kinh tế, tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và đến cả tình trạng kinh tế của một nước.Như chúng ta đã biết, nếu vốn được coi là một trong những nguồn lực quan trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó có một tính chất khan hiếm. Vậy vấn đề đặt ra làm thế nào dể sử dụng một cách triệt để và có hiệu quả nhất nguồn vốn trong nước và ngoài nước? Để đạt được điều này, trước hết cần phải có một hệ thống ngân hàng phát triển đồng bộ, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa ngân hàng Nhà nước (NHNN) hay ngân hàng Trung Ương (NHTW) với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Ở đó, vai trò đặc biệt của NHTW là không thể thay thế được.Chính vì vậy mà bài viết này có tên là: “Vai trò của Ngân hàng Trung Ương trên thị trường tiền tê và kinh nghiệm của một số nước”
Trang 1Học Viện Ngân Hàng – Phân Viện Phú Yên
Khoa Tài chính - Ngân hàng
Bài tập lớn THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Đề tài : Vai trò của Ngân hàng trung ương
trên thị trường tiền tệ và kinh nghiệm của một số nước.
Giáo viên hướng dẫn : Đặng Vũ Khánh Vân
Thành viên nhóm 6 : Phạm Trung Tuấn (NT)
Nguyễn Ngọc Đồng
Lê Phạm Lan Anh Nguyễn Huỳnh Nhân Đoàn Thị Lợi
Nguyễn Ngọc Dung
Y Thu Hoài
Phú Yên, tháng 4 năm 2017
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, tiền trở thành một phương tiện đảm bảo cho mọihoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường Hoạt động của tiền trong nền kinh tếluôn gắn liền với các hiện tượng kinh tế như: lạm phát, chu kỳ kinh doanh, thâm hụt ngânsách Tiền liên quan đến các quyết định của các cá nhân và ảnh hưởng đến tình trạngchung của nền kinh tế quốc gia Liên quan đến sự vận động của tiền trong nền kinh tế làhoạt động của các tổ chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ tươngtrợ ) và thị trường tài chính (thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu và hối đoái).Các thị trường tài chính và các tổ chức tài chính không chỉ tác động đến đời sống hàngngày của mỗi cá nhân mà còn liên quan đến sự luân chuyển của những dòng vốn lớntrong nền kinh tế, tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và đến cả tìnhtrạng kinh tế của một nước
Như chúng ta đã biết, nếu vốn được coi là một trong những nguồn lực quan trọng
và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó có một tính chất khan hiếm.Vậy vấn đề đặt ra làm thế nào dể sử dụng một cách triệt để và có hiệu quả nhất nguồnvốn trong nước và ngoài nước? Để đạt được điều này, trước hết cần phải có một hệ thốngngân hàng phát triển đồng bộ, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa ngân hàng Nhà nước(NHNN) hay ngân hàng Trung Ương (NHTW) với các ngân hàng thương mại (NHTM)trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Ở đó, vai trò đặc biệt của NHTW là không thểthay thế được
Chính vì vậy mà bài viết này có tên là: “Vai trò của Ngân hàng Trung Ương trên
thị trường tiền tê và kinh nghiệm của một số nước”
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1 Khái niệm ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương là một cơ quan thuộc bộ máy nhà nước được độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, với mục tiêu cơ bản là ổn định và an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ các biện pháp hành chính, mà còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời
Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ tài sản của mình như: chứng khoán chính phủ, cho vay chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối….Hầu hết các khoản thu nhập của Ngân hàng trung ương, sau khi trừ các chi phí hoạt động đều phải nộp vào ngân sách nhà nước
2 Chức năng của Ngân hàng trung ương
2.1 Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành
NHTW ra đời sau khi vai trò độc quyền phát hành có nghĩa là NHTW là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền theo các quy định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (mệnh giá tiền, loại tiền…) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia
2.2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng
Với chức năng này, NHTW cung cấp các dịch vụ ngân hàng trung gian, bao gồm :
Mở tài khoản nhận tiền gửi của các Ngân hàng trung gian
Là trung tâm thanh toán cho hệ thống ngân hàng trung gian
Cung cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
2.3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của chính phủ
Ngân hàng trung ương có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, Bao gồm:
- Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nước
- Tạm ứng cho ngân sách
- Làm đại lý và tư vấn cho chính phủ
3 Vai trò
Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng
Trang 4CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐẾN THỊ
TRƯỜNG TIỀN TỆ THÔNG QUA CÁC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
1 Sử dụng các phương pháp dự báo để xác định cung cầu VKD của NHTM
a/ Dự báo trên cơ sở phương pháp tiếp cận bảng cân đối tiền tệ của ngân hàng trung ương.
