Trang 335 KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP ĐO PROFIN VẬN TỐC DÒNG CHẤT LỎNG BẰNG XUNG SIÊU ÂM Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Văn Lập, Nguyễn Văn Kựu Khoa Cơ khí, Trường Đại
Trang 1Trang 335
KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP ĐO PROFIN VẬN TỐC
DÒNG CHẤT LỎNG BẰNG XUNG SIÊU ÂM
Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Văn Lập, Nguyễn Văn Kựu
Khoa Cơ khí, Trường Đại học Thủy Lợi, 175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội
TÓM TẮT:
Phương pháp đo profin vận tốc dòng chất lỏng
bằng xung siêu âm (phương pháp UVP) đã được
thí nghiệm trong đường ống dài L = 4 m, đường
kính trong D = 40 mm, chiều dày ống
δ = 4 mm Vật liệu làm ống là nhựa Acrylic Chất
lỏng dùng cho thí nghiệm là nước sạch Trong
vùng bán kính r = 15 mm tính từ tâm ống, kết quả
đo profin vận tốc dòng trong ống cho thấy phù hợp với lý thuyết động lực học chất lưu Tuy nhiên phương pháp UVP không phù hợp để đo profin vận tốc ở khu vực sát thành ống Điều này cũng phù hợp với các kết quả của một số nhà nghiên cứu
Từ khóa: phương pháp UVP, dòng chất lỏng
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Nhiều thập kỷ qua, việc đo dòng chảy là vấn đề
luôn được quan tâm không chỉ trong kỹ thuật chất
lỏng mà cả trong trong các lĩnh vực công nghiệp
Các tính chất của chất lỏng thường có sự khác
nhau rất lớn giữa các lĩnh vực công nghiệp khác
nhau Các chất lỏng có thể có các tính chất như
ăn mòn, mài mòn, cháy, nổ, hay độc hại Nó có
thể là chất lỏng một pha (khí sạch hoặc nước
sạch), hoặc chất lỏng nhiều pha (dung dịch bùn
hoặc khí có lẫn bụi) Các đường ống dùng để vận
chuyển chất lỏng có đường kính từ 1 mm đến vài
mét Nhiệt độ chất lỏng có thể thay đổi từ không
độ đến hàng trăm 0C, áp suất có thể thay đổi từ
chân không đến hàng trăm bar
Do có sự khác nhau rất lớn giữa các tính chất
của chất lỏng, ứng dụng của dòng trong các lĩnh
vực công nghiệp khác nhau, các kỹ thuật đo dòng
khác nhau đã được phát triển để phù hợp với
từng điều kiện dòng riêng biệt Dù rất nhiều kỹ
thuật đo dòng đã được đề xuất trong thời gian
qua, nhưng chỉ có một số kỹ thuật đo dòng chảy
có thể có áp dụng cho nhiều điều kiện đo dòng
khác nhau Chưa có kỹ thuật đo dòng chảy nào
có thể áp dụng cho tất cả các điều kiện đo dòng
chảy
Việc đo dòng chảy của các chất lỏng đục
dường như rất khó khăn Các kỹ thuật đo dòng
bằng các phương tiện quang học chụp hình ảnh
cũng gần như không thực hiện được vì tính đục
của dung dịch gây mù các thiết bị quang học Các phương pháp đo dòng khác như đo bằng áp suất hay mô-men không thể cho kết quả trường không gian vận tốc tức thời Với nhiều loại dung dịch có ứng xử phi Niu-tơn và độ nhớt cao thì khi cho đầu
đo trực tiếp xâm nhập vào dung dịch sẽ làm thay đổi trường dòng ảnh hưởng đến kết quả đo Bằng việc sử dụng phương pháp đo profin vận tốc dòng bằng xung siêu âm (Ultrasonic Velocity Profile - UVP), có thể thực hiện việc đo dòng chảy với các loại dung dịch đục, chất lỏng nhớt phi Niu-tơn được gặp rất nhiều trong kỹ thuật Ngoài ra, phương pháp UVP cũng cho phép đo được trường dòng chảy tức thời theo không gian và thời gian Do đó có thể sơ đồ hóa được toàn bộ trường dòng
