Thực tế hiện nay, giáo trình, tài liệu nghiên cứu về dạy đọc hiểu văn bản và biện pháp hình thành, phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn chưa nhiều
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xu hướng chuẩn hóa và hội nhập quốc tế liên tục đặt ra những
yêu cầu mới cho ngành giáo dục nước ta Với mục tiêu hình thành cho học sinh những phẩm chất và năng lực của một công dân toàn cầu, ngành giáo dục và đào tạo đã và đang đổi mới đồng bộ từ chương trình đào tạo, sách giáo khoa, phương pháp dạy học đến vấn đề kiểm tra, đánh giá Vì vậy, đội ngũ giáo viên đang trực tiếp đứng lớp hoặc những giáo viên tương lai đang còn ngồi trên giảng đường đại học cần phải sớm được tiếp cận với những thay đổi để đáp ứng được những yêu cầu mới của ngành giáo dục
1.2 Môn Ngữ văn là môn học công cụ, có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua các kĩ năng cơ bản: đọc- viết- nghe- nói Càng học lên cao, năng lực đọc hiểu càng được chú ý hơn vì đó là chìa khóa để học suốt đời Để học sinh có được năng lực đọc hiểu văn bản thì giáo viên phổ thông phải có năng lực dạy đọc hiểu văn bản Chính vì vậy, khoa Ngữ văn của các trường sư phạm phải quan tâm phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên 1.3 Sinh viên sư phạm Ngữ văn của Đại học Tây Bắc phần lớn thuộc thành phần dân tộc thiểu số, năng lực đọc hiểu văn bản còn nhiều hạn chế Sau khi tốt nghiệp những sinh viên này lại ra công tác chủ yếu
ở các vùng có nhiều học sinh dân tộc, đối tượng này vốn khả năng tiếng Việt và văn hóa chung còn nhiều thiếu hụt, nên việc dạy đọc hiểu cho những học sinh này sẽ gặp nhiều khó khăn Vì thế, chương trình đào tạo phải quan tâm hơn đến vấn đề phát triển năng lực đọc hiểu và dạy đọc hiểu cho đối tượng sinh viên này
1.4 Thực tế hiện nay, giáo trình, tài liệu nghiên cứu về dạy đọc hiểu văn bản và biện pháp hình thành, phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn chưa nhiều, chưa có tính
hệ thống và chưa cập nhật với sự thay đổi của chương trình giáo dục phổ thông Do đó, sinh viên sư phạm và giáo viên phổ thông đang thiếu những hướng dẫn cơ bản về cách thức dạy đọc hiểu văn bản Vì vậy, cần có những công trình nghiên cứu và nguồn giáo trình, tài liệu về dạy đọc hiểu văn bản để giáo viên và sinh viên sư phạm Ngữ văn được tiếp cận, học tập
1.5 Chương trình đào tạo trình độ cử nhân sư phạm Ngữ văn của Đại học Tây Bắc chưa có học phần nào cung cấp tri thức về đọc hiểu, cách thức dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên Vì thế, rất cần có một
Trang 2chương trình đào tạo và những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của Nhà trường nhằm giúp sinh viên phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản
Với mong muốn giải quyết được phần nào những bất cập nêu trên,
chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề: Phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về năng lực sư phạm của người giáo viên
2.1.1 Thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài
Ở Liên Xô và một số nước phát triển như Mĩ, Canađa, Australia các nhà nghiên cứu đã tập trung xác định cấu trúc năng lực, kĩ năng cần
có của người giáo viên và những mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn với năng lực nghiệp vụ, đồng thời chỉ ra những năng lực dạy học
mà sinh viên cần được phát triển để trở thành người giáo viên thực thụ Các nghiên cứu đều đề xuất thời lượng giờ thực hành cần được phân bổ nhiều hơn so với giờ lí thuyết
1.2.2 Thành tựu nghiên cứu ở Việt Nam
Điểm thống nhất trong các nghiên cứu đã nhấn mạnh một số năng lực cơ bản của người giáo viên đó là: Xây dựng kế hoạch dạy học; Lập