Cơ sở dự báo
Phương pháp tiếp cận bản cân đối tiền tệ của ngân hàng trung ương cho phép ngân hàngtrung ương sử dụng số liệu của các khoản mục trên BCĐ để dự báo trạng thái vốn khảdụng, sự thay đổi của mỗi nhân tố trên BCĐ để dự báo vốn khả dụng Sự thay đổi củamỗi nhân tố trên BCĐ sẽ ảnh hưởng đến trạng thái Vốn khả dụng của toàn hệ thống NH
Phương pháp, kỹ thuật dự báo
Phương pháp này dự báo về sự thay đổi của vốn khả dụng bắt nguồn từ thay đổi củacác yếu tố trên BCĐ của ngân hàng trung ương Về nguyên tắc hầu hết các yếu tố tiền tệđều có tính thời vụ, nên có thể dự báo các yếu tố căn cứ vào phân tích dãy số liệu lịch sửthông qua việc thiết lập mô hình dự báo, đồng thời cũng có thể dự báo trên cơ sở các hợpđồng (cho vay, thu nợ, mua bán các ngoại tệ…) kế hoạch giải ngân (thời điểm, khốilượng…)
Sự thay đổi vốn khả dụng được đo lường bằng sự thay đổi các mục bên tài sản “có” trừ
sự thay đổi về tiền mặt trong lưu thông bên tài sản nợ, cụ thể:
Vốn khả dụng =TSC ngoại tệ + Cho vay CPR + Cho vay các TCTD + Các khoản khácròng + Tiền mặt lưu thông ngoài NHTW
Từ công thức trên chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố có dâú (+) là mối quan hệ thuậnchiều và dấu ( - ) là mối quan hệ nghịch chiều
Tổng hợp kết quả dự báo:
- Nếu cầu lớn hơn cung vốn khả dụng NHTW cần bơm tiền thêm thông qua kênh táicấp vốn hoặc nghiệp vụ thị trường mở làm thay đổi khoản mục cho vay các ngân hàngròng
Trang 5- Ngược lại, nếu cầu nhỏ hơn cung, một bộ phận tiên trung ương cần được thu hút
về thông qua nghiệp vụ thị trường mở
b/ Dự báo theo cách tiếp cận từ các TCTD:
Cơ sở dự báo
Đây là phương pháp dự báo dựa vào số liệu báo cáo của các TCTD và ngân hàngtrung ương tổng hợp trạng thái Vốn khả dụng của toàn thị trường ở thời điểmquản lí Hơnhết các TCTD luôn nắm rõ trạng thái Vốn khả dụng hằng ngày và ở một số thời kì nhấtđịnh để luôn thõa mãn đầy đủ yêu cầu thanh toán và nghĩa vụ tài chính hằng ngày củabản thân TCTD Vì vậy dựa vào phương pháp này sẽ cho NHTW có kết quả dự báo sátnhất với thực trạng Vốn khả dụng của hệ thống Có thể dự báo vốn khả dụng theo nguyêntắc phân tích luông tiền của các TCTD bao gồm theo dõi, phân tích theo thời hạn còn lạicủa các khoản mục TSC và TSN của các TCTD trên cơ sở hợp đồng và dự báo các khoảnphát sinh bên TSC và TSN
Vị thế luồng tiền ròng chính là chênh lệch giữa tổng các khoản tiền vào và tổng các luồngtiền ra trong một thời kì nhất định
Vị thế luồng tiền ròng = Tổng các luồng tiền vào – tổng các luồng tiền ra
Phương pháp, kỹ thuật dự báo
Việc xác đinh vị thế luồng tiền ròng phụ thuộc vào phương pháp quản lý TSN – TSCcủa từng ngân hàng Có TCTD theo đuổi chiến lược quản lý TSN, TSC hay quản trị hỗnhợp hay vào phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn, phuơng pháp tiếp cận cấutrúc vốn và phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản Mỗi phương pháp đều được xâydựng trên một số giả định khác nhau và TCTD chỉ có thể ước lượng gần đúng được mứccần thanh khoản thực tế tại một số thời điểm nhất định
Phương pháp dự báo chủ yếu căn cứ vào việc quản lí theo dõi online tất cả các khoảnmục phát sinh bên TSC cũng như TSN trên toàn hệ thống của từng TCTD
Trên cơ sở các hợp đồng , các TCTD thực hiện việc theo dõi và cập nhập thường xuyênviệc điều chỉnh thời hạn còn lại của các khoản mục TSC và TSN để xác đinh luồng tiền
và luồng tiền ra
Trang 6Đồng thời các TCTD có thể sử dụng một số mô hình kinh tế lượng trên cơ sở các số liệulịch sử và căn cứ vào các thông tin từ các khách hàng, thị trường để dự báo các khoảnmục phát sinh bên TSC và TSN trong từng thời kì nhất định.
