1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức xử phạt vi phạm hành chính và chỉ ra sự kế thừa, phát triển của các quy định này so với Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 200

12 486 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 84,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giống như mọi hành vi vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính cũng là một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, tuy mức độ nguy hiểm thấp hơn nhưng nó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như của cộng đồng. Chính vì vậy mà pháp luật nước ta quy định rõ ràng và cụ thể về chế định xử lí vi phạm hành chính. Để làm rõ về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành cũng như những điểm tiến bộ so với luật cũ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I – Một số khái niệm : 1

1 Vi phạm hành chính : 1

2 Xử phạt vi phạm hành chính : 2

3 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính : 2

II - Các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức xử phạt vi phạm hành chính và chỉ ra sự kế thừa, phát triển của các quy định này so với Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) : 3

1 Cảnh cáo : 3

2 Phạt tiền : 5

3 Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn : 8

4 Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính : 8

5 Trục xuất : 9

KẾT LUẬN 10

PHỤ LỤC 11

Trang 2

MỞ ĐẦU

Giống như mọi hành vi vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính cũng là một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, tuy mức độ nguy hiểm thấp hơn nhưng nó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như của cộng đồng Chính vì vậy mà pháp luật nước ta quy định rõ ràng và cụ thể về chế định xử lí vi phạm hành chính Để làm rõ về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành

cũng như những điểm tiến bộ so với luật cũ, em xin chọn đề bài số 6 : “Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức xử phạt vi phạm hành chính và chỉ ra sự kế thừa, phát triển của các quy định này so với Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008)” làm

nội dung bài tập học kỳ

NỘI DUNG

I – Một số khái niệm :

1 Vi phạm hành chính :

Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong

đời sống xã hội Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lí kịp thời

Từ trước đến nay, Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính và các biện pháp xử lí đối với loại vi phạm này Định nghĩa về vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 Định nghĩa này lần lượt được sửa đổi trong Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 Và theo quy định của pháp luật hiện hành,Luật xử lí vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012

Trang 3

định nghĩa : “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.”

2 Xử phạt vi phạm hành chính :

Định nghĩa xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật

xử lí vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 : “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.”

Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có các đặc điểm cơ bản sau :

-Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

-Xử phạt hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật khác có quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ xử phạt hành chính mà họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính;

-Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

-Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính

3 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính :

Hình thức xử phạt vi phạm hành chính là các biện pháp cưỡng chế nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhiều lần Việc áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính sẽ đặt ra trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể vi phạm hành chính Trách nhiệm pháp lý này là hậu quả pháp

Trang 4

lý bất lợi mà chủ thể vi phạm hành chính phải gánh chịu trước nhà nước Hậu quả pháp lý bất lợi đó có thể là sự thiệt hại về tài sản hoặc tinh thần hay bị hạn chế về các quyền yêu cầu pháp lý của chủ thể

Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013 Luật quy định các hình thức xử phạt hành chính gồm:

- Cảnh cáo

- Phạt tiền

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để

vi phạm hành chính

- Trục xuất

II - Các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức xử phạt vi phạm hành chính và chỉ ra sự kế thừa, phát triển của các quy định này so với Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm

2007, 2008) :

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành được quy định tại chương I – Phần thứ hai – Luật xử lí vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã có sự kế thừa và phát triển sáng tạo so với Pháp lệnh Xử lí

vi phạm hành chính năm 2002 ( sửa đổi bổ sung năm 2007,2008 ), cụ thể như sau :

1 Cảnh cáo :

1.1 Theo pháp luật hiện hành :

Hình thức phạt cảnh cáo được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 21 và quy

định cụ thể tại điều 22 Luật xử lí vi phạm hành chính : “ Cảnh cáo được áp

Trang 5

dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ

14 tuổi tới dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.”

