Đứng trước tình hình cấp thiết đó, học viên xin lựa chọn đề tài: “Xây dựng tiêu chí và nội dung báo cáo ĐTM trong hoạt động khai thác khoáng sản rắn đáy biển” nhằm xây dựng quy định, hướ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*****
TRẦN MẠNH CƯỜNG
XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN RẮN TỪ ĐÁY BIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*****
TRẦN MẠNH CƯỜNG
XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN RẮN TỪ ĐÁY BIỂN
Chuyên ngành: Khoa học Môi Trường
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌCNgười hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thành Long
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Mạnh Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của các nhà khoa học, của các
cơ quan, tổ chức, nhân dân và các địa phương
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn
khoa học TS Nguyễn Thành Long đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
trong khoa Môi trường, trường Đại Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà
Nội, Trung tâm Điều tra Tài nguyên - môi trường biển… đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất Song do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô
và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Mạnh Cường
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ CÁC BẢN ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 3
1.1 TÌNH HÌNH KTKSRĐB TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 3
1.1.1 Tình hình KTKSRĐB trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình KTKSRĐB ở Việt Nam 6
1.2 CÔNG TÁC LẬP BÁO CÁO ĐTM LIÊN QUAN TỚI KTKSRĐB Ở VIỆT NAM 9
1.2.1 Khái niệm về ĐTM 9
1.2.2 Mục tiêu, ý nghĩa của ĐTM 10
1.2.3 Thực trạng tình hình lập ĐTM ở Việt Nam 12
CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.3.1 Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu, kế thừa các nghiên cứu trước đây 15
2.3.2 Phương pháp chuyên gia 19
2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát 20
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 XÁC ĐỊNH CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KTKSRĐB 21
Trang 63.1.1 Nhóm đối tượng môi trường tự nhiên 21 3.1.2 Nhóm đối tượng tài nguyên 26 3.1.3 Nhóm đối tượng kinh tế - xã hội 31
3.2 CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ TRONG XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐTM KTKSRĐB 35
3.2.1 Cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý trong xây dựng bộ tiêu chí 35 3.2.2 Cơ sở xây dựng hướng dẫn các nội dung chính của báo cáo ĐTM cho việc KTKSRĐB 42
3.3 XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ CỦA BÁO CÁO ĐTM 42 3.4 HƯỚNG DẤN NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO CÁO ĐTM CHO HOẠT ĐỘNG KTKSRĐB 49 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Tải lượng ô nhiễm do đốt nhiên liệu với sản lượng khai thác 450.000
m3/năm của mỏ cát san lấp tại biển Cần Giờ 22Bảng 3.2 Ví dụ minh họa về chất lượng nước khu vực tàu hút cát do khai thác vùng
A, khu Tây luồng Nam Triệu - Hải Phòng 24Bảng 3.3 Bộ tiêu chí phục vụ cho công tác ĐTM các dự án KTKSRĐB 47Bảng 3.4 Danh mục một số tác động đến môi trường của hoạt động KTKSRĐB 53Bảng 3.5 Ma trận một số tác động môi trường đơn giản của hoạt động KTKSRĐB 58
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ CÁC BẢN ĐỒ
Hình 1.1 Ví dụ về nhu cầu sử dụng cát cho các công trình xây dựng [15] 8
Hình 3.1 Phạm vi ảnh hưởng của sóng sau khu vực khai thác 26
Hình 3.2 Tàu và quy trình khai thác cát 28
Hình 3.3 Khai thác KTKSRĐB làm VLXD 32
Hình 3.4 Sạt lở bờ gây mất quỹ đất và ảnh hưởng đến sự an toàn của người dân do hoạt động khai thác KTKSRĐB làm VLXD 32
Hình 3.5 Nguyên lý xác định độ cao trong kỹ thuật đo RTK 62
Hình 3.6 Kỹ thuật đo sâu hậu xử lý 63
Hình 3.7 Nguyên lý xác định độ sâu trong kỹ thuật đo sâu hậu xử lý 64
Trang 10MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm tiến hành điều tra địa chất khoáng sản biển đã thu được nhiều kết quả khả quan Theo kết quả điều tra địa chất khoáng sản biển đến 100m nước ở các tỷ lệ 1:500.000, 1:100.000, vùng biển Việt Nam rất có triển vọng về khoáng sản rắn đáy biển bao gồm hàng trăm tỷ m3 VLXD các loại và hàng trăm triệu tấn sa khoáng [13]
Do điều kiện phân bố các loại hình khoáng sản rắn đáy biển này chủ yếu ở các vùng biển nước nông, dễ khai thác, nên rất nhiều doanh nghiệp muốn khai thác
để sử dụng và xuất khẩu Điển hình nhất là vùng biển Sóc Trăng, năm 2003 công ty Rohde Nielse A/S đề nghị thực hiện dự án hợp tác thăm dò và khai thác cát biển tại tỉnh Sóc Trăng Trên cơ sở đề xuất của công ty này và của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại công văn số 1331/VPCP-QHQT ngày 23 tháng 3 năm 2004 cần “khẩn trương hoàn tất việc thăm dò, đánh giá tiềm năng tài nguyên khoáng sản vùng ven biển Sóc Trăng để có căn cứ cho các doanh nghiệp lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, cũng là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định các dự án đầu tư vào khu vực này” Kết quả điều tra đã xác định vùng biển Sóc Trăng rất có triển vọng về VLXD với tổng tài nguyên dự báo lên đến gần 13,9 tỷ m3 Trong các năm 2009 đến nay, có rất nhiều công ty đang chờ Sóc Trăng hoàn thiện quy hoạch sử dụng khoáng sản biển
để xin giấy phép thăm dò và khai thác
Tuy nhiên, xét dưới góc độ quản lý nhà nước để cấp phép cho KTKSRĐB, các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương và các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khan về cơ sở pháp lý Trong số đó, vẫn chưa có các văn bản quan trọng
quy định cụ thể về việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án KTKSRĐB
Đứng trước tình hình cấp thiết đó, học viên xin lựa chọn đề tài: “Xây dựng tiêu chí và nội dung báo cáo ĐTM trong hoạt động khai thác khoáng sản rắn đáy biển” nhằm xây dựng quy định, hướng dẫn thành lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường đối với hoạt động KTKSRĐB
Trang 11Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương chính là:
MỞ ĐẨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 12dụ trên thềm lục địa Việt Nam có các đới đường bờ cổ tập trung sa khoáng phân bố
ở các độ sâu: 30m, 60m, 100m, 200m, 400m, 700m, 1500m, 2500m Vật liệu xây dựng trên đáy biển chủ yếu là cát Cát có nguồn gốc tái trầm tích do sóng trong quá trình biển tiến Flandrian Độ chọn lọc rất tốt, hàm lượng thạch anh dao động từ 98 – 100% Vật liệu cát thủy tinh phân bố trên các đê cát ven bờ và cồn cát trắng tuổi Holocen sớm - giữa Cát có độ chọn lọc và mài tròn rất tốt, hàm lượng thạch anh dao động từ 98 – 100% Khoáng sản rắn có nguồn gốc hóa học chủ yếu được kết tủa
từ nước biển dưới dạng vật liệu keo (Fe+3