2.1 Dự trữ bắt buộc
Việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ trong cơchế tạo tiền của NHTM Tỷ lệ DTBB tăng lên làm giảm khả năng cho vay và đầu tư củaNHTM, từ đó làm giảm lượng tiền trong lưu thông góp phần làm giảm cầu tiền để cânbằng với sự giảm cung của xã hội Ngược lại, nếu NHTW hạ thấp tỷ lệ DTBB là tăng khảnăng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các NHTM cũng tăng lên, khối lượng tín dụng vàkhối lượng thanh toán có xu hướng tăng đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượngtiền làm tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền Việc tăng lên hay giảm xuống quỹDTBB sẽ làm giảm hoặc tăng lương tiền cung ứng cho nền kinh tế qua cơ chế tạo tiền của
hệ thống ngân hàng Vì vậy đó là một công cụ tiềm tàng của chính sách tiền tệ Ngoài raDTBB còn đảm bảo việc thanh toán thường xuyên của các NHTM
2.2 Nghiệp vụ thị trường mở
Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng: NHTW chủ động phát hành tiềntrung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại tráiphiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước hết đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ
dự trữ của NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán củacác ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ Khi NHTWthấy cần giảm lượng tiền trong lưu thông thì Ngân hàng sẽ tổ chức bán lượng giấy tờ cógiá đang nắm giữ ra thị trường Khi Ngân hàng bán các chứng khoán, NH có thể làmgiảm đi một khối lượng dự trữ tương ứng điều này sẽ làm giảm khả năng cho vay của hệthống ngân hàng và vì thế mà giảm khối lượng tiền cung ứng Ngược lại, Nếu NHTWmuốn gia tăng lượng tiền trong lưu thông thì NHTW sẽ mua vào một lượng giấy tờ có giánhất định khi đó tiền trung ương sẽ đi vào lưu thông Điều quan trọng ở đây là thời hạn
Trang 7cuả các giấy tờ có giá Việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn chủ yếu nhằm mục đíchcân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ, trong khi đó mua bán các giấy
tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng thanh toán của các NHTM
2.3 Nghiệp vụ tái cấp vốn
Là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quámột lượng hay một tỷ lệ tăng trưởng nào đó trong thời gian nhất đinh (thường là 1 năm)
để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình
Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiềncung ứng, việc quy định pháp lí hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiềuvới quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM
3 Quản lý trạng thái vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng thông qua các nghiệp
vụ thị trường của NHNN Việt Nam.
Việc dự báo VKD của hệ thống TCTD sẽ giúp NHTW nắm được trạng thái bìnhthường và bất thường của thị trường, từ đó đưa biện pháp điều chỉnh kịp thời trạng tháiVKD thông qua bơm hút tiền, điều chỉnh cơ chế giá
Với trạng thái thiếu hụt: Khi có tình trạng thiếu thanh khoản thì NHTW sẽ (hầu
như) luôn cung cấp nhu cầu Trong lịch sử, chỉ có một số ít trường hợp NHTW không thểcung cấp đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, trừ trường hợp hãn hữu là siêulạm phát hoặc bất ổn chính trị Nếu TCTD thiếu dự trữ làm cho nó không thể thanh toánvào cuối ngày, để tránh sự biến động đột biến với mức lãi suất trên TTLNH, NHTW cóthể cung cấp tín dụng thông qua việc cho vay tái cấp vốn do không thể cung cấp quaNghiệp vụ thị trường mở do đã kết thúc phiên giao dịch Tuy nhiên, thông thường thì cácTCTD có đủ số dư để đáp ứng nhu cầu thanh toán, nó chỉ thiếu với số dư DTBB hoặc yêucầu về tỉ lệ thanh khoản Khi NHTW áp dụng mức lãi suất phạt bằng hoặc cao hơn mứclãi suất cho vay tái cấp vốn thì các TCTD sẽ duy trì sự cân bằng giữa các khoản tiền gửi
và NHTƯ sẽ thuận lợi cho việc cung cấp VKD thông qua nghiệp vụ Thị trường mở
Trong bất cứ tình huống nào, việc thiếu hụt VKD trong ngày sẽ gần như luôn đượcNHTW cung cấp, mặc dù mức giá có thể cao hơn, vì vậy, việc thiếu thanh khoản vàocuối ngày rất ít khi xảy ra
Ngược lại, việc dư thừa VKD lại không phải hình ảnh phản chiếu của tình trạng
thiếu hụt thanh khoản NHTW không phải chuẩn bị đối phó như thiếu hụt Không có rủi
Trang 8ro thanh toán, không có việc thất bại thanh toán khi VKD dư thừa, không có tình trạngkhông đủ DTBB Nhưng hậu quả của việc dư thừa VKD sẽ tác động đến kết quả kinhdoanh của TCTD và can thiệp tới mục tiêu chính sách của NHTW, đó là làm giảm lãisuất ngắn hạn, thậm chí có thể giảm xuống gần như bằng 0 Điều này đã xảy ra ở một sốquốc gia như Nhật Bản Các TCTD có thể cố gắng để bù đắp sự mất mát thu nhập nàybằng cách làm chấp nhận cho vay với các khoản vay có mức độ rủi ro cao hơn (điều này