kế hoạch bài học; Chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học phù hợp với kế hoạch bài dạy, mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học; Tạo dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh, khuyến khích sáng tạo trong dạy và học; Thiết kế và sử dụng được công cụ đánh giá; Thực hiện được các phương pháp đánh giá; Sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học; Phát triển NL tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
2.2 Nghiên cứu về đọc hiểu văn bản
2.2.1 Thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 32.2.2 Thành tựu nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về đọc hiểu văn bản tương đối phong phú Trong đó, có hai vấn đề chính đã dành được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, đó là:
- Nghiên cứu vấn đề đọc hiểu văn bản;
- Nghiên cứu vấn đề đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Dù đứng ở góc độ nào các nhà nghiên cứu cũng khẳng định đọc là một hoạt động đòi hỏi phải vận dụng nhiều kĩ năng Đọc hiểu là một năng lực trong tiếp nhận văn bản, là cái đích cuối cùng của việc đọc Không có phương pháp vạn năng nào có thể chỉ dẫn đúng đắn, hiệu quả việc đọc hiểu từng văn bản nhưng sẽ có chìa khóa để giúp con người biết cách giải mã các loại hình văn bản cụ thể
2.3 Nghiên cứu về dạy đọc hiểu văn bản
2.3.1 Thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản như: Micheal Presslay, Marion D Jenkinson,
H Alan Robinson, Taffy E Raphael, Ephrieda H Hiebert Kết quả nghiên cứu có điểm gặp gỡ khi đều khẳng định vai trò của hệ thống câu hỏi và kiến thức nền trong dạy học đọc hiểu văn bản Vấn đề quan trọng khi dạy đọc hiểu văn bản là làm việc trên văn bản gốc Vì thế, cần phải dạy đọc hiểu từ ngữ, phát triển vốn từ vựng và phát triển khả năng giải thích khái niệm nhằm giúp học sinh đọc hiểu văn bản
Người giáo viên viên khi dạy đọc hiểu văn bản không chỉ tập trung vào việc giúp học sinh củng cố kiến thức mà cần phải nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh, để học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động trong quá trình đọc
2.3.2 Thành tựu nghiên cứu ở Việt Nam
Lí luận về phương pháp đọc hiểu văn bản và dạy đọc hiểu văn bản
đã đạt được nhiều thành lựu với những đóng góp của các nhà nghiên cứu: Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Trọng Hoàn, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hồng Nam…
Mỗi công trình nghiên cứu đều đặt vấn đề ở từng góc nhìn khác nhau, song điểm chung của các công trình này đều khẳng định dạy học văn hiện nay phải giúp học sinh biết cách đọc và hiểu văn bản Người giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn học sinh cách đọc văn và tạo cơ hội cho học sinh thể hiện sự sáng tạo trong suốt quá trình đọc văn bản
Trang 4Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, thực tế dạy học văn hiện nay rất ít giáo viên có năng lực dạy đọc hiểu văn bản theo đúng bản chất của phương pháp này Một phần vì thói quen giảng văn nhiều năm qua là dạy theo phương pháp thuyết trình nên giáo viên khó thay đổi, một phần vì việc đào tạo và bồi dưỡng phương pháp dạy đọc hiểu văn bản cho giáo viên chưa bài bản, chưa cập nhật và liên tục
2.4 Nhận xét chung
Các tài liệu về năng lực sư phạm của giáo viên nói chung và năng lực đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông tương đối phong phú Những nguồn tài liệu này giúp chúng tôi hình thành cơ sở lí thuyết về phát triển năng lực đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông
Tuy nhiên, những tài liệu về năng lực dạy đọc hiểu, nhất là các
giáo trình về dạy đọc hiểu văn bản trong các cơ sở đào tạo giáo viên hầu như chưa có Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về vấn đề phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn Đây chính là vấn đề còn tồn
tại nhiều khoảng trống chưa được giải quyết
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất những giải pháp nhằm phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn Trường Đại học Tây Bắc
4 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu năng lực dạy đọc hiểu và các giải pháp nhằm phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn Trường Đại học Tây Bắc
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NL dạy học
và NL dạy ĐHVB;
Mô tả và phân tích thực trạng dạy ĐHVB của SV, từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến NL dạy học của SV;
Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển năng lực dạy ĐHVB cho
SV sư phạm Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc;
Thực nghiệm kiểm chứng những giải pháp đã được đề xuất
Trang 55 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản văn học cho sinh viên sư phạm Ngữ văn Trường Đại học Tây Bắc
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài của luận án, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lí luận; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn sâu; Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết khoa học
Hiện nay năng lực dạy ĐHVB của sinh viên sư phạm Ngữ văn
Trường Đại học Tây Bắc còn nhiều hạn chế Trước thực trạng đó, nếu
xây dựng được một số giải pháp để phát triển năng lực dạy đọc hiểu
văn bản cho sinh viên: từ Đổi mới chương trình đào tạo theo định hướng coi trọng năng lực sư phạm đến Đổi mới kiểm tra theo yêu cầu phát triển năng lực SV và Tăng cường rèn kĩ năng đọc hiểu và dạy đọc
hiểu văn bản cho sinh viên thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
cho Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Tây Bắc
8 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã nêu lên được hiện trạng thiếu hụt trong đào tạo sinh viên sư phạm Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực nói chung và năng lực dạy đọc hiểu văn bản nói riêng
Bước đầu đã đề xuất được những giải pháp cơ bản để phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn ngay trong quá trình đào tạo ở nhà trường sư phạm
Giúp cho giáo viên phổ thông đặc biệt là các giáo viên thuộc địa bàn các tỉnh Tây Bắc có một tài liệu tham khảo về cách thức dạy đọc hiểu văn bản văn học
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề phát triển năng lực dạy đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn Trường Đại học Tây Bắc
Chương 2: Những biện pháp phát triển năng lực dạy học đọc hiểu văn bản cho sinh viên sư phạm Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO SINH VIÊN
SƯ PHẠM NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Văn bản văn học
1.1.1.1 Khái niệm văn bản văn học
Văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là đối tượng
tiếp nhận của người đọc Văn bản văn học thường đi sâu vào phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người
1.1.1.2 Đặc trưng của văn bản văn học
a Văn bản văn học là một sáng tác ngôn từ, đó là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất, liên kết chặt chẽ của các thành tố hợp thành Tính chỉnh thể là đặc trưng nổi bật của văn bản văn học
Tính chỉnh thể sở dĩ quan trọng đối với văn bản văn học là vì chỉ trong chỉnh thể thì hình thức và nội dung đích thực của văn bản mới xuất hiện Trong văn bản thơ, các chữ phải kết hợp với nhau theo một cách nào đó mới tạo ra được hình thức câu thơ lục bát hay câu thơ tự do