, Mn, Al, SiO2, P2O5) và dung dịch thật (CaCO3, CaMg(CO3)2 do phân dị hóa học phụ thuộc vào độ pH của nước biển Khoáng sản rắn có nguồn gốc núi lửa và nhiệt dịch như Mn, W, Mo, Au, Hg, Sb, Bi, được thành tạo liên quan đến đới tách giãn đáy đại dương, các đứt gãy và khe nứt xuyên cắt vỏ đại dương và sống núi giữa đại dương Khoáng sản nổi tiếng trên đáy đại dương hiện đại là kết hạch Mangan (module) [5]
Trên thế giới, hoạt động khai thác khoáng sản biển diễn ra từ đầu thế kỷ XX nhưng đến những năm 70 của thế kỷ XX mới thực sự phát triển mạnh mẽ cả về quy
mô và công nghệ khai thác [5]
Năm 1991 chính phủ Hoa Kỳ cấp phép cho công ty WestGold thăm dò khai thác quặng vàng trên diện tích 59.510ha trong vùng Norton Sound ngoài khơi thuộc bang Alaska, phạm vi khai thác trong khoảng 5-22km ngoài khơi Trữ lượng quặng vàng sa khoáng tại khu vực khai thác khoảng 530,000 troy ounce (1 troy ounces =
Trang 1331,1034768g) Hoạt động thăm dò của dự án mất 3 năm và thời gian khai thác của
dự án diễn ra trong 14 năm [5]
Hàn Quốc, từ năm 1994 đã được cấp 150.000km2 để khai thác mỏ sunfua đa kim thuộc đới đứt gãy Clarion-Clipperton, năm 2002 đã được điều tra cơ bản được 75.000km2 Năm 2007, bằng việc lấy mẫu phân tích kết hạch và số liệu phân tích môi trường đã thành lập bản đồ môi trường cơ bản cho 40.000km2 diện tích vùng
mỏ ưu tiên Trong năm 2007, Hàn Quốc cũng đã tổ chức hai đoàn khảo sát đo vẽ đáy biển với mức độ chi tiết cao và nghiên cứu các mẫu trầm tích để lựa chọn 20.000km2 để ưu tiên khai thác [5]
Cùng với các quốc gia có tiềm lực khoa học kỹ thuật về khai thác biển sâu, một số công ty chuyên về khai thác quặng trên đất liền cũng đầu tư KTKSRĐB De Beer, công ty khai thác kim cương lớn nhất thế giới có trụ sở tại Nam Phi là một trong những công ty đầu tiên chuyển hướng từ khai thác các mỏ trên đất liền sang khai thác dưới đáy đại dương Sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất của Đức, De Beers đang thực hiện một dự án khai thác kim cương trong trầm tích ngoài khơi Namibia [5]
Vào năm 1970, các nước tư bản đã khai thác 55 triệu tấn cát và cuội, trong
đó Anh khai thác 13,6 triệu tấn, Nhật Bản – 10 triệu tấn, Đan Mạch – 9,5 triệu tấn, một lượng đáng kể trầm tích và đá cacbonat – 18,8 triệu tấn, trong đó 18 triệu tấn ở
Mỹ Trong năm 1972, sản lượng khai thác cát và cuội sỏi từ các mỏ thềm lục địa ven bờ ở Anh là 106 triệu tấn Trên thềm lục địa Mỹ, hàng năm đã lấy lên khoảng
80 triệu tấn cát và cuội sỏi [5]
Hiện nay, người ra đã thăm dò các mỏ KSRĐB liên quan tới VLXD đến độ sâu trên 50m và cách xa bờ biển chừng 500km Do nhu cầu vật liệu ngày càng tăng, nên các nước ngày càng đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò các mỏ KSRĐB làm VLXD, nhiều mỏ đã được phát hiện và khai thác Thí dụ, ở Thủy Điển người ta đã thực hiện kế hoạch 15 năm lập bản đồ địa chất thềm lục địa và phát hiện các mỏ cát cuội với trữ lượng khoảng 260 triệu m3, còn đảo Gronlen – hơn 6 tỉ m3 cát và cuội
Trang 14Trong số KSRĐB làm VLXD, phổ biến nhất vẫn là cát ven biển Chúng cấu thành các doi cát, băi cát biển, sườn bờ ngầm, nhiều vùng cát ở đáy biển Chúng thường giàu thạch anh, ít tạp chất, nhưng thuộc loại cát mặn, nên việc sử dụng chúng vẫn còn nhiều hạn chế và mang tính chất địa phương Chỉ nên tiến hành khai thác VLXD ở biển trong trường hợp có nhu cầu cấp thiết và phải có kế hoạch bảo
vệ bờ biển chống xói lở Trên thực tế, hình thức sử dụng bãi cát biển tốt nhất là vào mục đích du lịch – giá trị thương mại thực sự cao hơn nhiều lần so với khai thác cát làm VLXD Cuội sỏi, do kích thước lớn nên hãn hữu mới được mang ra biển Chúng thường tụ tập ven bờ, gần nguồn cung cấp Một trong những vùng khai thác cuội sỏi nhiều nhất là vùng biển Bantich và Biển Bắc (dùng cho xây dựng và san nền) Ở Anh, sản lượng khai thác biển hàng năm tăng khoảng 20 -25%, tình hình tương tự cũng thấy ở các nước công nghiệp phát triển còn lại như Tây Âu, Nhật
Bản, Mỹ do nhu cầu tăng trưởng kinh tế
Trầm tích vỏ sinh vật chứa vôi (canxi) đã và đang được khai thác ở nhiều nơi trên thế giới để làm VLXD, đường xá và nung vôi Thí dụ, vỏ sò đã được khai thác
ở vịnh San Francisco để làm xi măng, được khai thác ở vùng Galveston thuộc vịnh Mehico để lấy canxi, sau đó cho phản ứng với nước biển để tách Magie Vỏ sò ở
Mỹ được khai thác từ năm 1910 Từ năm 1940 – 1965 thì chỉ riêng các công ty ở bang Texac đã khai thác 45 triệu tấn vỏ sò phục vụ các mục đích công nghiệp khác nhau Ở Tây Nam Island, người ta đã phát hiện các vỉa vỏ nhuyễn thể kéo dài 18 – 20km, rộng 700 – 1.000m, nằm sâu 40 -45m Năm 1967, người ta đã khai thác ở đây 252.000 tấn vỏ sò, năm 1968 – 273.000 tấn và năm 1969 – 252.000 tấn để làm
xi măng [5]
Nạo vét vỏ sò ốc dưới đáy biển sẽ ảnh hưởng đến nơi sinh cư của nhiều loại sinh vật đáy và tác động xấu đến năng suất sinh học dưới đáy biển Các mâu thuẫn lợi ích cũng có thể nảy sinh khi tiến hành đồng thời hoạt động đánh cá và nạo vét vỏ
sò ốc Với những hối thúc của thị trường đồ lưu niệm trên thế giới và của sự ra đời phương pháp lặn người nhái, thì việc thu lượm vỏ sò ốc và san hô đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của dân các vùng đảo Thái Bình Dương và các ngư dân
Trang 15ven biển nhiều nước Không có sự ngạc nhiên, các loài hiếm và hấp dẫn đã giảm
dần do sự thu lượm như vậy
Người ta cũng phát hiện và khai thác cát thủy tinh ở ven biển và các đảo, tuy nhiên không phổ biến Cát thủy tinh ở biển thường có chất lượng tốt, giàu thạch anh, đều hạt và ít tạp Ven biển Azop có mỏ cát thủy tinh lớn tuổi Pliocen, hàng
năm khai thác đến 80.000 tấn cát thạch anh
Ngoài ra trong số KSRĐB, người ta còn khai thác một loại bùn giàu silicat
để sản xuất VLXD Loại bùn sét này tìm thấy ở bờ Đông nước Mỹ, trong vịnh Keip-kod và Bezard ở độ sâu 27m với diện tích 40km2 và độ sâu 16-160m Trong thành phần của bùn sét có đến 90% silicat, trong đó illit chiếm 50% Các khoáng vật lục nguyên có thạch anh, amphibon, mảnh vỏ sò ốc và một ít vật chất hữu cơ [5]
1.1.2 Tình hình KTKSRĐB ở Việt Nam
1.1.2.1 Tiềm năng khoáng sản rắn đáy biển ở Việt Nam
Khoáng sản rắn ở biển Việt Nam phân bố trong trầm tích Đệ tứ, trong các đá gốc ven bờ thềm lục địa và biển sâu Trong trầm tích Đệ tứ đã phát hiện các tích tụ công nghiệp và một loạt các khoáng vật quặng, phi quặng (sa khoáng), phôtphorit
và các biểu hiện của glauconit, pirit, thạch cao, kết hạch sắt – mangan,
Từ năm 1991 đến nay, Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển (trước đấy là Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển) đã thực hiện nhiều đề án, dự
án điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ từ 0-100m nước, kết
quả cho thấy tiềm năng KSRĐB làm VLXD là rất lớn
Theo kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên khoáng sản của Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển từ năm 1991 đến nay trên vùng biển 0-30m nước ở
tỷ lệ 1/500.000 và vùng biển 0-30m nước một số khu vực (Sóc Trăng, Nam Trung
