Hầu hết các tài nguyên thực vật hiện nay chỉ còn tồn tại trong hệ thống rừng đặc dụng là các vườn quốc gia, các khu bảo tồn… Nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này các nhà khoa học trên t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
-*** -
VŨ NGỌC LƯỢNG
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
VŨ NGỌC LƯỢNG
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trần Văn Thụy
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp
đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: PGS.TS Trần Văn Thụy đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó,Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại Học trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chú Đỗ Viết Quyền Giám đốc – Hạt trưởng BQL Khu bảo tồn thiên nhiên tây Yên Tử cũng như các đồng chí cán bộ đang làm việc, người dân sống tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử - Bắc Giang
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu, dạy cho tôi những kiến thức thực tiễn vô cùng bổ ích và hoàn thành luận văn đúng thời hạn Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Ngọc Lượng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan 3
1.2 Tổng quan những nghiên cứu về đa dạng sinh học thảm thực vật 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Tổng quan những nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ thực vật 10
1.3.1 Trên thế giới 10
1.3.2 Ở Việt Nam 11
1.3.3 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật 12
1.3.4 Những nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật 13
1.4 Khái quát một số công trình nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, Bắc Giang 13
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1 Đánh giá tính đa dạng hệ thực vật 15
2.2.1.1 Phương pháp thu thập, kế thừa 15
2.2.1.2 Phương pháp chuyên gia 15
2.2.1.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 15
2.2.1.4 Phương pháp phân tích, đánh giá 18
2.2.1.5 Phương pháp bản đồ 19
2.2.2 Đánh giá tính đa dạng các quần xã thực vật 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Trang 53.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – nhân tác khu vực KBTTN Tây Yên Tử,
những nhân tố sinh thái hình thành và tác động tới đa dạng sinh học thực vật 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.1.2 Địa chất, địa hình 22
3.1.1.3 Thổ Nhưỡng 22
3.1.1.4 Khí hậu 23
3.1.1.5 Thủy văn 24
3.1.1.6 Thực vật và Tài nguyên rừng 24
3.1.2 Nhân tác 24
3.2 Tính đa dạng sinh học hệ thực vật 28
3.2.1 Đa dạng loài thực vật 28
3.2.2 Đa dạng ở bậc họ 29
3.2.3 Đa dạng về dạng sống 32
3.2.4 Đa dạng các yếu tố địa lý hệ thực vật 36
3.2.5 Đa dạng nguồn tài nguyên thực vật có giá trị sử dụng 39
3.3 Tính đa dạng thảm thực vật: 48
3.3.1.Thảm thực vật tự nhiên: 49
3.3.2.Thảm thực vật nhân tác: 50
3.4 Định hướng bảo tồn và phát triển bền vững 63
3.4.1 Cơ sở khoa học của công tác bảo tồn và phục hồi tài nguyên rừng 66
3.4.2 Định hướng phát triển và bảo vệ tài nguyên thực vật rừng 66
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6i
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ Phân ban Khe Rỗ 21
Hình 3.2: Phân ban Thanh Lục Sơn 22
Hình 3.3: Sến mật (Madhuca pasquieri (Dub.) H.J.Lam) 48
Hình 3.4: Chò chỉ ( Parashorea chinensis Wang S.Hsieh) 48
Hình 3.5: Trầm hương ( Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte) 48
Hình 3.6: Vù hương (Cinnamomum parthenoxylon Meissn) 48
Hình 3.7 Bản đồ thảm thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (phân ban Khe Rỗ) 63
Hình 3.8 Bản đồ thảm thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (phân ban Thanh Lục Sơn) 64
Trang 7ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các bậc phân loại và cách gọi tên các quần xã trong khung phân loại
thảm thực vật của UNESCO – 1973 7
Bảng 3.2 Diện tích ca ́ c loại rừng trong KBT 26
Bảng 3.3: Phân bố các taxon trong các ngành thực vật bậc cao có mạch ở KBTTN Tây Yên Tử 28
Bảng 3.4 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật Việt Nam 30
Bảng 3.5 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử 31
Bảng 3.6: Tỷ lệ dạng sống các loài trong hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử 33
Bảng 3.7 Tỷ lệ cụ thể dạng sống của hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử 34
Bảng 3.8: Phổ yếu tố địa lý hệ thực vật KBT Tây Yên Tử 36
Bảng 3.9: Các nhóm công dụng chính của tài nguyên thực vật KBT Tây Yên Tử 39
Bảng 3.10: Danh mục các loài quý hiếm tại KBT Tây Yên Tử 42
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ của 10 họ đa dạng nhất hệ thực vật bậc cao có mạch thuộc KBTTN Tây Yên Tử 32
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ dạng sống hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử 34
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ % thực vật theo nghành tại KBT Tây Yên Tử 34
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ các giá trị sử dụng các loài thực vật bậc cao có tại KBT 40
Trang 8NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TK
BCCM
Tiểu khu Bậc cao có mạch
Trang 9duy trì bởi nhiều yếu tố mà con người còn rất hạn chế
Việt Nam là nước giàu tài nguyên rừng Trước kia rừng chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, rừng là nơi hội tụ, sinh tồn của nhiều loài động và thực vật Nhưng hiện nay rừng nước ta đang bị suy giảm mạnh cả về diện tích và chất lượng Nếu như năm 1945 độ che phủ của rừng là 43% diện tích lãnh thổ thì đến năm 1993 chỉ còn lại 28% Tuy nhiên trong những năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăn lên Sự suy giảm đó một phần do chiến tranh kéo dài, mặt khác trong ½ thế kỷ qua việc khai thác rừng bừa bãi vì mục đích kinh tế Chính vì vậy nó đã gây ra những hậu quả sinh thái làm ảnh hưởng sâu đến môi trường và sự phát triển kinh tế, xã hội Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng trên là do sự gia tăng dân số, thiếu lương thực, trình độ văn hóa, giáo dục kém, sử dụng đất đai không hợp lý, do nạn du canh,