sẽ gây mất ổn định vĩ mô hoặc gây lạm phát, nếu việc cho vay lại trên TTLNH pháttriển), hoặc họ có thể từ chối nhận tiền gửi của khách hàng, đặc biệt là giảm lãi tiền gửi(làm ảnh hưởng sự phát triển của các trung gian tài chính và có thể gây lạm phát vì khi
đó, người dân không thích gửi tiền vào NH, làm khuyến khích tiêu dùng chứ khôngkhuyến khích tiết kiệm) hoặc họ có thể cố gắng chuyển tiền của mình thành ngoại hối (sẽtác động tới tỷ giá hay trạng thái ngoại hối của NHTW, có thể gây lạm phát, nếu tỷ giáhối đoái giảm giá) Một số nghiên cứu của NHTW cho thấy khi thị trường có trạng thái
dư thừa VKD làm kênh truyền tải lãi suất của chính sách tiền tệ bị yếu đi Điều này mộtlần nữa tạo nên một tác động tiêu cực tới việc thực hiện CSTT
Nếu biến động thị trường từ thặng dư sang thiếu hụt là liên tục theo từng ngày thìthị trường sẽ trở nên mất cân bằng, lãi suất ngắn hạn biến động không thể đoán trước,điều này sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định dài hạn của thị trường, các TCTD sẽ e ngại khitham gia thị trường
Nói cách khác, dự báo và Quản lý VKD là một phần quan trọng trong việc điềuhành CSTT của NHTW Mục tiêu của ngân hàng trung ương là ổn định tiền tệ, điều này
có nghĩa, trong một bối cảnh nhất định, ổn định giá trị tiền tệ bằng cách giữ lạm phátthấp, giữ ổn định giá cả trong nước và giá trị đối ngoại của tiền tệ bằng cách giữ tỷ giáhối đoái ổn định, qua đó hỗ trợ các mục tiêu rộng lớn hơn của thị trường tài chính ổnđịnh, bằng cách giảm những rủi ro có thể phát sinh từ ngắn hạn do giá cả không ổn định
Để thực hiện quản lý VKD, NHTW sử dụng các khuôn khổ, các công cụ và cácquy định để tác động đến lượng dự trữ của các TCTD và kiểm soát sự biến động mức lãisuất ngắn hạn và mục tiêu hoạt động cho phù hợp với mục tiêu cuối cùng của Chính sáchtiền tệ Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý VKD của hệ thống và đưa ra can thiệp hữuhiệu lên thị trường tiền tệ, đòi hỏi NHTW phải thực hiện tốt công tác dự báo VKD
Đối với các NHTW thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụngcác công cụ trực tiếp thì vai trò và ý nghĩa của việc dự báo VKD còn mờ nhạt Nhưng đốivới các NHTW thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thông qua sử dụng các công cụ
Trang 9gián tiếp thì dự báo VKD là một trong những khâu không thể thiếu được trong quá trìnhkiểm soát, điều tiết tiền tệ của NHTW.
Thực chất, NHTW thực hiện quản lý VKD của các TCTD bằng cách quản lý cung
và cầu VKD, xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu VKD để từ đó tác động vào đó
để đạt được mục tiêu đã xác định
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC.
1 Thị trường tiền tệ Việt Nam 2011-2015
1.1 Diễn biến thị trường dưới sự quản lý, điều tiết của NHTW Việt Nam
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 và suy thoái kinh tế sau đó đã gây tácđộng tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ 2011-2015, tình hình kinh tế thế giới và trongnước diễn biến phức tạp, nền kinh tế trong nước bộc lộ nhiều bất ổn vĩ mô, lạm phát tăngcao, kinh tế tăng trưởng chậm lại, thị trường chứng khoán suy giảm mạnh, thị trường bấtđộng sản “đóng băng”, cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt, mặt bằng lãi suất cho vay ởmức cao, tỷ giá biến động và chịu nhiều sức ép, dự trữ ngoại hối nhà nước ở mức thấp,nhiều tổ chức tín dụng (TCTD) gặp khó khăn về thanh khoản, quản trị yếu kém, nợ xấugia tăng ở mức báo động, an toàn hệ thống đáng lo ngại, kỷ luật - kỷ cương thị trườngtiền tệ bị phá vỡ
Với biểu hiện rõ nét là dòng vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, gây áp lực lạmphát và tỉ giá, buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phải liên tục điều chỉnh tăng
tỉ giá USD, riêng trong năm 2010 đã thực hiện hai lần điều chỉnh tỉ giá với mức tăng tổngcộng trên 5% Tuy nhiên, áp lực tỉ giá vẫn tiếp tục tăng cao Từ đó gây ra tình trạng lạmphát trong nền kinh tế cụ thể: tháng giêng năm 2011, lạm phát Việt Nam khởi điểm 7%
so với cùng kỳ năm 2010 thì đúng 3 tháng sau đó, cuối tháng 4/2011, Tổng cục Thống kêViệt Nam chính thức thông báo lạm phát hay chỉ số giá tiêu dùng (gọi tắt là CPI) nhảyvọt lên mức gần 18% so với một năm trước đó Với mức tăng xấp xỉ gần 18%, tốc độ leo
thang của giá cả được cho là tăng nhanh nhất kể từ hồi năm 2008.