Theo quy định trên, đối tượng của hình thức phạt cảnh cáo gồm 2 loại : Thứ nhất là cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng,có tình tiết giảm nhẹ và thứ hai là người chưa thành niên đủ 14 tuổi tới dưới 16 tuổi thực hiện hành vi vi phạm hành chính

Như vậy, đối với cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính thì điều kiện để áp dụng hình phạt cảnh cáo là hành vi vi phạm có tính chất không nghiêm trọng hoặc có các tình tiết giảm nhẹ quy định cụ thể tại điều 9 Luật Xử lí vi phạm hành chính Đối với người chưa đủ 16 tuổi thực hiện vi phạm hành chính này có thể bị xử phạt cảnh cáo với điều kiện: họ thực hiện vi phạm đó lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ Điều này phù hợp với ý nghĩa của quy định là giáo dục nhiều hơn trừng phạt Tuy nhiên, cảnh cáo thể hiện thái độ răn đe nghiêm khắc của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Hình thức xử phạt hành chính cảnh cáo là hình thức xử phạt mang tính giáo dục đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính; đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo không được coi là có án tích và không bị ghi vào lí lịch tư pháp

Do dó, vẫn mang tính cưỡng chế nhà nước, gây cho người bị xử phạt những tổn hại nhất định về mặt tinh thần

1.2 Sự kế thừa và phát triển :

Hình thức phạt cảnh cáo quy định tại điều 13 Pháp lệnh Xử lí vi phạm

hành chính 2002 : “Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.”

Trang 6

Có thể thấy so với Điều 13 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002,Điều

22 Luật xử lí vi phạm hành chính đã thay đổi cụm từ “vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu” bằng cụm từ “vi phạm hành chính không nghiêm trọng” và bổ sung cụm từ “theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo” với

đối tượng là cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Điều này cho thấy phạm vi áp dụng hình thức phạt cảnh cáo trong pháp luật hiện hành đã mở rộng hơn,luật mới không áp dụng hình phạt dựa theo số lượng vi phạm ( lần đầu ) mà tập trung vào tính chất của vi phạm ( không nghiêm trọng ) Bên cạnh đó, luật còn bổ sung thêm hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt cảnh cáo nếu hành vi đó được quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Sự thay đổi này không chỉ làm giảm tính cứng nhắc của quy định cũ mà còn làm cho luật mới thêm chặt chẽ hơn Chỉ có những hành vi có quy định được áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo thì mới được cảnh cáo,nếu không quy định thì không được phép áp dụng Điều này khẳng định nguyên tắc pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước, góp phần tạo nên sự thống nhất trong hệ thống pháp luật

2 Phạt tiền :

2.1 Theo pháp luật hiện hành :

Hình thức xử phạt phạt tiền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 và quy định cụ thể tại điều 23 Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012 ( gồm 4 khoản )

Khoản 1 Điều 23 quy định : “ Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.

Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp

Trang 7

dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.”

Khoản 1 Điều 24 còn quy định mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực như

sau :

“Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định như sau:

a) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tôn giáo; thi đua khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê;

b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao thông đường bộ; giao dịch điện tử; bưu chính;

k) Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo

Việc lựa chọn, áp dụng mức phạt tiền đối với người vi phạm phải trong

khung hình phạt được pháp luật quy định cho loại vi phạm đã được thực hiện theo hai cách : khi phạt tiền mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung hình phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung hình phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có thể tăng lên nhưng không vượt quá mức tối đa của khung hình phạt

Việc lựa chọn, áp dụng mức phạt tiền đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính có những nét đặc thù riêng : người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Trang 8

chỉ bị phạt cảnh cáo, không phạt tiền Người từ đủ 16 tới dưới 18 tuổi vi phạm thì có thể áp dụng các hình thức xử phạt quy định tại điều 21 Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012 Khi phạt tiền với họ thì mức phạt tiền không vượt quá ½ so với mức phạt của người thành niên Trong trường hợp họ không có tiền thì cha,mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay

2.2 Sự kế thừa và phát triển :

So với Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002, ta có thể thấy rất nhiều điểm tiến bộ rõ rệt của hình thức phạt tiền trong Luật xử lí vi phạm hành chính 2012, em xin nêu một số điểm tiến bộ rõ rệt nhất như sau :