du cư, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh…Mất rừng tự nhiên là mất nơi cư trú và nguồn thức ăn của các loài động thực vật đến sự tuyệt chủng hoặc đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng Theo báo cáo của Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) Việt Nam năm 2000 đã cảnh báo tốc độ suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta nhanh hơn rất nhiều so với một số các quốc gia khác trong khu vực
Trong nhiều năm qua công tác bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, bảo tồn tính đa dạng sinh học Quốc gia đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, sự quan tâm đó đã được thể hiện thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học như: Pháp lệnh về bảo vệ rừng (1972), Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật bảo vệ môi trường (1993) và nhiều Nghị định, Quyết định khác Việt Nam cũng đã ký tham gia nhiều công ước Quốc tế như
“Công ước Đa dạng sinh học” (1994), “Công ước CITES” (1994) Bên cạnh hệ thống pháp luật Quốc gia và Quốc tế, Đảng và Chính phủ cũng có nhiều cố gắng trong việc thực hiện việc xây dựng hệ thống rừng đặc dụng
Trang 102
Tài nguyên thực vật được coi là cơ sở và nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của các loại tài nguyên khác có trên trái đất Bởi vậy, sử dụng và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật này đang là vấn đề cấp bách hiện nay của tất cả các quốc gia trên thế giới Hầu hết các tài nguyên thực vật hiện nay chỉ còn tồn tại trong
hệ thống rừng đặc dụng là các vườn quốc gia, các khu bảo tồn… Nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này các nhà khoa học trên toàn thế giới đã tiến hành các nghiên cứu các hệ sinh thái, hệ thực vật, các giá trị của đa dạng thực vật nhằm bảo tồn các giá trị khoa học và nhân văn của chúng
Sự phát triển hướng nghiên cứu này đặc biệt được quan tâm trong các khu bảo tồn và các vườn quốc gia, nơi nguồn gen tự nhiên còn khá phong phú, đa dạng KBTTN Tây Yên là một trong số ít địa điểm có những thuận lợi đó và rất phù hợp
để thực hiện nghiên cứu tính đa dạng sinh học thực vật
Do vậy, đề tài “Đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững” là cần thiết để
cung cấp những thông tin cơ bản về các giá trị khoa học, làm cơ sở cho việc đánh giá một cách chính xác giá trị ĐDSH trong vùng Từ đó, làm cơ sở khoa học đề xuất một số định hướng xây dựng những giải pháp bảo tồn, sử dụng một cách hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên của KBTTN Tây Yên Tử
Trang 113
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan
+ Khu bảo tồn thiên nhiên: Là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển
được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý
có hiệu quả khác
+ Đa dạng sinh hoc: Theo công ước đa dạng sinh học thì “Đa dạng sinh học”
(Biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất
cả mọi nơi, bao gồm: Các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái các sinh vật là một phần, , thuật ngữ
này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
+ Đa dạng loài: Là số lượng và sự đa dang của các loài được tìm thấy
tại một khu vục nhất định tại một vùng nào đó Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với các quần thể khác nhau
+ Hệ sinh thái: Là một hệ thống hoàn chỉnh tương đối ổn định, bao gồm
quần xã sinh vật và khu vực sống của quần xã (sinh cảnh) Sự tác động qua lại giữa quần xã và sinh cảnh tạo nên nhhững mối quan hệ dinh dưỡng xác định, cấu trúc của tập hợp loài trong quần xã, chu trình tuần hoàn vật chất giữa các sinh vật trong quần xã và các nhân tố vô sinh
+ Tái sinh hệ sinh thái rừng: Là một quá trình sinh học mang tính đặc
thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của hệ sinh thái rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh hệ sinh thái rừng (hoặc mất đi chưa lâu)
+ Quần xã sinh vật: Là một tập hợp các quấn thể sinh vật thuộc các loài
khác nhau được hình thành trong một quá trình lịch sử, cùng sống trong một khoảng không gian xác định gọi là sinh cảnh Nhờ các mối liên hệ sinh thái tương
hỗ mà gắn bó với nhau như một thể thống nhất
Trang 124
+ Quần thế sinh vật: Là một nhóm các cá thể cùng loài, cùng sinh sống
trong một khoảng không gian xác định, vào một thời điểm nhất định, trong đó giữa các cá thể có thể giao phối để sinh ra con cái sinh sản hữu tính
+ Thảm thực vật: Từ trước đến nay, trong lịch sử phát triển của nhân loại,
con người đã biết phân biệt loài cây này với loài cây khác, loài cỏ này với loài cỏ khác Đồng thời cũng nhận thức được khu hệ thực vật bao gồm các loài cây, loài cỏ phân bố
ở một pham vi nhất định nào đó Như vậy có thể nói thảm thực vật là: Toàn bộ lớp thảm thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên bề mặt trái đất Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước cũng như nước ngoài của các nhà khoa học về Thảm thực vật và đưa ra các khai niệm khác nhau
Theo J.Schmithusen (1976) [39] cho rằng: Thảm thực vật là lớp thực bì
của trái đất và các bộ phận hợp thành khác nhau của nó
Theo Thái Văn Trừng (1970) [36] cho rằng: Thảm thực vật là các Quầ
n thể thực vật phủ trên bề mặt trái đất như một tấm thảm xanh
Theo Trần Đình Lý (1998) [19] cho rằng: Thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật ở trên toàn bộ bề mặt của trái đất
Theo Trần Đình Lý (1998)kết luận rằng: Sự khác nhau giữa Thảm thực vật
và rừng dựa trên sự có mặt của một lượng cây gỗ có chiều cao và độ lớn nhất định Các thông số này được khái quát bằng tỷ lệ độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 5m trỏ lên so với đất rừng ( k: Độ tàn che ) k < 0,3 chưa có rừng; k: 0,3 – 0,6 rừng thưa; k > 0,6 rừng kín
Như vậy: Thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đặc trưng hay
phạm vi không gian của một đối tượng cụ thể Nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có tính ngữ kèm theo như “Thảm thực vật KBTTN Tây Yên Tử” , Thảm thực vật cây bụi, Thảm thực vật trên đất cát ven biển…v.v
1.2 Tổng quan những nghiên cứu về đa dạng sinh học thảm thực vật
1.2.1 Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm và cách phân loại khác nhau về thảm thực vật Một số nhà thực vật học lấy thành phần loài làm tiêu chuẩn chủ đạo
Trang 135