Bộ, Phú Quốc-Hà Tiên, Hải Phòng-Quảng Ninh) ở tỷ lệ 1/100.000 cho thấy tiềm năng KSRĐB tại Việt Nam như sau:
a Triển vọng sa khoáng
Trang 16Kết quả điều tra ở tỷ lệ 1:500.000 vùng biển ven bờ (0-30m nước) đã xác định được 7 vùng có triển vọng nhất (loại A) và 18 vùng có triển vọng (loại B) về khoáng sản kim loại (sa khoáng Ti-Zr, vàng, thiếc đi kèm) [1]
Bên cạnh đó, theo kết quả điều tra tỷ lệ 1:100.000, các sa khoáng rất có triển vọng ở khu vực biển Nam Trung Bộ, cụ thể đã xác định được 09 vùng triển vọng khoáng sản kim loại (loại A) với tổng tài nguyên dự báo là 18,6 triệu tấn quặng tổng (Ti-Zr, có vàng thiếc đi kèm) Các vùng này tập trung chủ yếu ở các khu vực biển Bình Thuận, bán đảo Hòn Gốm [11]
Kết quả điều tra ở tỷ lệ 1:500.00 vùng biển từ 30-100m nước đã xác định được 6 khu vực triển vọng sa khoáng với tổng tài nguyên dự báo là 51 triệu tấn [13]
b Triển vọng VLXD
- Kết quả nghiên cứu vùng biển 0-30m nước, đã khoanh định được 18 vùng
có triển vọng VLXD như: Bắc Côn Đảo, Đông Bắc Hòn Khoai, Biển Bình Thuận, Nam Bãi Cạn Sầm Sơn, Tây Nam máng Long Châu,… chủ yếu là tích tụ cát sạn hiện đại, đất sét dẻo mịn sông cổ [1]… Theo điều tra đánh giá, vùng biển tỉnh Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát hiện được 8 diện tích với tổng tài nguyên dự báo là 36,225 tỷ m3, vùng biển Sóc Trăng bước đầu xác định 7 vùng triển vọng với tổng tài nguyên dự báo 8,15 tỷ m3, vùng biển Hải Phòng - Quảng Ninh và Bạch Long Vĩ đã phát hiện được 7 diện tích triển vọng KSRĐB làm VLXD với tổng tài nguyên dự báo khoảng 1,4 tỷ m3, vùng biển Phú Quốc- Hà Tiên đã xác định được 3 diện tích có triển vọng KSRĐB làm VLXD với tổng tài nguyên dự báo gần 840 triệu m3 [12]
- Vùng biển 30-100m nước đã xác định được 10 vùng có triển vọng VLXD ở phía Tây đảo Bạch Long Vĩ, Đông Nam mũi Né,…[13]
Như vậy, có thể khẳng định vùng biển Việt Nam có tiềm năng về khoáng sản rắn đáy biển với trữ lượng dự kiến rất lớn
Trang 171.1.2.2 Nhu cầu sử dụng KSRĐB làm VLXD ở Việt Nam
Số liệu thống kê của Bộ Xây dựng về mức độ tiêu thụ cát xây dựng tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 đến nay chỉ ra như sau: năm 2006 tiêu thụ 73 triệu m3, năm 2007 tiêu thụ 78,3 triệu m3, năm 2008 tiêu thụ 85,5 triệu m3 Dự báo nhu cầu năm
2020 từ 182 đến 197 triệu m3
[15]
Theo số liệu tính toán từ nay đến năm 2020, để phát triển, nâng cấp mở rộng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị, dân cư tỉnh Đồng Tháp có nhu cầu cát san lấp
dự kiến khoảng 70 triệu m3
Chỉ tính riêng khối lượng cát xây dựng phục vụ các công trình dự án do PMU Mỹ Thuận thực hiện trong các năm 2005 - 2008 là khoảng 17 triệu m3 Dự án đường cao tốc Sài Gòn - Trung Lương đã sử dụng 1,2 triệu m3
1m 3 bê tông cần hai
Hình 1.1 Ví dụ về nhu cầu sử dụng cát cho các công trình xây dựng [15]
Tình trạng khan hiếm cát xây dựng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long càng trở lên trầm trọng hơn, kể từ khi phía Campuchia – nơi cung cấp chủ yếu các
0,5m 3
Trang 18loại cát có modul lớn cho cả vùng ngừng khai thác Trong khi đó theo kế hoạch của
Bộ Giao thông - Vận tải sắp tới sẽ có 53 dự án xây dựng cầu, đường có quy mô lớn
do Bộ Giao thông - Vận tải làm chủ đầu tư đang được triển khai tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Như vậy có thể thấy, nhu cầu về KTKSRĐB làm VLXD ở Việt Nam ngày càng tăng cao để phục vụ yêu cầu về xây dựng của các khu đô thị, khu công nghiệp, công trình giao thông, cảng biển và các công trình dân sinh
1.1.2.3 Hiện trạng KTKSRĐB ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay việc KTKSRĐB làm VLXD từ biển chưa được cấp phép chính thức từ các cơ quan quản lý, ngoại trừ một số dự án khai thác cát ven biển dưới hình thức nạo vét luồng lạch cửa sông như dự án nạo vét khai thông cửa
Lở sông Vệ của Công ty cổ phần Saphia quốc tế - chi nhánh tại Quảng Ngãi, dự tính 30.000 tấn cát đầu tiên từ việc nạo hút cửa sông này sẽ được xuất khẩu sang Singapore theo hợp đồng 20 triệu mét khối được thực hiện trong ba năm Dự án khai thác cát san lấp phục vụ khu lấn biển Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Khu vực khai thác là mỏ cát cách bờ 4km nằm ở độ sâu trung bình 4,7m Sản lượng khai thác dự kiến khoảng 5 triệu mét khối cát được khai thác bằng tàu hút và bơm theo đường ống về bãi san lấp cách đó 4km
Ngoài ra một số địa phương ven biển có nguồn tài nguyên KSRĐB cũng có chủ trương xin khai thác làm VLXD phục vụ phát triển kinh tế, tuy nhiên do còn vướng mắc về thủ tục hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với các dự án khai thác khoáng sản biển nên các dự án này chưa nhận được sự chấp thuận của các
cơ quan quản lý
1.2 CÔNG TÁC LẬP BÁO CÁO ĐTM LIÊN QUAN TỚI KTKSRĐB Ở
VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm về ĐTM
Trong Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, ĐTM được định nghĩa như
Trang 19sau: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai
1 ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trường của các chính sách, chương trình, hoạt động và các dự án Nó góp phần xem xét để đưa ra quyết định, có tính đến ảnh hưởng môi trường liên quan tới các khu vực công và tư nhân
2 ĐTM tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người ta quyết định về tính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môi trường để ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không
3 Đối với các chương trình, chính sách, hoạt động, dự án được chấp nhận thực hiện thì ĐTM tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trường
4 ĐTM tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người ra quyết định Công chúng có thể tham gia vào quá trình này trong các cuộ họp công khai hoặc trong việc hòa giải giữa các bên (thường là bên gây tác động và bên chưa tác động)
Trang 205 Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển được công khai để xem xét một cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: bên đề xuất dự án, Chính phủ và cộng đồng Điều đó góp phần lựa chọn được dự án tốt hơn để thực hiện
6 Những dự án mà về cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xu hướng tự loại trừ, không được thực hiện ĐTM và tất nhiên là không cần cả đến sự chất vấn của công chúng
7 Thông qua ĐTM, nhiều dự án được chấp nhận nhưng phải thực hiện những điều kiện nhất định, chẳng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình đo đạc giám sát, lập báo cáo hàng năm hoặc phải có phân tích sau dự án và kiểm toán độc lập
8 Trong ĐTM phải xét cả đến các khả năng thay thế, chẳng hạn như công nghệ, địa điểm đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận
9 ĐTM được coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt hơn và trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế
10 Trong nhiều trường hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả phát thải khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy – nghĩa