có nhịp điệu và nhạc điệu riêng Trong văn bản tự sự, các yếu tố chi tiết, sự kiện phải được liên kết theo quy luật nào đó mới tạo ra được hình thức chân dung, cốt truyện, phong cảnh, nhân vật…
b Văn học luôn có khả năng tái kí hiệu hoá, biểu tượng hoá các ấn tượng, kinh nghiệm sống của con người Chẳng hạn, hình ảnh “Đất” và
“Nước” trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa gắn liền với những điều gần gũi, thân thuộc “Đất là nơi anh đến trường/ Nước
là nơi em tắm” vừa mang tính huyền thoại, thiêng liêng “Đất là nơi chim về/ Nước là nơi rồng ở”
c Ngôn từ trong văn bản văn học được trau chuốt, lựa chọn, được
tổ chức đặc biệt với nhiều phương thức và biện pháp tu từ, đồng thời được “lạ hoá”, tức là gọi tên sự vật bằng những cách gọi khác do nhà văn sáng tạo ra nhằm đem đến một cách nhìn, cách cảm mới cho người
đọc Trong Truyện Kiều, ngoài từ nước mắt, Nguyễn Du còn dung
nhiều từ khác để thay thế như: lệ, giọt châu, giọt ngọc, giọt sương, giọt hồng, giọt tủi, dòng thu Ngoài các thành ngữ, tục ngữ tác giả còn tạo ra những nhóm từ mới có âm luật chặt chẽ như: Thảm lấp sầu vùi, nắng giữ mưa gìn, ngọn hỏi ngành tra…
d Tính chất tưởng tượng, hư cấu cũng là đặc trưng quan trọng của văn bản văn học Tính hư cấu nói lên mối quan hệ đặc biệt giữa văn học
Trang 7và hiện thực Nếu như trong giao tiếp đời thường tác giả và chủ thể lời nói là một và yếu tố quyết định là chủ thể lời nói thì trong văn bản văn học, tác giả thực luôn lánh đi nhường lời cho chủ thể lời nói (người kể chuyện, nhân vật trữ tình) nói hộ Vì thế, không nên đồng nhất tác giả với chủ thể lời văn Lời văn là lời của một chủ thể hình tượng và sức mạnh của lời văn nằm ở tầm vóc khái quát của chủ thể ấy
1.1.1.3 Cấu trúc của văn bản văn học
Ba yếu tố cơ bản của cấu trúc văn bản văn học là:
a Văn bản ngôn từ
Đó là văn bản cấu tạo bằng con chữ của một thứ chữ viết nhất định, theo quy tắc chính tả nhất định, có tính hình tuyến, từ câu mở đầu liên tục cho đến kết thúc với dấu chấm hết
Văn bản ngôn từ bao gồm các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và đặc sắc thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật (như vần nhịp điệu, sự trùng điệp…) Tuỳ theo đặc trưng thể loại mà văn bản ngôn từ được tổ chức
khác nhau và có những quy tắc riêng cho mỗi loại
b Hình tượng văn học
Xuyên qua văn bản ngôn từ là lớp hình tượng văn học được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ bao gồm các “hình ảnh ngôn từ” các “ý tưởng” “biểu tượng” tạo thành bởi các phép tu từ Bên cạnh đó, hình tượng văn học còn bao gồm những cấu tạo “siêu ngôn từ” được kể và miêu tả ra như sự kiện, nhân vật, môi trường, hoàn cảnh Các sự kiện có
1.1.2 Yêu cầu của đọc hiểu văn bản văn học
- Khi đọc hiểu văn bản, trước hết người đọc phải nhận biết được các thành phần bề nổi của văn bản như: thể loại, đề tài, chủ đề các tín hiệu
thẩm mĩ của văn bản (chi tiết hình ảnh, âm thanh, ngôn từ…)
- Tiếp đó, cần phải hiểu được nội dung và hình thức thể hiện của văn bản như: Giải thích được ý nghĩa nhan đề văn bản và hiểu được
chủ đề, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của nhà văn gửi gắm trong văn bản, ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ Hiểu nghệ thuật sử dụng ngôn
Trang 8ngữ (nét đặc sắc trong cách dùng từ ngữ, viết câu, vận dụng các biện pháp tu từ, tổ chức diễn ngôn…)
Cuối cùng, phải biết vận dụng, liên hệ, so sánh ngoài phạm vi văn bản: Đọc hiểu ĐHVB văn học còn phải biết phân tích, so sánh, đánh