để phân loại thảm thực vật, trong khi các nhà sinh thái thực vật căn cứ vào cấu trúc, hình thái thực vật để phân loại, hoặc điều kiện sinh thái, khí hậu, thổ nhưỡng… Cho tới nay, có thể thống kê một số hệ thống phân loại thảm thực vật phổ biến trên thế giới như sau: Các hệ thống phân loại thảm thực vật của Grisebach (1872), Schimper (1898), Drude (1902), Diels và Mattich (1908), Cajander (1909), Warming (1909), Brockman – Jerosch và Rubel (1912, 1933), Du Rietz (1921), Graebner (1925), Clemént (1916, 1928), Braun – Blanquet (1928), Sukachev (1932, ghi theo Ellenberg
và Mueller – Dombois năm 1974), Tansley (1935), Champion (1936), Dansereau (1957), Schmid (1963), Kuchler (1967), Fosberg (1961, 1967), Ellenberg và Mueller – Dombois (1967), UNESCO (1973).[Dẫn theoTrần Văn Thụy, 1997- luận án tiến sỹ sinh học) [37]
Trường phái Braun-Blanquet (1928), Pavillard, Weaver, Clenments, Scamoni, Lavrenkho E.M, Sennikov A.N, Aiokhin… sử dụng tên loài thực vật đặc trưng chiếm ưu thế tuyệt đối trong quần xã để đặt tên cho các bậc phân loại thảm thực vật khác nhau trên cơ sở cấu trúc lại tiếp đầu ngữ cuối cùng của danh từ bậc chi trong danh pháp bậc loài thực vật, tính ngữ loài giữ nguyên hoặc loại bỏ Tuy nhiên, tùy theo từng tác giả lại có những quan điểm khác biệt nhau (Dẫn theoTrần Văn Thụy, 1997- luận án tiến sỹ sinh học) [37]
Nguyên tắc cơ bản của sự phân loại là tìm ra các loài đặc trưng và các loài phân biệt để xác định đặc điểm và giới hạn quần xã Để tìm ra được các loài này, phải sử dụng phương pháp thống kê phổ thông toàn vùng
Schmithuesen (1976), Walter (1960) [44] và nhiều tác giả khác dựa vào hình dạng bề ngoài của thực vật, các đặc điểm ngoại mạo được thể hiện tập trung ở dạng sống Bởi vì dạng sống chính là kết quả của quá trình tác động theo thời gian của môi trường sống lên cơ thể thực vật
Một số quan điểm phân chia thảm thực vật dựa trên các nghiên cứu các yếu
tố phát sinh thảm thực vật như: khí hậu - thủy văn, đá mẹ - thổ nhưỡng, địa lý - địa hình, sinh vật, khu hệ thực vật - con người Quan điểm này thường được áp dụng rộng rãi cho các vùng nhiệt đới, nơi mà thảm thực vật có quy luật phân bố, cấu trúc, các mối quan hệ với môi trường khá phức tạp, thành phần loài đa dạng và còn ít được nghiên cứu hơn Dựa vào nguyên tắc này, Warming (1895) đã phân chia các
Trang 146
quần xã thực vật thành các “nhóm sinh thái” theo tính chất của môi trường đất Schimper (1898), phân biệt cấu trúc và tính thích ứng sinh thái của các bậc phân loại lớn thành các quần hệ: quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng, quần hệ vùng núi
Sự phân chia của Schimper, với quan niệm đúng đắn về “quần hệ” là những đơn vị đồng nhất về hình thái – cấu trúc Những sự phân chia bậc phân loại thấp hơn dựa vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng (Ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[37]
Beard (1944) (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[37], đưa ra hệ thống phân loại ba cấp: quần hệ, loạt quần hệ, và quần hợp Ông lấy cơ sở từ quần hệ rừng mưa nhiệt đới trong điều kiện tối ưu, để phân chia thành năm loạt quần hệ: (1) loạt quần
hệ xanh theo mùa, (2) loạt quần hệ vùng núi, (3) loạt quần hệ khô thường xanh, (4) loạt quần hệ ngập nước theo mùa, (5) loạt quần hệ ngập nước quanh năm Từ đó, các đơn vị tiếp theo được phân chia
Shimper (1903) [45] đã phân biệt ba kiểu quần hệ là: quần thụ (Woodland), quần thảo (Grass land), hoang mạc (Desert) Tác giả dựa trên những dạng sống của
cá thể các loài thực vật chiếm ưu thế trong quần thể và do lượng nước dùng được quyết định sự hình thành Trong ba kiểu quần hệ nói trên, có thể phân biệt được những loại hình quần thể nhỏ hơn: đó là những kiểu thảm (Vegetation types)
Schmithuesen (1976) [44] đã dựa vào hình thái , dạng sống của thực vật để chia thảm thực vật trái đất thành 9 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng; lớp quần hệ cây bụi; lớp quần hệ savan và đồng cỏ; lớp quần hệ đồng cỏ; lớp quần hệ cây bụi và nửa bụi; lớp quần hệ thực vật sống một năm; lớp quần hệ hoang mạc; lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa; lớp quần hệ thực vật biển
Champion (1936) [40] lấy sự phân hóa đai cao và chế độ khô hạn vùng thấp theo vĩ độ, phân chia theo chín kiểu thảm thực vật trên vùng thấp, cùng với ba kiểu thảm thực vật theo đai cao khác nhau Puri (1988) [43] đã vận dụng nguyên tắc này của Champion để phân loại các kiểu thảm thực vật ở Ấn Độ
Năm 1973, UNESCO [48] đã công bố quan niệm mới về nghiên cứu phân tích
và phân loại quốc tế thảm thực vật Công trình này là sự kết hợp các nguyên tắc của rất nhiều nhà khoa học ở các mức độ khác nhau, được sự tham gia thỏa luận, bổ sung nhiều lần bởi Schimidthusen và Ellenberg (1964), Poore và Ellenberg (1965) và hàng loạt các nhà khoa học khác như Gaussen (1966), Ellenberg và Mueller – Dombois
Trang 157
(1967), Budơski, Franzle, Germain, Küchler, Lebrun và Sochava (UNESCO – 1973) trong đó đặc điểm cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin về sinh thái và địa lý là tiêu chuẩn phân loại cơ bản Các tiêu chuẩn bổ sung tiếp theo, đó là các tiêu chuẩn về điều kiện sinh thái môi trường (vùng khí hậu, chế độ khô hạn, chế độ thoát nước, điều kiện thổ nhưỡng…), về quy luật phân bố địa lý… Giới hạn khung phân loại này từ bậc phân loại lớn nhất là lớp quần hệ đến bậc phân loại thấp nhất là dưới quần
hệ Về khái niệm và cách gọi tên các quần xã thực vật, UNESCO (1973) khi phân loại thảm thực vật dựa vào tiêu chuẩn cấu trúc – ngoại mạo, mà những tiêu chuẩn đó ít hay nhiều có mối liên hệ chức năng giữa thảm thực vật và môi trường
Bảng 1.1: Các bậc phân loại và cách gọi tên các quần xã trong khung phân loại
A Dưới lớp
quần hệ
A1 Thường xanh A2 Rụng lá A3 Khô hạn – có gai
- Khí hậu vùng (nhiệt - ẩm, chế độ hạn)
a Quần hệ
(1) Dưới quần
hệ
1) Cây lá rộng (2) Cây lá kim
- Chủ yếu bởi sự phân hóa của địa hình – địa lý (Đai cao – độ vĩ)
- Chế độ thoát nước
- Đặc trưng thổ nhưỡng Hình thái lá, thân, hoặc thành phần của các chi, họ ưu thế của hệ thực vật đặc trưng
Trang 168
Tóm lại, mỗi nhà khoa học đều có cách tiếp cận và quan điểm phân loại thực vật riêng, nhưng có thể thấy rằng hiện nay trên thế giới có bốn nhóm nguyên tắc phân loại chính như sau:
+ Nhóm nguyên tắc phân loại lấy yếu tố hệ thực vật (thành phần loài)