là chấp nhận phát triển, tăng trưởng kinh tế
- ĐTM có thể tiết kiệm được thời gian và tiền của trong thời hạn phát triển lâu dài Qua các nhân tố môi trường tổng hợp được xem xét đến trong quá trình ra quyết định ở giai đoạn quy hoạch mà các cơ sở và Chính phủ tránh được những chi phí không cần thiết và đôi khi tránh được những hoạt động sai lầm, phải khắc phục trong tương lai
Trang 21- ĐTM giúp Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn
Các đóng góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư, hoạt động có thể nâng
cao mối liên hệ cộng đồng và đảm bảo hiệu quả đầu tư Thực hiện công tác ĐTM
tốt có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng trong tương lai Thông qua các
kiến nghị của ĐTM, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn và giảm được sự đe
dọa của suy thoái môi trường đến sức khỏe con người và hệ sinh thái
1.2.3 Thực trạng tình hình lập ĐTM ở Việt Nam
Có thể chia quá trình nghiên cứu và thực hiện công tác ĐTM ở Việt Nam
thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1993 và giai đoạn sau năm 1993
Giai đoạn trước năm 1993
Năm 1981, Chương trình Nghiên cứu Môi trường Quốc gia đã tổ chức khoá
tập huấn những phương pháp luận đầu tiên cho việc áp dụng ĐTM ở Việt Nam với
sự tham gia của trên 200 nhà khoa học từ các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên
cứu [2] Trong giai đoạn này, các trường đại học, các viện nghiên cứu đã thực hiện
một số nghiên cứu xem xét, đánh giá ban đầu về môi trường hoặc theo hướng đánh
giá tác động môi trường đối với một số dự án lớn Tuy nhiên tại thời điểm đó quá
trình quy hoạch phát triển hoàn toàn không có những quy định pháp luật bắt buộc
liên quan đến ĐTM; cũng như những phương pháp tiến hành ĐTM chưa được biết
đến rộng rãi tại Việt Nam nên những nghiên cứu trên đã thực hiện không theo một
chuẩn mực nhất định, và tách biệt hoàn toàn với quá trình quy hoạch cũng như quá
trình xây dựng dự án
Giai đoạn sau năm 1993
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ra đời của Luật Bảo vệ Môi trường năm
1993 và Nghị định số 175/CP của Chính phủ ngày 18 tháng 10 năm 1994 về hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường ĐTM lần đầu tiên được quy định tại điều 17 và
18 của Luật Bảo vệ Môi trường Theo đó, tất cả các dự án trong nước và đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam đều phải thực hiện ĐTM Ngoài ra, các dự án đã đi vào hoạt động
cũng cần lập báo cáo và đánh giá tác động dưới dạng “kiểm toán Môi Trường” theo
Comment [S1]: Ghi tài liệu tham khảo theo số
hoặc tên tác giả phải thống nhất trong toàn bộ báo cáo
Trang 22quy định của thông tư 1420/TT/MTg-ĐKHCNMT ngày 26 tháng 11 năm 1994 về việc hướng dẫn đánh giá tác động của Môi trường đối với cơ sở đang hoạt động
Đến năm 2005, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTM ngày càng đa dạng và chi tiết hơn Luật BVMT sửa đổi ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã
dành 1 chương (chương III: Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động của Môi trường và cam kết bảo vệ Môi trường, gồm 6 điều từ Điều 18 đến Điều 23)
nhằm quy định về công tác đánh giá tác động môi trường Theo thống kê ban đầu,
từ năm 2006 đến nay, có hơn 20 văn bản pháp luật liên quan đến ĐTM đã được ban hành Tính từ khi có quy định về ĐTM, các dự án ở tất cả các lĩnh vực đều đã tiến hành ĐTM; điển hình có thể kể đến một số lĩnh vực như xây dựng khu công nghiệp, khai thác khoáng sản trong lục địa, cảng biển, nuôi trồng thủy sản,… Đến ngày 23 tháng 6 năm 2014, luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội thông qua Luật bao gồm một số điều sửa đổi, bổ sung của Luật BVMT ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 Trong đó, công tác đánh giá tác động môi trường được
quy định ở mục 3, chương II: Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường,
gồm 11 điều, từ điều 18 đến điều 28
Như vậy, đối với các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường nói chung đã có các quy định pháp luật về việc ĐTM Đặc biệt, hiện đã có một số
hướng dẫn chi tiết về việc ĐTM chuyên ngành như: “Hướng dẫn lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường cho các dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội” của Cục Môi trường ban hành năm 2000, “Đánh giá tác động môi trường lâm nghiệp” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành năm 2006, “Hướng dẫn Đánh giá tác động môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển” của Bộ Thủy sản ban hành năm 2007 Riêng đối với lĩnh vực dầu khí, đã có Quy chế “Bảo vệ môi trường trong việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan” (1998), “Hướng dẫn quan trắc và phân tích môi trường biển khu vực lân cận các công trình dầu khí ngoài khơi Việt Nam”
(2011) của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Đặc biệt là Thông tư
Trang 2327/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá
tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Trên thực tế, đối với các hoạt động khai thác tài nguyên biển ở Việt Nam hiện nay, cụ thể ở đây là KTKSRĐB (liên quan tới sa khoáng và vật liệu xây dựng) vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào hướng dẫn cụ thể việc lập đánh giá tác động môi trường cho các dự án KTKSRĐB Trong khi đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên KSRĐB có những đặc thù riêng như quá trình phát tán các chất thải trong khi khai thác xảy ra trong không gian rộng bởi môi trường nước biển cùng chế độ dòng chảy phức tạp,…
Mặt khác, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển đòi hỏi phải đưa các khu vực đã và sẽ phát hiện có triển vọng khoáng sản dưới đáy biển
là rất cấp bách Giá trị kinh tế của việc khai thác sẽ đáp ứng một phần phát triển kinh tế của mỗi địa phương, mỗi khu vực Điều này đòi hỏi các cấp quản lý nhà nước phải sớm đưa ra các văn bản pháp lý quy định về cấp phép thăm dò, khai thác cũng như ĐTM đối với các quá trình KTKSRĐB
Trang 24CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này chủ yếu đề cập tới các vấn đề liên quan đến ĐTM của các hoạt động KTKSRĐB vùng ven biển tại Việt Nam và các văn bản pháp lý có liên quan
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Các khoáng sản đáy biển không gắn kết: gồm sa khoáng và VLXD
- Hoạt động khai thác cát ở cửa Thuận An - Thừa Thiên Huế
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu, kế thừa các nghiên cứu trước đây
Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các công trình nghiên cứu về ĐTM liên quan đến các dự án KTKSRĐB Đây là lĩnh vực hoàn toàn mới
mẻ đối với Việt Nam, do đó học viên đã thu thập, tổng hợp các tài liệu của nước ngoài Bên cạnh đó, học viên cũng thu thập một khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến công tác ĐTM do các đơn vị, tổ chức của Việt Nam thực hiện Cụ thể các tài liệu thu thập như sau:
a Nhóm tài liệu về hiện trạng khai thác, công nghệ khai thác, các thông tin chung về KTKSRĐB của các nước trên thế giới
Đây là nhóm tài liệu rất phong phú và đa dạng, được các tổ chức có uy tín của các nước xuất bản như Hiệp hội sản xuất VLXD từ đáy biển của Vương quốc Anh (British Marine Aggregate Producers Association – BMAPA), Văn phòng quản
lý khoáng sản (Mineral Management)- Bộ Nội vụ Hoa Kỳ, các chương trình nghiên cứu về tác động môi trường của cộng đồng Châu Âu cũng như nhiều nước khác Trong tài liệu thu thập được, học viên đặc biệt quan tâm đến các tài liệu sau:
- Aggregates from the sea (khoáng sản VLXD đáy biển) của BMAPA [25]
Trang 25Tài liệu đã giới thiệu cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của công nghệ khai thác khoáng sản VLXD từ đáy biển, cũng như dự đoán được mức độ phát triển của ngành công nghệ này trong tương lai Tài liệu cũng đưa ra các thông tin liên quan đến khai thác loại khoáng sản này tại các nước châu Âu như Anh, xứ Wales, Pháp, Bỉ,…
- Seabed Mining: Atechnical review (tổng quan về công nghệ khai thác khoáng sản đáy biển) do Greenpeace Research Laboratories Technical xuất bản năm
2000 [18] Tài liệu đã giới thiệu các loại hình khoáng sản đáy biển, sự hình thành, tích tụ, thành phần của các khoáng sản, kỹ thuật khai thác và một số điểm lưu ý về vấn đề môi trường trong quá trình khai thác
- Marine sediment extraction in Baltic sea [24] (khai thác trầm tích đáy biển tại biển Baltic) do Hội đồng bảo vệ môi trường biển Baltic thực hiện, đã khái quát tiềm năng khoáng sản đáy biển của các quốc gia biển Baltic gồm Đan Mạch, Đức,
Ba Lan, Nga,… Đồng thời giới thiệu hoạt động khai thác các khoáng sản đáy biển của các quốc gia nói trên
Bên cạnh đó còn một loạt các tài liệu về KTKSRĐB do các nước thực hiện được thu thập, tổng hợp trong khuôn khổ Luận văn này
b Nhóm các tài liệu về quy định, quy trình, hướng dẫn ĐTM trong hoạt động KTKSRĐB của các nước
Các nước có KTKSRĐB rất quan tâm đến vấn đề môi trường trong hoạt động khai thác Do đó, các nước đã xây dựng hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn việc ĐTM đối với hoạt động khai thác này Các tài liệu cần phải kể đến gồm: Marine mining technologies and mitigation techniques – A detailed analysis with respect to the mining of specific offshore mineral commodities [28] (Công nghệ khai thác và giảm thiểu tác động trong khai thác khoáng sản rắn đáy biển) do Văn phòng quản lý khoáng sản (Mineral Management Service-MMS) – Bộ Nội vụ Hoa Kỳ xây dựng Báo cáo xây dựng công phu, hướng dẫn đánh giá chi tiết các đối tượng môi trường, ảnh hưởng của các đối tượng môi trường do hoạt động khai thác,
Trang 26các biện pháp giảm thiểu, giám sát môi trường đối với hoạt động khai thác
Guidelines on the impact of aggregate extraction on European marine sites [29] (hướng dẫn đánh giá các tác động môi trường do khai thác VLXD trên các vùng biển Châu Âu) do Postford Duvier Environment xây dựng, văn bản này hướng dẫn chi tiết việc đánh giá tác động do hoạt động khai thác khoáng sản biển tới các đối tượng môi trường
Marine aggregate extraction and biodiversity (Khai thác VLXD đáy biển và
đa dạng sinh học) do tác giả Susan Gubbay xây dựng năm 2003 [23] Tài liệu này
đã giới thiệu sơ bộ về công nghệ KTKSRĐB ở Vương quốc Anh, đặc điểm đa dạng sinh học biển, xu hướng phát triển của công nghệ KTKSRĐB và phần quan trọng nhất đó là xác định ảnh hưởng của hoạt động khai thác đối với đa dạng sinh học biển
c Nhóm các văn bản pháp lý về ĐTM của Việt Nam
- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014 của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Thông tư 27/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Hướng dẫn ĐTM nuôi trồng thủy sản ven biển do Bộ Thủy sản thực hiện năm 2007
- Hướng dẫn ĐTM do hoạt động khai thác thăm dò dầu và khí của Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam
Đây là nguồn tài liệu quan trọng để xây dựng quy trình và các nội dung chính của báo cáo ĐTM cho hoạt động KTKSRĐB
Trang 27d Nhóm các báo cáo ĐTM trong các hoạt động có liên quan đến khai thác khoáng sản tại Việt Nam
Học viên đã thu thập các báo cáo ĐTM của các dự án khai thác sa khoáng ven biển, các dự án nạo vét luồng lạch và tận thu sản phẩm làm VLXD, các dự án khai thác cát lòng sông, như:
- Báo cáo ĐTM “Dự án khai thác cát san lấp trên lòng sông Hậu đoạn thuộc
xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh và xã Phú Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”
- Báo cáo ĐTM “Dự án khai thác cát san lấp trên lòng sông Tiền đoạn thuộc
xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang”
- Báo cáo ĐTM Dự án “Hạng mục khai thác cát san lấp phục vụ dự án Khu
đô thị Du lịch lấn biển Cần Giờ”
- Báo cáo ĐTM Dự án “Khai thác chế biến ilmenite tại tỉnh Hà Tĩnh”
- Các báo cáo ĐTM do hoạt động thăm dò dầu khí và các hoạt động nuôi trồng thủy hải sản khác có liên quan đến nội dung môi trường biển
e Nhóm các tài liệu về điều tra cơ bản tài nguyên khoáng sản rắn đáy biển Việt Nam
Các dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên khoáng sản đáy biển là nguồn tài liệu học viên xem xét đến các đặc trưng về điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam, trên cơ sở đó lựa chọn các nội dung đánh giá phù hợp, đảm bảo tính khoa học
và khả thi Các dữ liệu đã thu thập gồm:
- Báo cáo tổng kết Đề án “Khảo sát, đánh giá tiềm năng tài nguyên, khoáng sản vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng, tỷ lệ 1:100.000” (2006-2009) [8]
- Báo cáo tổng kết Đề án “Điều tra địa chất – khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất biển ven bờ Việt Nam (0-30m nước) tỷ lệ 1:500.000” (1991-2000) [1] Đây là dự liệu về điều tra địa chất khoáng sản biển và tài nguyên môi trường đầu tiên được hoàn thành
Trang 28- Báo cáo tổng kết Đề án “Điều tra địa chất khoáng sản, địa chất môi trường
và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung Bộ (Tuy Hòa – Vũng Tàu) ở tỷ lệ 1:100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1:50.000” (2001-2005) [11]
- Báo cáo tổng kết Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam” [13]
- Báo cáo tổng kết Dự án thành phần “Điều tra, nghiên cứu, đánh giá và dự báo ô nhiễm môi trường các vùng biển Việt Nam” thuộc Dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên – môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô nhiễm tại các vùng biển; kiến nghị các giải pháp bảo vệ” phục vụ cho “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” [4]
- Báo cáo tổng kết Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường biển Phú Quốc từ 0-20m nước tỷ lệ 1:50.000” phục vụ cho đề án “Điều tra tổng thể xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” [12]