Tuy nhiên, lạm phát Việt Nam vẫn chưa dừng lại ở đó Lạm phát tháng 7 lên đếnđỉnh điểm, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng xấp xỉ 15% so với ngày đầu
tiên của năm 2011 Lạm phát tháng 7 của Việt Nam lúc này ở mức cao nhất Châu Á và
đứng thứ nhì thế giới, chỉ sau Venezuela
Dẫn đến tình trạng thị trường bất động sản đóng băng nhìn lại giai đoạn
2011-2013, khi bất động sản bị đặt vào nhóm phi sản xuất, ngân hàng không cho bất động sản
Trang 10vay tiền, lập tức thị trường này “đóng băng” Bộ Xây dựng cho biết, bất động sản nhà ởsụt giảm ở tất cả các phân khúc, số lượng giao dịch thành công giảm mạnh, nhiều nơikhông có giao dịch; hầu hết các dự án bị đình trệ, lượng hàng tồn kho rất cao Không ítdoanh nghiệp xây dựng, bất động sản rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản đãảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách và phát triển kinh tế
Đối với cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt: kim nghạch nhập khẩu 2012 ướctính đạt 12,5 tỷ USD, tăng 5,7% so với năm 2011 Nhập siêu dịch vụ 2012 là 3,1 ty USDtăng 3,8% so với 2011
Về lãi suất cho vay: Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm được điềuchỉnh tăng dần từ mức 11%/năm lên mức 14%/năm, lãi suất tái chiết khấu tăng dần từmức 7%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ mức 11%/năm lên mức15%/năm Đồng thời nguồn cung tiền từ NHNN bị giảm sút mạnh mẽ khiến cho nhữngngân hàng trông đợi nhiều vào nguồn vốn này rơi vào tình thế khó khăn, đối mặt vớinhiều rủi ro về thanh khoản Trong tình cảnh này, biện pháp đơn giản mà các NHTMtrong hệ thống áp dụng là tăng lãi suất huy động hút vốn bù đắp cho lượng thiếu hụt.Động thái này, từ chỉ xuất hiện một vài ngân hàng, đã thúc đẩy các ngân hàng khác laovào một cuộc đua lãi suất huy động dưới các hình thức: Khuyến mãi, tặng thưởng, huyđộng tiết kiệm lãi suất linh họat… dù đã có cam kết giữa các ngân hàng về trần lãi suấthuy động 14% Trước tình hình đó, NHNN đã có Thông tư chính thức quy định mức trầnlãi suất huy động VND tối đa là 14% (riêng với quỹ tín dụng nhân dân là 14,5%) cùngvới sự leo thang của lãi suất VND, lãi suất USD cũng liên tục nóng lên và tăng cao nhấtvào tháng 3/2011 Lãi suất liên ngân hàng cũng liên tục duy trì mức cao: Cho vay quađêm mức 13-14%/năm, kì hạn một tuần 14-15%/năm, kì hạn tháng 15-16%/năm, và chỉ
hạ nhiệt một chút sau khi các NHTM đảm bảo dự trữ bắt buộc vào cuối tháng Đây chính
là dấu hiệu cho thấy một thị trường liên ngân hàng đang thực sự căng thẳng, các ngânhàng đang thực sự khát vốn đáp ứng các nhu cầu thanh khoản
Điều hành lãi suất linh hoạt, bám sát mục tiêu bao trùm của CSTT, đảm bảo là công
cụ để neo kỳ vọng lạm phát, ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Một số thay đổi trong điều hành lãi suất những năm qua luôn tuân thủ nguyên tắc khônggây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soátlạm phát, tăng trưởng kinh tế NHNN đã có những đánh giá, nhận diện khá chính xác tìnhhình để có được hướng điều hành hợp lý nhất Khi mặt bằng lãi suất cho vay ở mức rấtcao, có thời điểm đã vượt 20%/năm, NHNN đã quyết định phải ổn định lại mặt bằng lãisuất thông qua áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp (quy định trần lãi suất huy động
và trần lãi suất cho vay) Việc áp dụng trần lãi suất huy động đã giúp giảm động cơ cạnhtranh không lành mạnh giữa các TCTD, hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường Trong khi đó,
Trang 11việc quy định trần lãi suất cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần gia tăng cơhội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp.