+ Nhóm nguyên tắc phân loại theo đặc điểm ngoại mạo, cấu trúc của thực vật + Nhóm nguyên tắc phân loại dựa trên phân bố không gian
+ Nhóm nguyên tắc phân loại dựa trên phân tích các yếu tố phát sinh quần thể thực vật
+ Nhóm nguyên tắc phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973)
Trong 5 nhóm nguyên tắc trên, hệ thống phân loại của UNESCO (1973) là sự kết hợp các nguyên tắc ở mức độ khác nhau, dấu hiệu cơ bản của hệ thống này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin về sinh thái, địa lý… Do vậy, chúng tôi lựa chọn hệ thống phân loại của UNESCO (1973) để phân loại thảm thực vật tại KBTTN Tây Yên Tử - Sơn Động – Bắc Giang
1.2.2 Ở Việt Nam
Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra bảng phân loại thảm thực vật Bắc
Bộ – Việt Nam trong “Thống kê những lâm sản Bắc Bộ”, Chevalier chia rừng Bắc
Bộ thành mười kiểu Năm 1943, Maurand đã chia tám kiểu quần xã trong ba vùng chính của Đông Dương (vùng Bắc Đông Dương, vùng Nam Đông Dương và Trung Bộ) Tiếp đó, năm 1953, Maurand trên cơ sở các công trình nghiên cứu của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil có đưa ra bảng phân loại về các quần xã thực
vật Nam Việt Nam Năm 1956, Giáo sư Dương Hàm Hi trong cuốn “Tài nguyên
rừng Việt Nam” có đưa ra bảng phân loại về thảm thực vật rừng Bắc Việt Nam
(Dẫn theo Thái Văn Trừng, 1999) [38]
Trần Ngũ Phương (1970) [22] đưa ra bảng phân loại rừng Bắc Việt Nam Bảng phân loại này đã đề cập tới sự phân hóa của thảm thực vật theo đai cao cùng với sự phân hóa của khí hậu, thổ nhưỡng… và điều kiện nhân tác Ông phân chia rừng Bắc Việt Nam thành các đai rừng khí hậu chính như sau:
I Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, phân bố ở độ cao dưới 400m – 700m
Trang 17Bảng phân loại của Trần Ngũ Phương (1970) đã thống kê tương đối chi tiết các loại rừng khí hậu phân bố trên các loại đất rừng khác nhau của miền Bắc Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng cho phân tích các thảm thực vật rừng trong sinh cảnh của Linh trưởng
Năm 1970 và 1978, Thái Văn Trừng [36],[37] dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh, tác giả trình bày bảng phân loại thảm thực vật trên toàn lãnh thổ Việt Nam Trong đó, thảm thực vật Việt Nam được phân thành các kiểu, kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp Trong các yếu tố phát sinh thì yếu tố khí hậu là yếu
tố phát sinh ra các kiểu thảm thực vật, còn yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp Bảng phân loại của ông đưa ra hai nhóm kiểu thảm thực vật chủ yếu phân hóa theo đai cao là:
1 Nhóm những kiểu thảm thực vật nhiệt đới ở vùng thấp và vùng có độ cao trung bình dưới 700m ở miền Bắc và dưới 1000m ở miền Nam
2 Nhóm những kiểu thảm thực vật vùng núi có độ cao trên 700m ở miền Bắc
và trên 1000m ở miền Nam
Năm 1985, Phan Kế Lộc [16] vận dụng khung phân loại của UNESCO phân loại thảm thực vật Việt Nam Việc vận dụng khung phân loại này cho phép xác định
rõ ràng các đơn vị hình thái cấu trúc thảm thực vật hiện tại, không phân biệt trạng thái ổn định tạm thời hay cao đỉnh, nguyên sinh hay thứ sinh
Năm 1995, 1996 Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ và Trần Văn Thụy đã nghiên cứu các quần xã thực vật và xây dựng bản đồ thảm thực vật Vườn Quốc Gia Cúc Phương [21]
Trang 1810
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả trong nước hầu hết chỉ tập trung ở một vùng nghiên cứu cụ thể và phần lớn các tác giả đã dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973)[48] Song bên cạnh đó, một số tác giả còn dựa theo cách phân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng (1978) [37] để làm
rõ hơn ở mức độ nhóm kiểu trong các nghiên cứu của mình Mỗi một cách phân loại
có ưu và nhước điểm khác nhau Song tổng hợp lại các nghiên cứu sẽ cho ra một bức tranh tổng thể về quan điểm cũng như phương pháp loại thảm để từ đó tác giả
áp dụng vào trong nghiên cứu của mình Chúng tôi ứng dụngquan niệm phân loại thảm theo UNESCO (1973) để thực hiện đề tài luận văn trong nghiên cứu đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử
1.3 Tổng quan những nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ thực vật
1.3.1 Trên thế giới
Thực vật chí là một trong những tài liệu quan trọng nhất để đánh giá tính đa dạng sinh học hệ thực vật Nhiều công trình nghiên cứu trong khu vực gần Việt Nam đã soạn thảo thực vật chí như thực vật chí Thái Lan (1979 - 1997) 6 tập, thực vật chí Java (1963 - 1968) 3 tập, thực vật chí Đài Loan (1994 - 2000) 5 tập, thực vật chí Ấn Độ thuộc Anh (1872 - 1897) 6 tập và đang soạn thảo bổ sung mới, thực vật chí Vân Nam (1977 - 1997), thực vật chí Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1959 - 2000) 80 tập, các nước Maliaxia, Singapro, Philippin, Paqua new Giunea đang hợp tác xây dựng thực vật chí vùng Malaisia (1950 - 1989) 10 tập, …
Một số các nước Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Âu, Châu Đại Dương cũng đều
đã hoàn thành các công trình về đa dạng sinh vật cơ bản quốc gia như Mỹ, Canada, Liên bang Nga,v.v…Seidengaden (1992) nghiên cứu về họ Lan (Orclidaceac) ở Đông Dương Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vusotxki (1915), Alokhin (1904), Cratxit (1927), Sennhicop (1993), Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài là tiêu chí quan trọng trong nghiên cứu đa dạng sinh học hệ thực vật
Trang 1911
1.3.2 Ở Việt Nam
Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền
tảng đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do
H.Lecomte chủ biên năm (1907 – 1952) Các tác giả người Pháp đã xác định hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ bao gồm ngành hạt kín có 3366 loài,
1727 chi và 239 họ; ngành dương xỉ và họ hàng dương xỉ có 599 loài, 205 chi và 42 họ; ngành hạt trần có 39 loài, 18 chi và 8 họ (Thái Văn Trừng, 1978) [37]
Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [36]
Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ Năm 1996, ông đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới (Dẫn theo Vũ Đình Phương, 1987) [23]
Nguyễn Tiến Bân (1997) [1] đã thống kê thực vật hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam có 8.500 loài, 2.050 chi trong đó lớp 2 lá mầm 1.590 chi và trên 6.300 loài và lớp 1 lá mầm 460 chi với 2.200 loài Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [25], đã đưa