giá quan hệ giữa nội dung của văn bản với bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa So sánh, đánh giá các tác giả, văn bản, thể loại có liên hệ với nhau về thời gian, đề tài, chủ đề, hoặc phong cách sáng tác, những bài học rút ra từ việc đọc văn bản; Đánh giá, phê bình văn bản dựa trên trải nghiệm và tri thức đã có (tri thức nền) của người đọc…
1.1.3 Yêu cầu của dạy đọc hiểu văn bản văn học
- Trong dạy đọc hiểu văn bản văn học, GV phải là người tổ chức, hướng dẫn HS đọc hiểu Vai trò của GV chỉ là người hướng dẫn, dìu dắt, nêu vấn đề để HS trao đổi, thảo luận; là người dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc thay, đọc giùm, biến HS thành thính giả thụ động của mình
- GV phải biết thiết kế các hoạt động sao cho có thể giúp HS phải tiếp xúc trực tiếp với VB, tự các em đọc văn bản và biết vận dụng các
kĩ năng phân tích, suy luận để đưa ra được các dẫn chứng trong văn bản làm cơ sở cho các nhận định, phân tích của mình Các hoạt động của
GV phải hướng HS vào thực hiện một số nhiệm vụ:
+ Nhận biết được nội dung và hình thức của VB như đề tài, chủ đề,
tư tưởng, đặc trưng thể loại và các tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản + Hiểu nội dung, ý nghĩa của VB và tác dụng của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung như: Nội dung chính, ý nghĩa tư tưởng thẩm mĩ của VB, thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm đến bạn đọc…
+ Phản hồi và đánh giá văn bản: Bày tỏ suy nghĩ của cá nhân về các yếu tố nội dung hay hình thức của văn bản
+ Vận dụng, liên hệ văn bản vào đời sống: Liên hệ văn bản vào chính của sống của mình để xem xét những tác động của văn bản đối với bản thân và những người xung quanh…
- GV phải tôn trọng kết quả tiếp nhận của HS, để cho mỗi HS có quyền đọc hiểu theo trình độ, vốn hiểu biết, kinh nghiệm cảm xúc của mình, từ đó hình thành cho HS khả năng phân tích và tổng hợp VB, giúp
HS có năng lực đọc hiểu bất kì loại văn bản nào kể cả những văn bản được giảng dạy trong nhà trường và văn bản nằm ngoài chương trình
1.1.4 Sinh viên dân tộc thiểu số với vấn đề đọc hiểu văn bản văn học
Mỗi dân tộc (tộc người) đều có ngôn ngữ riêng, đó là ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ Ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất và tiếng Việt
Trang 9là ngôn ngữ thứ hai Vì thế, yếu tố ngôn ngữ là một trong những rào cản lớn nhất của quá trình tiếp thu tri thức khoa học nói chung và việc đọc hiểu văn bản nói riêng Khoảng cách thẩm mĩ giữa chủ thể tiếp nhận là dân tộc Kinh và chủ thể tiếp nhận là người dân tộc thiểu số tương đối lớn bởi nhiều nguyên nhân: tư tưởng thẩm mĩ, quan điểm sống, tầm đón nhận, phông văn hoá…
1.1.5 Mô hình đào tạo giáo viên và chuẩn đầu ra của sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn
1.1.5.1 Mô hình đào tạo giáo viên
Mô hình đào tạo giáo viên được hiểu là hệ thống những định hướng tổng thể cho việc đào tạo, bao gồm quan điểm định hướng, mục tiêu đào tạo, những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên, khung cấu trúc nội dung, phương thức tổ chức, phương pháp đào tạo và đánh giá cũng như lịch trình đào tạo Ở nước ta, từ trước đến nay có hai mô hình chính, đó là: đào tạo song song và đào tạo nối tiếp
1.1.5.2 Chuẩn đầu ra của sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn
“CĐR là sự khẳng định của những điều kì vọng, mong muốn một người tốt nghiệp có khả năng làm được nhờ kết quả của quá trình đào tạo”
Về cơ bản, CĐR của các trường được xây dựng trên cơ sở chuẩn nghề nghiệp THPT đã được Bộ giáo dục và Đào tạo quy định nên có sự