Các tài liệu nói trên được học viên thu thập, tổng hợp và đánh giá, đúc rút ra các nội dung chính phục vụ các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra trong khuôn khổ đề tài
2.3.2 Phương pháp chuyên gia
Mục đích của phương pháp chuyên gia là tham khảo ý kiến từ các đơn vị, cá nhân, các tổ chức tư vấn môi trường có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu môi trường biển, lập báo cáo ĐTM, thẩm định báo cáo ĐTM cho hoạt động khai thác tài nguyên, môi trường
Đây là phương pháp quan trọng để xây dựng luận văn này Trong đó, học viên đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật đang công tác tại Trung tâm Điều tra Tài nguyên – môi trường biển (Trung tâm có nhiều năm nghiên
Trang 29cứu, điều tra, khảo sát đối với lĩnh vực biển ở Việt Nam) Ngoài ra, luận văn còn nhận được sự đóng góp của các thầy cô trong bộ môn Quản lý Môi trường – Khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên – QGHN Ý kiến đóng góp của các chuyên gia đã góp phần không nhỏ giải quyết các nội dung nghiên cứu của Luận
văn
2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát
Tiến hành khảo sát thực địa các khu vực KTKSRĐB phục vụ việc xác định các đối tượng chịu tác động và đánh giá sơ bộ các tác động, mức độ ảnh hưởng trong quá trình khai thác Trên cơ sở đó, xác định các tiêu chí phục vụ đánh giá tác động môi trường trong hoạt động KTKSRĐB Đặc biệt, các kết quả điều tra khảo sát ngoài thực địa là tiền đề cho việc xây dựng các mô hình nhằm nghiên cứu sự
biến động địa hình đáy biển trong quá trình khai thác khoáng sản
Việc KTKSRĐB chưa được cấp phép khai thác ở Việt Nam Hoạt động khai thác hiện nay trên các vùng biển hầu như chưa có Vì thế, để có nguồn dữ liệu thực
tế, nhằm xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của hoạt động KTKSRĐB đối với môi trường biển, học viên đã tiến hành điều tra thực tế tại khu vực hút cát làm VLXD tại cửa Thuận An Tại khu vực khảo sát, tiến hành quan sát hiện trường, xác định được các nội dung sau:
- Công nghệ, thiết bị khai thác
- Quy trình khai thác
- Xác định các nguồn gây tác động tới môi trường
- Xác định đối tượng chịu tác động do các nguồn tác động gây ra
Đây là các tài liệu thực tế, có ý nghĩa trong việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến môi trường Tuy nhiên, đây chỉ là các hoạt động khai thác nhỏ lẻ, tập trung ở cửa sông ven biển và cũng mới chỉ điều tra khảo sát ở 1 khu vực nên số liệu thu thập được là hạn chế đối với việc xây dựng cơ sở khoa học cho báo cáo ĐTM
do hoạt động KTKSRĐB
Trang 30CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 XÁC ĐỊNH CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KTKSRĐB
3.1.1 Nhóm đối tượng môi trường tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên bao gồm chủ yếu là môi trường không khí, nước và trầm tích
3.1.1.1 Môi trường không khí
Chất lượng không khí có thể là một yếu tố quan trọng trong phân tích tác động môi trường, đặc biệt là trong các hoạt động gần bờ nơi mà các giới hạn của vùng ven bờ được áp dụng Việc KTKSRĐB sử dụng phần lớn các thiết bị cơ giới, máy móc lớn Các thiết bị này đều sử dụng nhiên liệu hoá thạch như xăng, dầu để vận hành Vì vậy, một tác động không thể tránh khỏi là việc gây ra ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu trong quá trình thi công khai thác các loại hình khoáng sản Trong đó, tuỳ thuộc vào phương pháp khai thác, quy mô khai thác và đặc điểm không gian của diện tích khai thác mà mức độ ảnh hưởng là nhiều hay ít
Về cơ bản, đốt nhiên liệu hoá thạch diễn ra theo sơ đồ phản ứng sau:
Khi quá trình cháy không hoàn toàn do thiếu oxy hay do khi cháy ngọn lửa
bị nhiệt độ giảm thấp, một số nguyên tử cacbon và hydro không được cấp đủ năng lượng để hình thành các gốc tự do và cho ra sản phẩm cuối cùng là CO2 và H2O, xảy ra sự ngưng trệ các phản ứng cháy ở những giai đoạn trung gian và dẫn đến
Trang 31các quá trình sau:
Phát thải các nguyên tử cacbon với oxy tạo thành CO;
Kết hợp các nguyên tử cacbon với hydro tạo thành các hydro nhẹ và nặng; Phát thải các hydrocacbon đã oxy hoá từng phần (andehit, axit)
Đồng thời với các khí thải là các hơi khói, nguyên nhân gây ra ô nhiễm do bụi
Ví dụ, theo tài liệu ĐTM của Dự án khai thác mỏ cát san lấp tại biển Cần Giờ, hệ số ô nhiễm không khí do đốt dầu và tải lượng ô nhiễm khi sản lượng khai thác 450.000 m3/năm được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Tải lượng ô nhiễm do đốt nhiên liệu với sản lượng khai thác 450.000
m 3 /năm của mỏ cát san lấp tại biển Cần Giờ
STT Các chất
ô nhiễm
%
Hệ số ô nhiễm (WHO-1993)
%
Lượng dầu tiêu thụ (lít/năm)
Hệ số (kg/lít)
Tải lượng ô nhiễm (kg/năm)
Như vậy, ta có thể thấy khi tiến hành khai thác cát tại khu vực này, hằng năm
sẽ thải một lượng không nhỏ bụi và khí thải vào môi trường không khí
Nhìn chung các dự án KTKSRĐB đều có tác động lên môi trường không khí
ở những mức độ khác nhau Nguồn gây ô nhiễm không khí liên quan đến đến chất thải bao gồm khí thải và bụi: bụi và khí thải có nguồn gốc từ các hoạt động lắp đặt thiết bị, vận chuyển máy móc, chạy máy phát điện, khai thác và tuyển quặng, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của công nhân, hoạt động giao thông vận tải phục vụ
dự án,… Các hoạt động này sẽ làm tăng lượng bụi cũng như các khí thải có hại
Trang 32(NOx, SO2, CO, anderhyt,…) vào không khí và gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra tiếng ồn còn phát sinh ra từ các thiết bị khai thác đặc biệt là khai thác bằng xáng cạp (tiếng ồn của xáng cạp đạt tới 82 - 87dBA và giảm dần trong bán kính 50m), vì vậy nếu khai thác ở những khu vực ven bờ đông dân cư, hoặc gần các khu bảo tồn thiên nhiên hay các khu dự trữ sinh quyển có thể gây ra những ảnh hưởng đáng kể
3.1.1.2 Môi trường nước
Các yếu tố có thể gây ô nhiễm nguồn nước là do chất rắn lơ lửng (đất cát), dầu mỡ nhiên liệu,… do nguồn nước thải trong sản xuất, trong sinh hoạt,… gây ra Việc lấy và mang đi một khối vật chất từ đáy biển bằng các gàu xúc và ống hút sẽ làm khuấy động, xáo trộn lớp trầm tích đáy biển từ đó dẫn đến việc tăng hàm lượng chất lơ lửng, hàm lượng kim loại nặng, tăng độ đục, TSS, TDS Các thay đổi như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật phiêu sinh (hạn chế quang hợp) và động vật phiêu sinh Một ví dụ điển hình cho tác động phát thải từ việc xáo trộn các nguồn trầm tích là hoạt động nao vét ở Vịnh Mexico năm 2000
Hệ sinh vật của vịnh đã nhiễm độc và suy giảm nặng nề sau khi các cơ quan quản
lý vịnh cho nạo vét luồng lạch vào vịnh Các độc chất tích lũy trong nhiều năm trong các trầm tích hạt mịn như trầm tích bùn, bùn sét, bùn cát khi bị xáo trộn đã lan truyền ra khắp vịnh khiến cho nhiều loài thủy sinh bị nhiễm độc, gây ảnh hưởng nặng nề đến sinh thái vùng vịnh