ra nhận định hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật
Phạm Hoàng Hộ (1970 – 1972) công bố hai tập “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam”
giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại 5246 loài thực vật có mạch Tiếp đó tác giả đã có tác phẩm thực vật cả nước là “Cây cỏ Việt Nam” tái bản 2 lần (1991- 1993 và 1999- 2000)[12], [13] tương đối đầy đủ và
dễ sử dụng để nghiên cứu vì có mô tả và hình vẽ, nhưng thiếu một số dẫn liệu
Công bố Orchidaceae Đông Dương của Seidenfaden (1992), Orchidaceae Việt Nam của Leonid V.Averyanov (1994), Euphorbiaceae Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1995, 2005), Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000), Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2000), Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2007) Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ
sở cho việc đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam
Trang 2012
1.3.3 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống thực vật phản ánh sự thích nghi của thực vật với môi trường trong một chu kỳ sinh trưởng, phổ dạng sống của một hệ thực vật phản ánh bản chất sinh thái của hệ thực vật với sự đa dạng phong phú trong môi trường tự nhiên Raunkiaer (1934) [43] là người đầu tiên phân chia dạng sống thông qua các vị trí chồi tái sinh của thực vật so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu sinh thái thực vật Bảng phân loại của Raukiaer chia ra 5 nhóm dạng sống cơ bản:
A Cây có chồi ở cao trên mặt đất (Phanerophytes): Ph
Trong đó được chia thành các dạng nhỏ:
1 Cây gỗ lớn có chồi trên mặt đất, cao trên 30m
(Megaphanerophytes): Meg
2 Cây lớn có chồi trên đất, từ 8-30m (Mesophanerophytes): Mes
3 Cây nhỏ có chồi trên đất, từ 2-8m (Microphanerophytes): Mi
4 Cây có chồi trên đất, lùn dưới 2m (Nanophanerophytes): Na
5 Cây có chồi trên đất, leo cuốn (Lianas phanerophytes): Lp
6 Cây có chồi trên đất, sống bì sinh (Epiphytes phanerophytes): Ep
7 Cây có chồi trên đất, thân thảo (Herb phanerophytes): PhH
8 Cây có chồi trên đất, mọng nước (Succelent phanerophytes): Suc
B Cây có chồi sát đất (Chamaetophytes): Ch
C Cây chồi nửa ẩn (Hemicryophytes): He
D Cây chồi ẩn (Crytophytes) :Cr
E Cây chồi 1 năm (Therophytes): Th
Raunkiaer đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và tìm được tỉ lệ phần trăm từng loài, từ đó xây dựng thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN :
SN = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13 Th
Lê Trần Chấn (1990) [7], dựa theo nguyên tắc phân chia của Raukiaer đã thống kê phổ dạng sống hệ thực vật Việt Nam:
SB = 54,6Ph + 10,0Ch + 21,4He + 10,6Cr + 5,6Th
Trang 2113
Đây là cơ sở để chúng tôi xây dựng phổ dạng sống và đánh giá bản chất sinh thái của hệ thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử
1.3.4 Những nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật
Gagnepain (1926) khi nghiên cứu về hệ thực vật Đông Dương xác định 5 yếu
tố địa lý hệ thực vật Đông Dương: Yếu tố Trung Hoa; Xích Kim – Himalaya; Malaysia và nhiệt đới khác; đặc hữu bán đảo Đông Dương; nhập nội và phân bố rộng (Dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978)[37] Thái Văn Trừng (1978) đã nghiên cứu
hệ thực vật Việt Nam và cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Tuy nhiên, sau đó tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân
tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và nâng tỉ lệ các loài đặc hữu bản địa chiếm 50% còn yếu tố di cư chiếm tỷ lệ 39%, các yếu tố khác chỉ chiếm 11%.Tiếp theo đó Pócs Tamás (1965) phân tích hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam, cho thấy có sự thay đổi về các yếu tố địa lý so với nghiên cứu trước đó của Gagnepain (1926) (Dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978)[37] Theo nguyên tắc Pócs Tamás đề ra trong
phạm vi tư liệu cho phép theo tài liệu “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt
Nam” Lê Trần Chấn (1999)[6] đã tổng hợp vận dụng và đánh giá cho hệ thực vật
Việt Nam Cách xác định các yếu tố địa lý này được chúng tôi vận dụng trong nghiên cứu của mình
1.4 Khái quát một số công trình nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, Bắc Giang
Từ khi được thành lập, khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử đã có nhiều tài liệu, công trình khoa học được công bố mang lại giá trị khoa học và thực tiễn, là cơ
sở nghiên cứu và ứng dụng quan trọng trong công tác bảo tồn
Nguyễn Khắc Khôi & nnk (2013) [15] trong công bố “Những loài thực vật
bậc cao có mạch quí hiếm ở khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ (Bắc Giang)” đã
thống kê được 45 loài loài bị đe dọa có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), 7 loài trong danh sách CITES và nhiều loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Nguyễn Văn Hoàn & ccs (2009) “Nghiên cứu về đặc điểm thảm thực vật tre
gỗ hỗn giao ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang” và “Nghiên cứu
Trang 2214
đặc điểm tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang” đã đưa ra các dẫn liệu về các quần xã thực vật ở đây [14]
Nguyễn Văn Sinh & cs (2011) đã nghiên cứu về mô hình hóa và mô phỏng
một hệ kinh tế nông hộ có rừng trồng thông tại xã Hữu Sản, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”; Phạm Quang Vinh (2010) [39] với công trình nghiên cứu “Một số đặc điểm lâm học loài sến mật (Madhuca pasquieri H J Lam) tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” đã được công bố trên Tạp chí
Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 8 năm 2010, …
Đây là những dẫn liệu khoa học có giá trị định hướng cho xây dựng cơ sở khoa học trong nghiên cứu tính đa dạng sinh học thực vật mang tính hệ thống, tiếp cận tổng hợp của đề tài luận văn
Trang 2315
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là hệ thực vật và thảm thực vật với các đặc trưng đa dạng sinh học của chúng thuộc khu bảo tồn Tây Yên Tử - huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá tính đa dạng hệ thực vật
2.2.1.1 Phương pháp thu thập, kế thừa