Trước hết là sự tăng lên về số lượng Điều luật, thay vì quy định gói gọn hình thức phạt tiền trong Điều 13 như Pháp lệnh xử lí VPHC 2002 thì Luật xử lí VPHC 2012 có 2 Điều luật ( 23 và 24 ) quy định rõ ràng về nội dung chung và nội dung cụ thể của hình thức phạt tiền

Trong quy định về mức phạt tiền, Pháp lệnh xử lí VPHC 2002 chỉ quy

định : “Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng.” Trong khi Luật xử lí VPHC 2012 chia ra 2 đối tượng

cụ thể với từng mức hình phạt khác nhau và khung hình phạt tăng lên rất nhiều so với luật cũ Ngoài ra còn quy định tăng mức xử phạt đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương ( khoản 1 Điều 23 ) cũng như quy định thẩm quyền của Chính phủ trong việc quy định khung hình phạt, mức hình phạt ( khoản 2 Điều 23 )

Ta cũng có thể thấy tất cả các mức hình phạt tối đa đối với các lĩnh vực cụ thể đều có sự tăng lên đáng kể Ví dụ như hành vi vi phạm trong các lĩnh vực

an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống tệ nạn xã hội, thi hành án dân sự,… theo Pháp lệnh xử lí VPHC 2002 bị phạt tiền đến 30.000.000đ thì theo Luật xử lí VPHC 2012 mức hình phạt đã tăng lên 40.000.000đ Luật xử lí VPHC 2012 còn quy định mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới;…(điểm a khoản 1 Điều 24)

Trang 9

3 Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn :

3.1 Theo pháp luật hiện hành :

Theo khoản 1 Điều 25 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012 : “Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.”

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề do những người có thẩm quyền quy định áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm Pháp luật quy định rõ ai có thẩm, quyền được tước quyền sử dụng những loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề nào Trong trường hợp xử lí vụ việc vi phạm hành chính nếu phát hiện ra giấy phép , chứng chỉ hành nghề cấp không đúng thẩm quyền hoặc giấy phép có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt tiến hành thu hồi ngay đồng thời báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền biết

3.2 Sự kế thừa và phát triển :

So với Pháp lệnh xử lí VPHC 2002 ( Điều 16 ) chỉ gồm 1 khoản thì số khoản quy định hình phạt này ở Luật Xử lí VPHC có sự tăng lên ( Điều 25 – 3 Khoản ) Bổ sung thêm nội dung đình chỉ hoạt động có thời hạn mà Pháp lệnh xử lí VPHC chưa đề cập tới Bên cạnh đó,Luật còn quy định cụ thể trường hợp nào thì cá nhân, cơ quan có thẩm quyền được phép đình chỉ hoạt động có thời hạn Luật cũng đã khắc phục được điểm hạn chế của Pháp lệnh ở việc quy định thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Cụ thể : tại khoản 3 Điều 25 quy định thời hạn đình chỉ hoạt động từ 1 – 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành

4 Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính :

4.1 Theo pháp luật hiện hành :

Trang 10

Điều 26 Luật xử lí VPHC quy định :

“ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.

Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại Điều 82 của Luật này.”

Việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là công việc do người có thẩm quyền áp dụng với các đối tượng vi phạm hành chính nghiêm trọng Những người có thẩm quyền được tuân thủ theo quy định của Pháp luật

4.2 Sự kế thừa và phát triển :

Có thể thấy sự phát triển của chế định này trong Luật xử lí VPHC là ở chỗ : Luật quy định tịch thu tang vật, phương tiện có liên quan đến vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân,tổ chức Nội dung này chưa được đề cập tới ở Pháp lệnh xử lí VPHC

2002 Mặt khác, Luật còn quy định dành riêng một Điều luật để rõ về việc xử lí tang vật, phương tiện VPHC ( Điều 82 )

5 Trục xuất :

Hình thức phạt trục xuất được quy định tại Điều 27 Luật xử lí VPHC 2012 như sau :

“1 Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2 Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.”

Trục xuất vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung Trục xuất là hình phạt chính khi nó được áp dụng độc lập và là hình phạt bổ sung khi nó được

Ngày đăng: 18/11/2017, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w