Bên cạnh những ứng biến linh hoạt trong việc sử dụng công cụ trần lãi suất, các mức lãisuất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn dắtthị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền
tệ trong từng thời kỳ Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành côngnhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanhnghiệp, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ
- Điều hành tỷ giá ổn định, hỗ trợ tích cực cho công tác kiểm soát, kiềm chế lạm phát
Ngày 11/2/2011, NHNN tiếp tục điều chỉnh tỉ giá bình quân liên ngân hàng lên 20.693VND, tăng 9,3% so với mức 18.932 VND trước đó, đồng thời, thu hẹp biên độ giao dịch
từ ±3% xuống ±1%; thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ của tổ chức tín dụng (TCTD) đốivới khách hàng vay là người cư trú
NHNN ban hành hàng loạt văn bản qui định giảm trần lãi suất huy động USD từ 6%/nămxuống 2%/năm; điều chỉnh tăng dự trữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ đối với các TCTD thêm2% lên 6%; mở rộng đối tượng doanh nghiệp Nhà nước thực hiện bán ngoại tệ cho cácTCTD; chuyển dần quan hệ huy động-cho vay ngoại tệ trong nước của TCTD sang quan
hệ mua bán ngoại tệ và xử lý các giao dịch ngoại tệ bất hợp pháp trên thị trường tự do.Với những biện pháp quyết liệt của NHNN nêu trên, thị trường ngoại tệ đã ổn định dần,căng thẳng tỉ giá bị đẩy lùi
Cuối năm 2011, tỉ giá chính thức chỉ tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước vàđứng ở mức 20.828 VND, tỉ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tươngđối ổn định và nằm trong biên độ cho phép, trạng thái ngoại hối của các NHTM được cảithiện; tỉ lệ nhập siêu giảm mạnh và chỉ bằng 10,4% giá trị xuất khẩu, thấp hơn nhiều sovới con số 18% đề ra, cán cân thanh toán tổng thể thặng dư khoảng 3,1 tỉ USD, so vớimức thâm hụt 3,07 tỉ USD vào năm 2010
Phát huy kết quả đã đạt được, NHNN đặt mục tiêu không điều chỉnh tỉ giá quá 2-3%trong năm 2012
Để hạn chế "đôla hóa" trong nền kinh tế và kiểm soát tăng trưởng tín dụng ngoại
tệ ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường ngoại hối, NHNN đã ban hành Thông tư số03/TT-NHNN ngày 08/3/2012 thu hẹp các trường hợp được vay vốn bằng ngoại tệ Theo
đó, khách hàng chỉ được vay ngoại tệ nếu có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuấtkinh doanh để trả nợ vay, những trường hợp khác phải có sự chấp thuận bằng văn bảncủa NHNN
Đến cuối năm 2012, tỉ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục ổn định, giá USD muavào tại các NHTM giảm trung bình 1% so với cuối năm 2011, chênh lệch tỉ giá chínhthức và tỉ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, tỉ lệ đôla hóa (tiền gửi ngoại tệ trong
Trang 12tổng phương tiện thanh toán giảm xuống 13,2% từ mức 15,8% vào cuối năm 2011) Các
tổ chức kinh tế và cá nhân đẩy mạnh bán ngoại tệ cho các NHTM, tạo điều kiện đểNHNN mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước
Bước sang năm 2013, NHNN tiếp tục quản lý thị trường ngoại hối và điều hành tỉgiá chặt chẽ theo tín hiệu thị trường, phù hợp với các cân đối vĩ mô và cán cân thanh toánquốc tế, thực hiện các biện pháp tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và chống đôla hóa Nhờ
đó, thị trường ngoại tệ 8 tháng đầu năm giữ được sự ổn định, tỉ giá dao động trong biên
độ cho phép
Tóm lại, trong 2 năm qua, các giải pháp của NHNN về điều hành tỉ giá đã gópphần rất quan trọng trong việc ổn định thị trường ngoại tệ và tăng dự trữ ngoại hối Nhànước
Từ giữa năm 2012, cán cân thương mại của Việt Nam đã được cải thiện theohướng giảm nhanh tình trạng nhập siêu, riêng giá trị xuất siêu trong tháng 8/2013 đạt 600triệu USD, qui mô dự trữ ngoại hối có thời điểm đã đạt 2,8 tháng nhập khẩu, trong khithông lệ quốc tế là 12 tuần nhập khẩu
Hàng năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá giao độngtrong khoảng 1%-3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1% trong các tháng cuối năm
2011, không quá 2%-3% trong năm 2012 và 2013; không quá 1%-2% trong năm 2014,không quá 2% trong năm 2015) nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường,đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinhdoanh Tần suất điều chỉnh tỷ giá cũng giảm dần so với giai đoạn trước Sau lần điềuchỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng 9,3%/năm vào giữa tháng 2/2011 (trong bốicảnh thị trường ngoại tệ căng thẳng kéo dài do tác động của giá vàng thế giới và lạm pháttăng cao), mỗi năm tiếp theo tỷ giá được điều chỉnh tăng nhẹ qua các năm (1%-2%/năm),ngoại trừ năm 2015 sau sự kiện phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và kỳ vọngđiều chỉnh tăng lãi suất điều hành của Fed