Công đoạn KTKSRĐB sử dụng phương pháp áp lực khí hoặc bánh công tác khuấy và rửa trôi lớp phủ tạo, bơm hút lên tàu Do các tác động này nên mối liên kết của khối trầm tích bị phá vỡ, các hạt bị khuấy trộn lên, hàm lượng chất lơ lửng trong nước tăng, làm môi trường nước bị vẩn đục trong phạm vi lớn (do khuếch tán) Mặt nước có thể bị ô nhiễm do dầu mỡ từ tàu hút tạo nên (nếu không quản lý tốt) Theo kết quả quan trắc và khảo sát thực tế tại các dự án KTKSRĐB, vùng nước
bị ảnh hưởng khi tàu hoạt động có bán kính hàng trăm mét và thời gian ảnh hưởng kéo dài trong nhiều giờ
Nước tách ra từ hỗn hợp trầm tích – nước trong quá trình hút khoáng sản rắn
Trang 33lên tàu: chủ yếu chứa bùn đất, khi chảy xuống biển sẽ làm ô nhiễm vùng nước biển xung quanh tàu hút Độ đục của nước xung quanh khu vực khai thác có thể tăng đáng kể
Ví dụ về tác động của KTKSRĐB đối với môi trường nước được thể hiện cụ thể qua số liệu đo nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển do khai thác cát ở vùng
A, khu Tây luồng Nam Triệu - Hải Phòng
Bảng 3.2 Ví dụ minh họa về chất lượng nước khu vực tàu hút cát do khai thác vùng
A, khu Tây luồng Nam Triệu - Hải Phòng
TT Chỉ tiêu Đơn vị Trước khi
Trang 34nước biển ven bờ QCVN 10:2008/BTNMT (50 mg/l) Tương tự như vậy, hàm lượng DO trong quá trình khai thác giảm dần, vượt giới hạn cho phép (≥ 5 mg/l) gây ảnh hưởng đến các loại sinh vật sống trong khu vực
3.1.1.3 Môi trường trầm tích
Đáy biển vùng KTKSRĐB sẽ thay đổi về địa hình Sự thay đổi này nhiều hay
ít phụ thuộc vào quy mô của dự án khai thác Tuy nhiên, ở các vùng biển sâu sự thay đổi này không làm biến dạng nhiều địa hình đáy do lượng trầm tích thiếu hụt được bù đắp và cân bằng nhanh chóng theo thời gian
Tại các vùng nước nông, địa hình mới của đáy biển sau khi khai thác sẽ tác động đến kiểu lan truyền sóng và sự vận chuyển bùn lắng Dưới các điều kiện mới này, hình dạng hình học của khu vực khai thác và các vùng lân cận bị ảnh hưởng: độ sâu và sự lan truyền sóng thay đổi để đạt cân bằng mới Đáy biển khu vực khai thác
có thể bằng phẳng hơn tại một số vị trí cục bộ phụ thuộc vào sự bồi lắng sau khi khai thác trong khi toàn bộ khu vực có thể dịch chuyển dưới tác động của dòng chảy chính Nó có thể là kết quả của kiểu lan truyền sóng mới, chủ yếu do ảnh hưởng của các hố khai thác (tăng chiều cao sóng ở một trong hai phía của hố khai thác)
Những chuyển động của sóng qua khu vực khai thác trên đường tới bờ trải qua hai hình thức thay đổi do bởi đáy biển ngày càng sâu hơn Sự thay đổi về các mức độ của đáy biển có thể làm cho sóng đổi hướng chuyển động dẫn đến khả năng tích tụ của năng lượng sóng tại một số điểm dọc theo vùng biển lân cận Ngoài ra, việc đáy biển bị đào sâu làm giảm sự va chạm của sóng và làm giảm sự tập trung gần bờ của năng lượng sóng và dẫn đến việc năng lượng sóng tăng lên khi tới bờ Cả hai trường hợp đều có thể làm tăng năng lượng sóng khi va chạm tới một nơi cụ thể trên bờ biển
và khả năng xói mòn có thể xảy ra Chúng cũng có thể là kết quả của kiểu tác động của sóng theo hướng mới, chủ yếu là sự tán xạ do hố khai thác (tăng chiều cao sóng hai phía sau hố khai thác, hình3.1), và biến đổi vị trí đới sóng vỡ
Trang 35Hình 3.1 Phạm vi ảnh hưởng của sóng sau khu vực khai thác
Cùng với ảnh hưởng của sóng, hướng vận chuyển và lượng trầm tích vận chuyển cũng gây ảnh hưởng quan trọng tới sự ổn định của đới bờ
3.1.2 Nhóm đối tượng tài nguyên
3.1.2.1 Tài nguyên sinh vật
* Ảnh hưởng làm mất nơi cư trú của sinh vật
Mỗi loài sinh vật biển lại thích nghi với một kiểu môi trường cư trú riêng Các yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố của chúng có thể kể tới là: hàm lượng muối, chất hữu cơ, pH, nhiệt độ và ánh sáng Vì thế, có những loài tôm có thể sống được ở
độ sâu dưới 50m nước, có loài lại sống ở độ sâu rất lớn (50-200m nước); có những loài cá chỉ sinh sống trong các đầm phá cửa sông (nơi phát triển các hệ sinh thái rừng ngập mặn) nhưng lại có những loài chỉ sống quanh các rạn san hô, nơi có nước trong sạch, nhiều loài sinh vật trú ngụ… Nhưng những ảnh hưởng từ hoạt động khai thác
có thể sẽ làm chết các rạn san hô, cỏ biển hay trơ trụi các khu rừng ngập mặn Khi đó, các tài nguyên thủy sinh như tôm, cá, trai, ốc,… sẽ mất nơi cư trú, mất nguồn thức ăn
và phải di cư tới một nơi mới thích hợp Hiện tượng này sẽ làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên tại một số khu vực Những nơi tập trung mật độ sinh vật quá cao sẽ làm thiếu thức ăn, thiếu oxy,… sự cạnh tranh sinh tồn của các sinh vật sẽ khốc liệt hơn và
sẽ khó khăn hơn cho việc bảo tồn và phát triển các giống loài
Đặc biệt, trong các khâu bóc, tách lớp trầm tích bên trên bề mặt đáy biển trước khi khai thác khoáng sản là hoạt động trực tiếp làm mất đi môi trường cư trú
Trang 36của các động vật bám đáy như: ngao, sò, trai, ốc,… Thêm vào đó, việc KTKSRĐB bằng gàu xúc hay vòi hút thủy lực còn có thể tạo nên dòng nước xoáy làm vẩn đục các hạt mịn trên một diện tích rộng và tái tích tụ trên đáy biển, sự tích tụ này cùng với sự gia tăng độ đục của nước sẽ làm thay đổi đặc điểm của lớp trầm tích tầng mặt Do đó, làm mất nơi cư trú và môi trường sống của sinh vật, đồng thời làm thay đổi bản chất quần thể thực vật trong khu vực Bên cạnh đó, việc nạo hút khoáng sản rắn làm khuấy động lớp trầm tích đáy, làm cho nồng độ các chất ô nhiễm trong nước tăng lên Cùng với đó là hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước tăng lên gây cản trở ánh sáng chiếu xuống tầng đáy và làm cản trở quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh, kéo theo sự suy giảm hàm lượng thức ăn của động vật Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bắt buộc di chuyển nơi cư trú của các loài động vật tại khu vực KTKSRĐB
Địa hình đáy bị xáo trộn là nguyên nhân làm thay đổi môi trường sống và trú ngụ của các loài sinh vật biển (thực vật phù du, động vật nổi, động vật đáy,…) tại khu vực khai thác Hệ sinh vật đáy có thể phục hồi sau khi hoạt động nạo vét chấm dứt, lớp trầm tích đáy được bồi hoàn ổn định
* Khả năng làm giảm đa dạng sinh học
Quá trình xây dựng cơ bản liên quan tới KTKSRĐB như VLXD, một số công trình như đường ống nổi trên biển đưa VLXD được khai thác trực tiếp đến nơi tiêu thụ (hình 3.2) hay khai thác tuyến giao thông vận chuyển khoáng sản rắn vào bãi rất có thể cần giải phóng một số vị trí phát triển rừng ngập mặn Làm mất đi sự
đa dạng của hệ thống rừng phòng hộ ven biển này, đồng thời làm tăng nguy cơ xói
lở bờ, gián tiếp ảnh hưởng tới tiềm năng phát triển du lịch và cảng biển trong vùng
Trang 37Hình 3.2 Tàu và quy trình khai thác cát
Ngoài ra, quá trình xả thải cặn bẩn, dầu nhớt và các chất hữu cơ (rác thải sinh hoạt) trong khai thác sẽ làm ô nhiễm môi trường nước biển, tăng nguy cơ phú dưỡng trong khu vực Một mặt, làm chết các hệ sinh thái có độ nhạy cảm cao như san hô, cỏ biển, mặc khác làm chết tôm cá và các sinh vật phù du,… Suy giảm cả về
số lượng lẫn chất lượng của các giống loài thủy sinh trong khu vực