thống nhất cao về các nội dung: Kiến thức, kĩ năng, thái độ, vị trí, khả năng công tác và khả năng học tập nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp 1.1.5.2 Định hướng xây dựng chuẩn đầu ra năng lực dạy đọc hiểu văn bản của sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn
Trên cơ sở khái niệm năng lực và đặc trưng của dạy đọc hiểu VB văn học, chúng tôi đưa ra cách hiểu về năng lực dạy đọc hiểu văn bản
văn học như sau: Năng lực dạy đọc hiểu văn bản văn học là khả năng thực hiện hiệu quả nhiệm vụ dạy đọc hiểu văn bản văn học cho HS dựa trên những tri thức về văn bản văn học, kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu văn bản văn học, thái độ, động cơ và hứng thú của GV để giúp HS có được năng lực đọc hiểu văn bản văn học
Năng lực dạy đọc hiểu văn bản văn học được tạo thành bởi ba
năng lực thành phần, đó là: Năng lực lập kế hoạch bài học; Năng lực thực hiện giờ dạy; Năng lực đánh giá
Trang 101.2 Cơ sơ thực tiễn
1.2.1 Khảo sát thực trạng dạy đọc hiểu văn bản của sinh viên
1.2.1.1 Đối tượng và công cụ khảo sát
Đối tượng khảo sát: 200 SV của bốn lớp: K53 ĐHSP Ngữ văn A, K53 ĐHSP Ngữ văn B, K54 ĐHSP Ngữ văn A và K54 ĐHSP Ngữ văn
B (sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 của năm học 2015 - 2016)
Công cụ và phương thức khảo sát: Phiếu điều tra; kế hoạch bài học;
dự giờ các buổi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và kiến tập, thực tập ở trường phổ thông; phỏng vấn, xin ý kiến của giảng viên, giáo viên và học sinh
1.2.1.2 Kết quả khảo sát
a Nhận thức của sinh viên về dạy đọc hiểu văn bản
Nhiều sinh viên được điều tra chưa có nhận thức đầy đủ, chính xác
về dạy đọc hiểu văn bản Sinh viên còn nhận thức rằng đây chính là tên gọi khác của phương pháp giảng văn truyền thống
b Lập kế hoạch bài học
Khi lập kế hoạch bài học, nhiều sinh viên chỉ chú trọng khai thác nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh Đây thực chất là những giáo án về nội dung bài dạy chứ không phải là giáo án tổ chức cho học sinh khám phá văn bản bằng các hoạt động cụ thể do giáo viên dẫn dắt, định hướng
c Thực hiện giờ dạy đọc hiểu văn bản
Phần lớn sinh viên chưa dạy đọc hiểu văn bản theo đúng bản chất Qua giờ giảng, sinh viên chưa chú ý đến việc hình thành cho học sinh năng lực đọc văn để dần dần có thể tự đọc hiểu văn bản một
cách khoa học
d Đánh giá kết quả học tập của HS
Nhiều sinh viên chưa có năng lực đánh giá kết quả học tập của học sinh, việc đánh giá vẫn mang tính chất cảm tính Sinh viên chưa biết lập
ma trận đề kiểm tra để đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng
1.2.2.1 Chương trình đào tạo
a Về ưu điểm: Chương trình đảm bảo tính pháp lí của Luật giáo
dục, đảm bảo các tiêu chí của CĐR đối với trình độ cử nhân sư phạm Ngữ văn - ĐHTB
b Về hạn chế:
- Thứ nhất, chương trình còn nặng về việc trang bị kiến thức;
- Thứ hai, sự phân bổ các khối kiến thức chưa hợp lí: nặng về kiến
thức chuyên ngành; kiến thức nghiệp vụ chưa được chú trọng;
Trang 11- Thứ ba, số học phần tự chọn chưa nhiều, chưa phong phú, ít học
phần tự chọn chú trọng rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm;
- Thứ tư, một số học phần nội dung thực hành chưa cụ thể
- Thứ năm, kiến thức của một số học phần chưa được cập nhật 1.2.2.2 Vấn đề kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập của sinh viên
Vấn đề KTĐG đã đảm bảo đúng quy định Tuy nhiên, câu hỏi kiểm tra chưa chú trọng đánh giá năng lực của sinh viên trong việc vận dụng lí luận vào thực tiễn
1.2.2.3 Vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
Chương trình chỉ có có duy nhất 01 học phần Rèn luyện nghiệp