Đo profin vận tốc tức thời trong các dòng chảy rối là rất quan trọng trong động lực học chất lỏng
và các lĩnh vực kỹ thuật liên quan khác Tuy nhiên, những khó khăn trong việc sử dụng phương pháp để có được kết quả đo chính xác trong các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau là vấn đề cần được tiếp tục xem xét nghiên cứu Trong nghiên cứu này, việc đo profin vận tốc dòng chảy dòng chất lỏng trong ống mặt cắt tròn sử dụng phương pháp đo không xâm nhập bằng xung siêu
âm (phương pháp UVP) đã được làm thực nghiệm Kết quả đo được so sánh, phân tích và
Trang 2Trang 336
thảo luận với các lý thuyết cơ bản, các kết quả của các nghiên cứu trước đây
2 NGUYÊN LÝ CỦA PHƯƠNG PHÁP UVP
Phương pháp đo profin vận tốc bằng sóng siêu
âm UVP được phát triển bởi Takeda et al 1995
[1], [2] cho phép thu được profin vận tốc tức thời
dọc theo chùm xung siêu âm truyền vào dòng
chảy (Hình 1) Phương pháp này được dựa trên
nguyên lý phản xạ sóng âm của các hạt di chuyển
cùng với dòng chảy của chất lỏng Các vị trí và
vận tốc của các hạt có thể được rút ra từ độ trễ
thời gian giữa các tín hiệu của sóng phát xạ và
sóng phản xạ và sự thay đổi tần số do hiệu ứng
Doppler Để thu được profin vận tốc, chùm xung siêu âm được truyền vào dòng chất lỏng nhờ một đầu rò hoạt động như là một bộ nhận xung siêu
âm phản xạ từ các hạt di chuyển trong dòng chảy
Sự phát và truyền xung siêu âm tuân theo các định lý truyền sóng Sự phản xạ, nhiễu xạ, biến đổi của xung siêu âm xuất hiện tại ranh giới giữa hai vật liệu Để tránh các ảnh hưởng này, góc tới của xung siêu âm thường được đặt lớn hơn góc tới hạn của sóng dọc
Hình 1 Nguyên lý phương pháp UVP
3 THIẾT LẬP MẠCH THÍ NGHIỆM
Thí nghiệm được thực hiện với nước máy lấy
từ vòi cấp của nhà máy nước trong thành phố
Nhiệt độ của nước được duy trì ở nhiệt độ 250
C
Đường ống thí nghiệm có chiều dài L = 4 m,
đường kính trong D = 40 mm, chiều dày thành
ống δ = 4 mm Đo profin vận tốc được thực hiện
tại vị trí cách lối vào 1 m Để luân chuyển dòng
chất lỏng trong đường ống, chúng tôi sử dụng
một bơm chìm công suất N = 0,75 kW, lưu lượng
lớn nhất Q = 0,22 m3
/phút, c ột áp lớn nhất H = 7,5 m (Hình 2)
Thiết bị đo profin vận tốc bằng siêu âm là loại
FSDP-1 được sản xuất bởi công ty Fuji (Nhật
Bản) với hai đầu dò siêu âm 8 MHz Đầu dò được đặt tạo với hướng dòng một góc 450 Với mỗi đầu
dò, các vận tốc được đo ở 126 điểm cho độ sâu
57 mm, độ phân dải là 0,45 mm theo hướng
truyền của xung siêu âm Thời gian giữa hai xung liên tiếp 128µs Profin vận tốc trung bình được
xác định từ 1000 profin vận tốc tức thời trong
quãng thời gian 20s Mức thời gian này đủ dài so với tỷ lệ thời gian đặc trưng rối của dòng Hạt dùng để bắt xung siêu âm được cho vào dung dịch thí nghiệm là Diaion của Mitsubishi Chemical (Nhật Bản)
Trang 3Trang 337
Hình 2 Sơ đồ mạch thí nghiệm
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Profin vận tốc
Profin vận tốc dòng trung bình trong ống có
đường kính trong 40 mm với số Reynolds
Re = 60000 được biểu diễn trong Hình 3 Biểu đồ