Trong quá trình điều hành, bên cạnh các biện pháp trực tiếp như công bố tỷ giágiao dịch bình quân liên ngân hàng, các kỹ thuật can thiệp thị trường, NHNN đã chủđộng phối hợp đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ để hạn chế tối đa các áp lực tácđộng đến ổn định của tỷ giá Theo đó, NHNN đã chú trọng điều hành công cụ lãi suất,gồm cả lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, đảmbảo lợi ích nắm giữ đồng nội tệ, khuyến khích công chúng chuyển từ nắm giữ USD sangVND
Ngoài ra, NHNN cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO)trong việc điều tiết mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoảnhợp lý, nhằm hạn chế sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biếnđộng và thanh khoản hệ thống dư thừa
Trang 13- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh và đầu tư vàng, tạo
điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt
NHNN đã nỗ lực trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh
và đầu tư vàng, trong đó ghi dấu ấn quan trọng nhất là việc tham mưu cho Chính phủ banhành khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24/2012/NĐ-CP, ngày 03/04/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng) Nghịđịnh 24 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, giaocho NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sảnxuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sảnxuất vàng miếng và tổ chức huy động và mua, bán vàng miếng
Biểu đồ 1 : Đồ thị diễn biến giá vàng trong nước và giá vàng thế giới giai đoạn
2011-2015
Những thay đổi về mặt pháp lý như trên đã đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn, tăngcường hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tác động bất lợi của hoạt động kinh doanhvàng đến CSTT, tỷ giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đó cũng chính
là bước tiến quan trọng trong lộ trình chống vàng hóa trong nền kinh tế
Trên cơ sở pháp lý mới ban hành, NHNN cũng đẩy nhanh việc chuyển quan hệ huy cho vay vàng sang quan hệ mua, bán vàng trên thị trường, đấu thầu vàng thông qua việcchỉ đạo đẩy nhanh việc tất toán số dư huy động vàng và giảm số dư cho vay vốn bằngvàng; giám sát chặt chẽ việc TCTD thực hiện lộ trình tất toán số dư cho vay vốn bằngvàng Nhờ vậy, thị trường vàng ngày càng đi vào ổn định, tự điều tiết theo quy luật cungcầu; không còn các “cơn sốt” vàng gây bất ổn kinh tế ngay cả khi giá vàng thế giới cóbiến động, tình trạng “vàng hóa” từng bước được ngăn chặn, qua đó góp phần ổn định thịtrường ngoại hối và kinh tế vĩ mô
động-Đến tháng 4/2015, các TCTD đã giảm dần số dư cho vay bằng vàng, dư nợ cho vay vàngcủa toàn hệ thống (giảm 90% so với ngày 30/4/2012) Điều đó đã loại bỏ toàn bộ rủi ro
Trang 14liên quan đến sự biến động giá vàng và chấm dứt tình trạng vàng hóa trong hệ thốngTCTD.
- Chính sách tín dụng theo hướng tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, kinh doanh,
hỗ trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong vòng 2 năm 2010, 2011, trước hai thách thức lớn của nền kinh tế là lạm phát cao
và khu vực sản xuất gặp nhiều khó khăn, NHNN đã mạnh dạn áp dụng cơ chế điều hànhmới là xây dựng và công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm thay cho việc cácTCTD sẽ tự quyết trong giai đoạn trước Cơ chế quản lý này đã góp phần kiểm soát mứctăng trưởng tín dụng phù hợp với quản lý kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho mục tiêukiềm chế và kiểm soát lạm phát Đồng thời, chính sách này cũng phù hợp với năng lựccủa từng TCTD để vừa có thể đảm bảo an toàn của hệ thống các TCTD, vừa từng bướctháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Để có thể tập trung vốn cho những khu vực quan trọng, hạn chế vốn chảy vào cáckhu vực “bong bóng”, NHNN đã thay đổi và có cách tiếp cận mới đối với thị trường tíndụng Cụ thể, NHNN đã quy định rõ những lĩnh vực không khuyến khích và các lĩnh vực
ưu tiên để các TCTD chủ động kế hoạch cung ứng vốn cho phù hợp Đó là việc đưa lĩnhvực bất động sản và cho vay tiêu dùng ra khỏi danh mục của nhóm lĩnh vực khôngkhuyến khích Điều này tạo cơ sở quan trọng để phục hồi thị trường bất động sản, là
“phao cứu trợ” cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất liên quan đếnbất động sản và làm hồi sinh trở lại dòng vốn của ngân hàng vào khu vực này