Sử dụng đế thu thập kế thừa có chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan tới đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng có liên quan đến khu vực nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thực vật của khu vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đã có, các báo cáo khoa học như là: Các nghiên cứu về đa dạng sinh học tại KBTTN Tây Yên Tử , Danh lục thực vật KBTTN Tây Yên Tử; các đề tài, luận văn nghiên cứu về KBTTN Tây Yên
Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Nguồn thu thập: Các số liệu được thu thập từ Phòng tài nguyên & môi trường huyện Sơn Động, BQL KBTTN Tây Yên Tử, UBND xã An Lạc, thị trấn Thanh Sơn, Thanh Luận, Tuấn Mậu
2.2.1.2 Phương pháp chuyên gia
Để đưa ra những phương pháp phù hợp với nội dung của luận văn, bên cạnh việc tham khảo những ý kiến hướng dẫn của thầy, cô giáo và cán bộ phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Sơn Động Chúng tôi lấy ý kiến của các cán bộ trực tiếp quản lý KBTTN Tây Yên Tử, bên cạnh đó còn tham khảo ý kiến của chuyên gia về lĩnh vực đa dạng sinh học thực vật…
2.2.1.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Điều tra thành phần hệ thực vật theo quan niệm và phương pháp truyền thống, định loại mẫu vật theo phương pháp chuyên gia và phương pháp so sánh hình thái Ngoài ra, báo cáo kế thừa các tư liệu khoa học đã công bố khác của các nhà thực
Trang 2416
vật học có uy tín đã công bố (trong danh mục tài liệu tham khảo).,từ đó lựa chọn một số loài đã xác định hoặc có khu phân bố phủ lên vùng nghiên cứu
Áp dụng phương pháp điều tra thực địa được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu
trong “Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1996) [25], “Các phương pháp
nghiên cứu thực vật” 2007 [29] và “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004) [27]:
Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến để tiến hành thu thập các dẫn liệu
về thảm thực vật, các quần xã thực vật và thành phần khu hệ thực vật; phỏng vấn nhanh người dân địa phương, cán bộ làm công tác quản lý để bổ sung thông tin về thành phần loài, các đặc điểm sinh học - sinh thái, phân bố của các loài Các tuyến điều tra phải đại diện cho các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu, chiều dài tuyến 1-1,5 km, trên các tuyến chính mở thêm 1-2 tuyến phụ rồi tiến hành điều tra trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến
Tiến hành ghi chép đặc điểm các tác động tự nhiên hay do con người tác động lên hệ thực vật, quan sát sự thay đổi của sinh cảnh trên tuyến điều tra, thống
kê các loài cây bắt gặp trên tuyến và khu vực lân cận tuyến
Tất cả các thông tin khác có liên quan đến các loài cây khi bắt gặp chúng như: tình trạng sống, vị trí mọc, mật độ, sinh trưởng…đều được ghi chép lại để phục vụ công tác nghiên cứu chi tiết Ngoài ra, sử dụng máy ảnh để ghi lại những thông tin cần thiết
Cụ thể gồm các bước là:
a.Thu mẫu
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận, đặc biệt là cành,
lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (đối với cây thảo nhỏ hay dương xỉ) Các cây lớn thu từ 3 – 5 mẫu trên cùng một cây; các cây thảo nhỏ và dương xỉ thì thu 3 – 5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của tiêu bản: 41 x 29 cm
Đối với trường hợp mẫu tiêu bản không đầy đủ các tiêu chuẩn trên, chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ, v.v.) các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho
Trang 25b.Ghi chép thông tin
Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả, v.v Trong đó, đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi vị của hoa, quả nếu có để có thể nhận biết được Ngoài ra, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh cảnh, mật độ, người thu mẫu
c.Lập danh lục
Từ các mẫu vật đã có tiến hành lập danh lục thực vật, tên khoa học của các
loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh
lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong các bảng danh lục có các cột là: Số thứ tự,
họ thực vật, tên khoa học, tên phổ thông, nơi sống, dạng sống, yếu tố địa lý, công dụng, tình trạng
Những tuyến khảo sát được tiến hành độc lập : Do đặc thù của KBTTN Tây
Yên Tử được chia làm 2 phân khu đó là Phân khu Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, Sơn
Động và Phân khu Thanh Lục Sơn thuộc 3 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Thanh Sơn, xã
Thanh Luận, xã Tuấn Mậu thuộc huyện Sơn Động và xã Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam Vì vậy, từ tháng 6/2015 đến tháng 9/2015 chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa trong ranh giới vùng nghiên cứu được tiến hành nhằm thu thập các tư liệu phân tích hệ sinh thái và là khóa giải đoán cho ảnh viễn thám Đáng chú
ý là các đợt khảo sát với các tuyến tuần tra:
Trạm Biểng - Suối đầu nguồn Khe Rỗ - Vũng Tròn - Chốt bảo vệ Nhà Sàn - đỉnh khu quần thể gỗ táu,sến
Tuyến Khe O: Trạm Biểng - chốt bảo vệ Nhà Sàn - Khau Chòn
Trang 262.2.1.4 Phương pháp phân tích, đánh giá
a Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong các ngành: Sau khi đã có danh sách sơ bộ chúng ta thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật và theo từng lớp đới với thực vật Hạt kín Sau đó lập bảng và phổ các nhóm đó
+ Đánh giá đa dạng các loài của họ: Sau khi đã có danh sách sơ bộ chúng ta thống
kê số loài, chi theo từng họ thực vật Sau đó lập bảng và phổ các nhóm đó, ở đây chúng tôi thống kê 10 họ có nhiều loài nhất
+ Đánh giá đa dạng loài của các chi: Sau khi đã có danh sách chúng ta thống kê số loài theo từng chi sau đó lập bảng và phổ các nhóm đó, ở đây chúng tôi chọn 10 chi
có nhiều loài nhất
b Đánh giá tính đa dạng về yếu tố địa lý thực vật
Đánh giá tính đa dạng về yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật vùng nghiên cứu dựa trên sự phân tích nơi tập trung cao nhất ranh giới các khu phân bố của các taxon thực vật bậc loài Các phân tích của tác giả tiến hành theo quy luật khu phân
bố địa lý và phân vùng địa lý thực vật, các quan niệm này thống nhất với kết quả phân tích yếu tố địa lý hệ thực vật Bắc Việt Nam (kéo dài tới vĩ tuyến 12) của Pocs’T (1965) [44] Các dẫn liệu này góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ đa dạng