cho thấy profin vận tốc trung bình của dòng trong
ống có đặc trưng rối đã phát triển đầy đủ, phân bố
dạng hình parabol Vận tốc lớn nhất tại tâm ống,
giảm dần sang hai bên thành ống Tuy nhiên từ
thành ống đến vị trí cách thành ống khoảng 4
mm, vận tốc dòng trung bình (Vaver) khá lớn
thuyết vì vận tốc sẽ thấp tại khu vực gần thành
ống và vận tốc bằng không tại thành ống [3] Các
nghiên cứu đều báo cáo phương pháp UVP
không thể đo khu khu vực gần thành ống Để làm
rõ nhận xét này, chúng tôi vẽ đồ thị profin vận tốc
dạng logarit u,ynhư Hình 4 Trong khu vực
phân bố rối y100 xa thành ống, kết quả đo phù hợp với phương trình lý thuyết
u y được đề xuất bởi Schlichting,
1960 [3] Trong khu vực dòng nhớt y10 và khu vực dòng chuyển tiếp 10y100 sát gần thành ống, kết quả không phù hợp với lý thuyết dòng lớp biên [3]
4.2 Cường độ rối
Như thảo luận ở phần 4.1, phương pháp đo UVP không thể đo được ở khu vực gần thành ống, nên ở đây chúng tôi chỉ mô tả cường độ rối
từ vị trí cách thành ống khoảng cách y/R =0,2 Trên đồ thị Hình 5 ta thấy, cường độ rối tăng dần
từ khu vực gần thành tường đến khu vực tâm ống Tại khu vực tâm ống, cường độ rối đạt 0,022
Hình 3 Profin vận tốc dòng trong ống Hình 4 Đồ thị profin vận tốc dạng Logarit
Trang 4Trang 338
Hình 5 Cường độ rối dòng trong ống
5 KẾT LUẬN
Profin vận tốc dòng trong ống mặt cắt tròn đã
được khảo sát thực nghiệm bằng xung siêu âm
(phương pháp UVP) Đây là một phương pháp đo
dòng tiên tiến không xâm nhập trực tiếp vào chất
lỏng, không phá hủy cấu trúc thành ống Phương
pháp UVP có thể cho phép đo các profin vận tốc
tức thời của dòng trong ống Nó phù hợp với các
loại chất lỏng đục, chất lỏng phi Niu-tơn Kết quả
thí nghiệm cho thấy phương pháp này cho kết quả đo profin vận tốc phù hợp tốt với lý thuyết động lực học chất lỏng dòng trong các đường ống, Tuy nhiên, kết quả đo cũng cho thấy phương pháp UVP không thích hợp để đo profin vận tốc tại khu vực sát gần thành ống Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả khác
REFERENCES
[1] Y Takeda, “Ultrasonic Doppler Method for
velocity profile measurement in Fluid
Dynamics and Fluid Engineering”, no 1, pp
1–8, 1998
[2] Y Takeda, “Velocity Profile
Measurement by Ultrasonic Doppler Method”, Exp Therm Fluid Sci., vol 1777,
no 94, pp 444–453, 1995
[3] H Schlichting, “Boundary layer theory,”
1960
EXPERIMENTAL INVESTIGATING AN ULTRASONIC VELOCITY
PROFILE METHOD OF PIPE FLOW
Nguyen Anh Tuan, Nguyen Ngoc Minh, Nguyen Van lap, Nguen Van Kuu
Department of Mechanical Engineering, Thuy Loi University, 175 Tay Son, Dong Da, Hanoi
ABSTRACT:
The untrasonic velocity profile method (UVP
method) were performed in a circular arcrylic pipe
line with 4m in length, 40mm in diameter and
4mm in thickness The clean tap water was used
for the experiment In region with the radius of
15mm from the pipe center, the experimental
results was well agreed with that to be showed in the therory of fluid dynamics However, the UVP method is not appropriate to measure in region near pipe wall This is also as same as that of some researchers
Keywords: UVP method, pipe flow
0 0.01 0.02 0.03 0.04 0.05
y/R
Re = 60000