vụ sư phạm thường xuyên Phương pháp và các hình thức rèn luyện nghiệp vụ của giảng viên chưa đa dạng, phong phú Phương pháp thuyết trình vẫn chiếm ưu thế, các phương pháp: làm mẫu - tái tạo; tạo tình huống có vấn đề; trực quan… chưa được giảng viên chủ động thực hiện
1.2.2.4 Giáo trình và tài liệu tham khảo về dạy đọc hiểu văn bản
Sinh viên khoa Ngữ văn, trường ĐHTB hiện nay có rất ít sách và tài liệu tham khảo về đọc hiểu văn bản và dạy đọc hiểu văn bản để tham khảo, học tập
12.2.5 Các yếu tố khác
Phần lớn sinh viên trúng tuyển có hạng học lực trung bình, nhiều sinh viên là người dân tộc thiểu số nên năng lực ngôn ngữ còn hạn chế Một bộ phận giảng viên chưa thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, ít cập nhật những kiến thức mới cũng như phương pháp dạy học hiện đại để tạo hứng thú học tập cho SV
Tiểu kết chương 1:
Với vai trò là chương cơ sở khoa học cho toàn bộ đề tài, ở chương này, chúng tôi tổng hợp các vấn đề lí thuyết để làm cơ sở soi chiếu những tồn tại, hạn chế về năng lực dạy đọc hiểu văn bản của sinh viên
Cơ sở lí thuyết bao gồm: Lí luận về văn bản văn học; Yêu cầu đọc hiểu văn bản văn học; Yêu cầu dạy đọc hiểu văn bản văn học; Mô hình đào tạo giáo viên và chuẩn đầu ra của SV sư phạm Ngữ văn; Vấn đề đọc hiểu văn bản văn học của SV dân tộc thiểu số
Để có cơ sở đề xuất các biện pháp phát triển NL dạy học ĐHVB cho SV trong Khoa, chúng tôi đã tiến hành khảo sát năng lực dạy ĐHVB của SV Kết quả khảo sát cho thấy: NL dạy ĐHVB của SV còn nhiều hạn chế Nguyên nhân của thực trạng trên là do: CTĐT; vấn đề rèn luyện NVSP thường xuyên; vấn đề kiểm tra đánh giá SV; giáo trình
và tài liệu tham khảo về đọc hiểu, dạy học ĐHVB
Trang 12CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Việc đề xuất các giải pháp phát triển NL dạy ĐHVB cho SV luôn
được chúng tôi dựa trên những nguyên tắc: Đảm bảo tính hệ thống; đảm bảo tính kế thừa; đảm bảo tính thực tiễn
2.1 Những giải pháp cơ bản
2.1.1 Đổi mới chương trình đào tạo theo định hướng coi trọng phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên
2.1.1.1 Cấu trúc lại chương trình khung
Chương trình khung nên cấu trúc lại như sau:
1 Kiến thức giáo dục đại cương
2 Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
2.1 Kiến thức cơ sở của ngành
2.2 Kiến thức chuyên ngành
3 Nghiệp vụ sư phạm và thực tập chuyên môn
4 Khóa luận tốt nghiệp
2.1.1.2 Điều chỉnh số tín chỉ ở các khối kiến thức
a Giảm tổng số tín chỉ phải tích lũy và nhân đôi số tiết bài tập - thực hành
Trên cơ sở Khung trình độ quốc gia Việt Nam đã được phê chuẩn
và tham khảo CTĐT của một số CSĐT, đồng thời căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Khoa, chúng tôi đề xuất giảm tổng số TC bắt buộc tích lũy xuống 135 để đảm bảo tính đồng bộ giữa các CSĐT trong cả nước Việc giảm tổng số tín chỉ sẽ không ảnh hưởng đến tổng thời gian lên lớp của SV bởi lẽ số tiết thực hành và bài tập sẽ được nhân hệ số 2 Việc cắt giảm số tiết cần phải được nghiên cứu kĩ càng, phải có cơ
sở khoa học, đặc biệt phải bám sát yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn chương trình đào tạo hiện hành chúng tôi thấy rằng số HP có nhiều TC (từ 3 đến 5 TC) bao gồm cả HP bắt buộc và HP tự chọn chiếm tỉ lệ tương đôi cao so với các chương trình đào tạo của các cơ sở khác Vì vậy, việc giảm số TC nên hướng tới các HP này
b Tăng kiến thức nghiệp vụ sư phạm và thực tập chuyên môn
Thực tế hiện nay, thời lượng của khối kiến thức NVSP (bao gồm cả
các bộ môn cơ sở như: Tâm lí học, Giáo dục học, Quản lí hành chính Nhà nước, kiến tập, thực tập sư phạm và rèn luyện NVSP thường xuyên