và sự giao thoa phức tạp giữa hệ thực vật vùng nghiên cứu với các hệ thực vật khác
c Đánh giá sự đa dạng về các dạng sống
Các nguyên tắc đánh giá dựa trên sự phân chia dạng sống thực vật của Raunkiaer (1934) đƣợc áp dụng cho các loài thực vật thuộc hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử
d Đánh giá mức độ giàu loài quý hiếm và đa dạng tài nguyên thực vật
Trang 2719
Để đánh giá mức độ giàu loài quý hiếm chúng tôi dựa trên các tài liệu đã ban hành về sự nguy cấp của thực vật để đánh giá mức độ bị đe doạ của các loài thực
vật tại khu vực nghiên cứu Các tài liệu đó gồm: Sách Đỏ Việt Nam (2007) Ngoài
ra, chúng tôi còn căn cứ vào tình hình khai thác và sử dụng các loài cây tại địa phương để chỉ ra các loài có nguy cơ bị đe doạ trong khu vực nghiên cứu
Về đa dạng tài nguyên thực vật, các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu
gồm: Theo các tài liệu tham khảo chuyên ngành như: Danh lục các loài thực vật
Việt Nam [2, 3], Cây cỏ Việt Nam [14, 15], Từ điển cây thuốc Việt Nam [17],
1900 cây có ích [18], PROSEA [41] Xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá giá trị
sử dụng tài nguyên thực vật bao gồm: Cho gỗ, nguyên liệu giấy, sợi, tinh dầu, dầu béo, nhựa, cho tanin, làm thuốc, chất nhuộm, cây cảnh, thức ăn cho người, thức ăn gia súc, nguyên liệu xây dựng
2.2.1.5 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ được sử dụng nhằm thể hiện sự phân bố về mặt không gian, tình trạng, số lượng…của thực vật tại KBTTN Tây Yên Tử để từ đó đưa ra những đánh giá chính xác cho việc nghiên cứu, quản lý và phát triển KBT
Phần mềm được sử dụng trong phương pháp này là GIS (Mapinfo 12.05) Các tư liệu khảo sát thực địa được sử dụng là khóa giải đoán ảnh viễn thám SPOT
5 độ phân giải cao Những nội dung được thực hiện trong phương pháp này là : + Tổng hợp thông tin, phân tích, nhập số liệu từ ảnh vệ tinh
+ Tổ chức thông tin theo các lớp đối tượng
+ Tao lớp thông tin thảm thực vật theo bảng phân loại thích hợp
+ Phân tích các thuộc tính trong bảng chú giải
+ Các thuộc tính cấu trúc từng quần xã
+ Liên kết thông tin thuộc tính với các đối tượng bản đồ, tạo cở dữ liệu chồng ghép theo tiêu chí nhật định
+ Liên kết chồng xếp các lớp thông tin địa lý để xử lý GIS và tạo bản đồ tổng hợp cuối cùng
+ Biên tập, thiết kế trình bày và cho in ấn
Trang 2820
2.2.2 Đánh giá tính đa dạng các quần xã thực vật
Các phương pháp được sử dụng khác nhau cho nghiên cứu cấu trúc và thành phần loài của quần xã Quan điểm nghiên cứu được dựa trên phương pháp của Rollet (1974) (ghi theo Thái Văn Trừng, 1999) [38] và của UNESCO – 1973[48] Những nghiên cứu này mô tả mỗi quần xã nằm trong một loạt diễn thế từ một quần
xã cực đỉnh trên nền thổ nhưỡng và khí hậu được nghiên cứu Điều này trên thực tế không dễ dàng để được quần xã cực đỉnh, nhưng qua nghiên cứu các trạng thái khác nhau của loạt diễn thế có thể đưa tới cách nhìn tốt hơn về động lực phục hồi cũng như hình thái của mỗi trạng thái trong loạt diễn thế
Các phân tích về các điều kiện tự nhiên, mô tả thành phần loài trong mỗi một điểm thu mẫu cũng như mỗi một kiểu thảm thực vật được xem là những báo cáo thực tế thu thập từ ngoài thực địa
Trang 2921
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – nhân tác khu vực KBTTN Tây Yên
Tử, những nhân tố sinh thái hình thành và tác động tới đa dạng sinh học thực vật 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
KBTTN Tây Yên Tử có tổng diện tích đất rừng là 13.020,4 ha, nằm trên địa bàn của các xã An Lạc, Tuấn Mậu, Thanh Luận, Thị trấn Thanh Sơn (huyện Sơn Động), Lục Sơn (huyện Lục Nam)
Hình 3.1 Bản đồ Phân ban Khe Rỗ
Trang 3022
3.1.1.2 Địa chất, địa hình
KBTTN Tây Yên Tử nằm ở sườn Tây của dãy núi Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều, với đỉnh cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m so với mực nước biển) Địa thế thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc, độ dốc bình quân >300 Địa hình chia cắt phức tạp với nhiều vách đá dựng đứng Khu vực giáp tỉnh Quảng Ninh có độ dốc bình quân 35 – 400
- Đất Feralit điển hình, phân bố ở độ cao 200 – 300 m, tập trung chủ yếu ở khu Tây bắc KBT, hình thành trên đá mẹ Phiến thạch, Sa thạch Tầng đất từ trung bình đến dầy còn mang tính chất đất rừng Nơi còn rừng thì tầng đất sâu ẩm , đô ̣ phì cao, nơi mất rừ ng thì đất bi ̣ thoái hoá ma ̣nh, nghèo chất dinh dưỡng
Hình 3.2: Phân ban Thanh Lục Sơn
Trang 3123
Nhìn chung đất tại đây có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tầng đất trung bình có độ sâu từ 50 cm đến 1 m, đất tơi xốp, dễ thoát nước, khả năng dính kết kém, dễ bị xói mòn, rửa trôi nếu không duy trì tốt đ ộ che phủ của rừng, phù hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp
3.1.1.4 Khí hậu
KBTTN Tây Yên Tử nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc trưng chung của khí hậu vùng Đông bắc, có mùa đông lạnh giá, ít mưa Do nằm trong vùng có vị trí địa lý, địa hình phức tạp, nằm trọn trong vòng cung Đông Triều nên khí hậu ở phân ban Khe Rỗ có những nét riêng biệt so với các vùng khác của tỉnh Bắc Giang cũng như cả vùng Đông Bắc Có hiện tượng sương muối, sương mù xuất hiện ở các đỉnh núi cao
Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Giang, nhiệt độ trung bình năm là 230C (trung bình tháng cao nhất là 28,50C, trung bình tháng thấp nhất là 15,10C) Hàng năm, nhiệt độ xuống thấp nhất là vào các tháng 1 - 3 và 11, 12 từ 8,430C đến 14,90C thời gian này xuất hiện nhiều sương mù và sương muối Nhiệt độ tăng dần lên ở tháng 4 - 7 cao nhất là 310C đến 34,60
C
Độ ẩm không khí bình quân các năm là 82%, tháng cao nhất là 85,7% (tháng
8, tháng 9), thấp nhất là 75,3% (tháng 1), tập trung vào các tháng có lượng mưa nhiều Lượng mưa trung bình năm là 1.483,3 mm (trung bình tháng cao nhất là 317,1 mm; trung bình tháng thấp nhất là 11,4 mm) Tổng số ngày mưa là 128 ngày, tập trung vào các tháng 5 - 9
Lươ ̣ng bốc hơi trung bình hàng năm là 1.050 mm, trung bình tháng cao nhất