Một số nhà khoa học nước ngoài đã chứng minh các hoạt động khai thác cát
xa bờ thường tác động đáng kể đến đặc điểm vật lý và sinh vật các vùng khai thác Ngoài vùng điều tra, ảnh hưởng của việc khai thác cát lên các quần thể sinh vật đáy
là rất lớn, đặc biệt là ngay sau khi khai thác, và chủ yếu là do sự di chuyển của quần thể động vật bám đáy Thực tế, các hoạt động khai thác cát làm di chuyển cát bề mặt (đến độ sâu 50 -150m nước), là nguyên nhân chính thay đổi hệ sinh vật [21] Các tài liệu ghi nhận các dấu vết của các khu vực nạo hút cát và sự thay đổi độ sâu đáy biển sau khai thác cát cho thấy rằng việc khai thác đã tác động chủ yếu đến phần phía nam và trung tâm khu vực khai thác [22], đặc điểm thủy động lực và trầm tích của vùng nghiên trong khai thác cát trên đáy biển có ảnh hưởng rất lớn đến quần thể sinh vật đáy Họ dự đoán rằng các hoạt động khai thác cát có thể làm suy giảm số lượng sinh vật đáy lớn trong vùng khai thác cát và vùng lân cận; sự tái cân bằng của đáy biển có thể mất 12 - 18 tháng sau khi khai thác trong khi sự phục hồi các quần thể nguyên thủy có thể cần đến 2 - 4 năm sau khai thác
Như vậy, KTKSRĐB làm suy giảm tính đa dạng sinh học của các giống loài
Tàu
hút
chuyển cát Vị trí san lấp
Trang 38trong vùng khai thác Vì vậy, cần đánh giá và đưa ra biện pháp cải tạo, phục hồi tài nguyên hợp lý, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững kinh tế trong khu vực có liên quan tới dự án
3.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản
Hoạt động KTKSRĐB có khả năng làm thất thoát và cạn kiệt tài nguyên Trước hết, mọi hoạt động khai thác khoáng sản đều làm cạn kiệt chính nguồn tài nguyên đó Tuy nhiên, đối với một số loại tài nguyên tái tạo thì khả năng phục hồi là
3.1.2.3 Tài nguyên vị thế
a Tiềm năng phát triển du lịch có khả năng bị suy giảm
Du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát triển kinh tế, nhằm tăng thu nhập cho người dân cũng như tăng nguồn ngân sách Trung ương và địa phương Nếu tiến hành KTKSRĐB trong khu vực có tiềm năng du lịch sẽ gây những ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển du lịch, trước hết là có thể mất đi vị trí thuận lợi
để phát triển du lịch Mặt khác, gây ra những ảnh hưởng làm suy giảm chất lượng và sức hấp dẫn của ngành du lịch: ô nhiễm nước mặt, làm đục nước biển gây mất đi mỹ quan các bãi tắm, không khí bị ô nhiễm tiếng ồn, Đối với các hoạt động du lịch sinh thái, việc chặt phá rừng ngập mặn để làm cơ sở hạ tầng cho việc khai thác sẽ làm giảm đa dạng sinh học các giống loài trong rừng sinh thái ven biển Do đó, chất lượng phục vụ khách thăm quan giảm, cũng như làm suy giảm nguồn ẩm thực độc đáo, riêng biệt của kiểu hình du lịch này
Trang 39Vì vậy, giữa việc KTKSRĐB để làm động lực phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên cho ngành du lịch cần có sự tính toán tỉ mỉ, chọn lựa kỹ lưỡng của các ngành chức năng và cần phải căn cứ vào mục tiêu phát triển lâu dài theo định hướng của Nhà nước
b Khả năng làm giảm tiềm năng phát triển giao thông, cảng biển
Biển Đông của nước ta nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu
Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Mỗi ngày có hàng trăm tàu các loại qua lại Biển Đông
Với những lợi thế như vậy, tiềm năng phát triển về giao thông - cảng biển đáp ứng nhu cầu trung chuyển hàng hóa và tiếp vận của nước ta là rất lớn, cả cảng biển và cảng sông Song song với việc tiến hành khai thác khoáng sản khu vực ven biển, chúng ta cũng phải đánh giá các ảnh hưởng có khả năng xảy ra với việc phát triển tiềm năng về giao thông hàng hải và phát triển cảng biển
Ảnh hưởng đầu tiên có thể xảy đến là việc khai thác sẽ chiếm mất địa thế có thể xây dựng cảng biển thuận lợi hoặc cản trở việc hàng hải của các tàu thuyền qua khu vực Làm tăng mật độ giao thông trên các luồng tàu và đồng thời làm tăng nguy
cơ rủi ro tai nạn giao thông hay làm chậm khả năng lưu thông hàng hóa trên biển Ngoài ra, hoạt động khai thác còn làm thay đổi địa hình đáy biển kéo theo sự biến đổi thủy động lực biển, gây xói lở bờ, ảnh hưởng xấu tới các vị trí xây dựng cảng biển Mặt khác, còn làm tăng lượng tạp chất lơ lửng, thay đổi dòng hải lưu …
có thể gây bồi lấp các luồng ra vào cảng của tàu bè và các vùng lân cận làm giảm giá trị kinh tế trong việc khai thác các cảng đang hoạt động Qua đó, cho thấy việc đánh giá những xung đột về lợi ích phát triển kinh tế của hai hoạt động khai khoáng
và cảng biển cần được tiến hành trước khi phát triển các dự án để tìm ra những phương thức tối ưu nhất giảm tác động ảnh hưởng xuống mức thấp nhất, đảm bảo phát triển bền vững cả hai lĩnh vực kinh tế này
c Khả năng làm suy giảm tiềm năng phát triển ngư nghiệp
Trang 40Việc khai thác khoáng sản ở khu vực ven bờ cũng gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản của ngư dân, mà đặc biệt là nuôi trồng thủy hải sản khu vực ven bờ Do hoạt động khai thác gây ra các tác động trực tiếp đến hệ sinh thái và các loài thủy sinh, động vật… làm phá hủy chuỗi sinh học, làm tiêu giảm các loài sinh động vật không chỉ tại khu vực khai thác mà còn ảnh hưởng rộng đến khu vực xung quanh Chính vì thế nó gây ra các ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến các ngư dân trong vùng như thu nhập và chất lượng cuộc sống của ngư dân
3.1.3 Nhóm đối tượng kinh tế - xã hội
3.1.3.1 Chất lượng môi trường sống của người dân
Hoạt động KTKSRĐB diễn ra gây nên nhiều tiếng ồn, phát thải bụi có chứa các chất gây hại vào không khí, nước thải trong quá trình khai thác chưa được xử lý triệt để xả xuống biển gây ảnh hưởng tới chất lượng môi trường không khí, chất lượng môi trường nước biển ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe người dân Tuy nhiên, hoạt động KTKSRĐB có mức độ ảnh hưởng tới môi trường sống của người dân ở những mức độ khác nhau tùy theo khoảng cách tới khu dân cư và sự vận động của dòng chảy lan truyền nồng độ các chất ô nhiễm
Khí thải và bụi từ các hoạt động lắp đặt thiết bị, vận chuyển máy móc, chạy máy phát điện, khai thác, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của công nhân, hoạt động giao thông vận tải phục vụ dự án,… Các hoạt động này sẽ làm tăng lượng bụi cũng như các khí thải (SO2, NxOy, CO, CO2,…) vào không khí và gây ra ô nhiễm không khí, gây nên các bệnh về đường hô hấp cho các công nhân trực tiếp làm việc
và vùng dân cư lân cận cũng bị ảnh hưởng
Nguồn nước bị ô nhiễm là do các chất lơ lửng, dầu nhớt từ máy móc hoạt động khai thác thải ra hoặc bi rò rỉ và trong sinh hoạt của công nhân Việc lấy đi một khối vật chất bằng gàu xúc và ống hút sẽ làm khấy động, xáo trộn lớp trầm tích đáy biển, làm ảnh hưởng đến sinh kế cộng đồng dân cư: diện tích nuôi trồng thủy sản, khu vực vui chơi giải trí có thể bị thu hẹp do khi hoạt động khai thác diễn ra hoặc do nguồn nước bị ô nhiễm