Ngoài ra, NHNN cũng định hướng các TCTD xây dựng chính sách phải hướng tới kháchhàng của mình nhiều hơn, phải có các chính sách tín dụng mang tính tổng thể, phù hợpvới từng lĩnh vực ngành nghề sản xuất Chính vì thế, giai đoạn vừa qua đã chứng kiến sự
ra đời của nhiều chính sách tín dụng mang tính đặc thù, như “gói” tín dụng cho vay hỗtrợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ; chính sách tín dụng đặc thù đối vớicác ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ lực của nền kinh tế hoặc có liên quan đến đời sống củangười dân (chương trình cho vay tạm trữ lúa gạo, chương trình cho vay theo vụ mùa,chương trình tín dụng dành cho cá tra, tôm, cho vay tái canh cây cà phê giai đoạn 2014–2020; cho vay đóng mới và nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ,…); triển khai chươngtrình thí điểm cho vay đối với mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong nôngnghiệp
Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất kinh doanh, NHNN đã chỉ đạocác TCTD xem xét cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng, tiếp tục cho vaymới để có vốn tiếp tục sản xuất, vượt qua khó khăn Đây là những hỗ trợ hết sức cần thiết
và kịp thời để giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ và có nguồn lực tài chính cho chu kỳsản xuất mới
1.2 Thành tựu
Trang 15Với các giải pháp điều hành tiền tệ thận trọng, linh hoạt và có nhiều đổi mới sáng tạo,chính sách của NHNN đã truyền dẫn hiệu quả đến nền kinh tế Kết quả đó được thể hiện
rõ nét qua từng năm với những dấu ấn đáng ghi nhận, cụ thể:
- Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế, giảm đều và hiện đang ở mức thấp
Tỷ lệ lạm phát sau khi tăng cao trong nửa đầu năm 2011 đã giảm xuống và diễn biến ổnđịnh cho tới nay Cụ thể, từ mức đỉnh 18,13% năm 2011 xuống còn 6,81% năm 2012,6,04% năm 2013 và dưới 2% giai đoạn 2014-2015 Ngoài ra, tăng trưởng cung tiền và tíndụng kể từ năm 2012 đến nay không tạo áp lực tăng lạm phát như những thời kỳ trước đó
do đã được tập trung hướng vào các lĩnh vực sản xuất trọng tâm của nền kinh tế
- Lãi suất nhanh chóng hạ nhiệt, hỗ trợ hợp lý cho khu vực sản xuất
Tính cho đến thời điểm hiện tại, mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng khoảng47% so với cuối năm 2011 và tương đương mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 (giaiđoạn kinh tế phát triển ổn định), góp phần hỗ trợ giảm chi phí vốn vay của doanh nghiệp
và hộ dân Với những nỗ lực trong công tác điều hành lãi suất, chỉ trong thời gian ngắn,lãi suất cho vay đã giảm hơn một nửa, từ 20%/năm (thậm chí 24%/năm) xuống chỉ còn9%-11% và còn khoảng 6,5%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên
Bên cạnh các khoản vay mới với lãi suất thấp, NHNN cũng yêu cầu các TCTDđưa lãi suất của các khoản vay cũ về mức 15%/năm và sau đó là 13%/năm, góp phần tháo
gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo điều kiện giải phóng kênh tín dụng
Bên cạnh đó, lãi suất cho vay USD cũng được điều hành giảm ổn định theo hướng không
để tồn tại khoảng cách chênh lệch đáng kể với lãi suất cho vay VND, hiện lãi suất chovay USD ngắn hạn ở mức 3%-5,5% và dài hạn từ 5,5%-6,7%
Có thể nói, với mặt bằng lãi suất hiện nay đã góp phần làm giảm giá thành sản phẩm,tăng thêm khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường và bướcđầu đã tháo gỡ hàng tồn kho để chuẩn bị chu kỳ sản xuất mới
- Tăng trưởng tín dụng hợp lý, đạt được mục tiêu điều hành, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm.
Nếu như trong năm 2011, NHNN phải nhanh chóng áp dụng các chính sách chặt chẽ đểkiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao trên 30% xuống còn trên 14% để hỗ trợcông tác kiểm soát lạm phát, thì ngay trong năm 2012 khi tăng trưởng tín dụng có dấuhiệu "ngưng trệ" ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, NHNN đã nhanh chóng thay đổi mụctiêu điều hành theo hướng tăng trưởng tín dụng nhưng thận trọng Điều này nhằm đápứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, song phải theo nguyên tắc đảm bảo chất lượng tín dụng,hạn chế phân bổ vốn vào khu vực không khuyến khích có nguy cơ gây ra lạm phát cao vàtăng trưởng thiếu bền vững trong tương lai Nhờ đó, tăng trưởng tín dụng đã có sự phụchồi qua các năm, cụ thể: năm 2012 là 8,85%; năm 2013 là 12,51%; năm 2014 là 14,16%;
6 tháng đầu năm 2015 tăng 7,83% Trong giai đoạn này, tín dụng tăng bình quân khoảng