là 114 mm, tháng thấp nhất là 69 mm và thường bốc hơi ma ̣nh vào các tháng 5 - 7 Sương mù thường xuất hiện vào các tháng 1,2, 9, 10,11,12, trong đó các tháng 1,11,12 thỉnh thoáng có sương muối gây thiệt hại cho cây trồng và vật nuôi Khu vực này chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa là gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông, kèm theo mưa phùn và giá lạnh (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau); gió mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 10 kèm theo mưa Chế độ khí hậu này ảnh hưởng quyết định tới sự tồn tại hệ sinh thái rừng rậm thường xanh trong khu vực
Trang 3224
3.1.1.5 Thủy văn
KBTTN Tây Yên Tử là nơi đầu nguồn của ba con suối như: Suối Khe Rỗ, Khe Đin, Khe Nước Vàng Đây là những con suối đ ầu nguồn sông Lu ̣c Nam , do rừng đầu nguồn được quản lý bảo vê ̣ tốt nên các con suối trên có nước quanh năm ,
là nguồn cung cấp nước cho r ừng, đảm bảo sinh hoa ̣t và sản xuất cho nhân dân đ ịa phương
3.1.1.6 Thực vật và Tài nguyên rừng
Về vai trò của hệ thực vật trong thành tạo cấu trúc thảm thực vật, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, rừng trong KBTT Tây Yên Tử có khoảng 1189 loài thực vật, thuộc 625 chi, 159 họ, được đánh giá là nơi có độ đa dạng khá cao về loài, đa dạng
về các chi, các họ thực vật Trong số các loài thực vật đó, có 78 loài thực vật quý hiếm Rừng KBTTN Tây Yên Tử đã được đánh giá là một trong những nơi có nhiều loài thực vật quý hiếm nhất của vùng Đông Bắc Việt Nam Theo dự báo của các nhà thực vật học có uy tín, hệ thực vật khu vực nghiên cứu, vùng đặc trưng cho
hệ sinh thái rừng nhiệt đới có thể lên tới 2000 loài thực vật bậc cao có mạch Điều này có nghĩa là vùng nghiên cứu và lân cận còn tiềm ẩn nhiều nguồn gien quí hiếm
có giá trị cần được bảo tồn
3.1.2 Nhân tác
Hoàn toàn có cơ sở cho rằng, trước khi có sự tác động của con người, trên nền khí hậu và thổ nhưỡng này đã hình thành và phát triển các loại hình cây gỗ thường xanh chiếm ưu thế và các quần xã do chúng tạo thành đã bao phủ toàn bộ khu vực nghiên cứu Trên bản đồ thống kê lâm học của Maurand (1943) chỉ ra rằng, cách đây 65 năm, hầu hết các vùng đồi núi và trung du, nơi con người còn ít tác động, rừng rậm thường xanh nhiệt đới đã bao phủ toàn bộ Rừng tự nhiên chiếm lĩnh hầu hết vùng nghiên cứu Đến nay, nhiều diện tích đã bị khai thác nhường chỗ cho những quần xã thứ sinh hoặc quần xã nhân tác như nương rẫy, hoang hóa….Các quần xã thứ sinh phục hồi chủ yếu là các loài có biên độ sinh thái rộng, ưa sáng, chịu hạn Thực trạng này là kết quả của các hoạt động của con người trong khu vực
Trang 3325
Khu BTTN Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang nằm trên địa bàn 4 xã 1 thị trấn với
7 dân tộc anh em cùng sinh sống Phần lớn dân số trong vùng là cộng đồng dân tộc Tày 10.052 người chiếm 53,78%, dân tộc Dao 5.030 người chiếm 26,91%, dân tộc kinh 2.063 người chiếm 2,57%, dân tộc khác 345 người chiếm 1,85% Các dân tộc
đã có quá trình cộng cư lâu đời giao lưu cả về kinh tế, văn hoá và hôn nhân, nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng riêng về văn hoá dân gian truyền thống của dân tộc mình như: văn hóa luật tục, văn hóa lễ hội, và nhạc cụ dân tộc, các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, dệt thổ cẩm, đan lát Tổng dân số hiện đang sinh sống trên địa bàn 5 xã vùng KBTTN Tây Yên Tử
có 18.692 người; bình quân từ 4 5 người/hộ, trong khu vực dân số nam là: 9.456 người chiếm 50,58% nhân khẩu khu vực, dân số nữ là 9.236 người chiếm 49,42% nhân khẩu khu vực Mật độ dân số trung bình trong vùng là 72 người/km2 Mật độ cao nhất là thị trấn Thanh Sơn 178 người/km2, mật độ thấp nhất xã An Lạc 27 người/km2 Hiện tại có 03 thôn đặc biệt khó khăn sống sen kẽ khu phục hồi sinh thái và gây ra nhiều tác động lớn đến KBT Các thôn này bao gồm thôn Đồng Thông và thôn Mậu ở xã Tuấn Mậu, và thôn Nà Trắng ở xã An Lạc gồm 265 hộ dân Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của các xã nằm trong khu vực KBTTN Tây Yên Tử Nhưng với diện tích gieo trồng còn nhỏ hẹp, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người dân chỉ dựa vào nông nghiệp là rất khó khăn Năng suất bình quân đầu người chỉ đạt 361 kg lương thực/người/năm.Sản xuất cây công nghiệp như Chè, Sắn, Ngô đang được coi là một giải pháp xoá đói giảm nghèo của nhân dân trong KBT Nhưng với quỹ đất nông nghiệp h ạn hẹp, chưa có quy hoạch nên sản xuất còn diễn ra manh mún và tự phát cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất cây trồng không cao
Tất cả các điều kiện ở trên cho thấy dưới áp lực của điều kiện sống, nhiều diện tích đất đã trở thành đất nông nghiệp, nhiều diện tích rừng tự nhiên đã bị khai thác, tác động trở thành các trảnh cỏ, trảng cây bụi thứ sinh hoặc trở thành những diện tích rừng trồng
Trong những năm gần đây, để bảo tồn những diện tích rừng trong khu vực, sở Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang đã thực hiện kế hoạch lâ ̣p hồ sơ giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho các BQL Năm 2011 BQL đã được giao như sau:
Trang 3426
Phân khu An La ̣c tổng diê ̣n tích 5.320,44 ha, đất có rừng 4.761,83 ha, đất chưa có rừng 543,74 ha, đất trụ sở cơ quan 1,11 ha và đất mă ̣t nước 13,76 ha Phân khu Thanh Lu ̣c Sơn tổng diê ̣n tích 6.743,76 ha trong đó đất có rừng 6.672,01 đất chưa có rừng 71,74 ha.Từ năm 2002 đến 2011, khu Đặc dụng Tây Yên Tử đã được đầu tư như sau:
- Đã được hỗ trợ đầu tư xây dựng được 5 trạm bảo vệ rừng (trong đó có 4 trạm đươ ̣c xây nhà cấp IV nhưng diê ̣n tích sử du ̣ng nhỏ và chưa có tường rào bảo vê ̣ còn lại 1 trạm hiện vẫn đang đi mượn nhà của dân làm trụ sở ) còn lại 3 chốt bảo vê ̣ rừng thì 2 chốt là nhà sàn bằng gỗ và 1 trạm nhà xây nh ưng còn ta ̣m bợ Các trang thiết bị phục vụ PCCCR như: máy thổi gió, bình bọt chữa cháy dụng cu ̣ bảo hô ̣ phòng chống cháy rừng tổng kinh phí đầu tư là: 2.078,9 triệu đồng
Như vậy, từ năm 2005 đến nay tổng đầu tư cho các hoạt động bảo vê ̣ và phát triển rừng trong khu BTTN Tây Yên T ử là: 12.571,2 triệu đồng Rừng hiện có trong khu đặc dụng được bảo vệ tốt, trong khu đặc dụng đã chấm dứt nạn khai thác chặt phá rừng và săn bắt chim thú, chất lượng rừng được cải thiện rõ rệt
Bảng 3.2 Diện tích các loại rừng trong KBT
Đơn vị : ha
Hạng mục Tổng
Chia ra các xã Lục
Sơn An la ̣c
Tuấn
Mâ ̣u
Thanh Luâ ̣n
TT Thanh Sơn
Trang 35- Rừ ng trung bình : Diện tích 3.243,6 ha, chiếm 27% rừng tự nhiên Rừng có cấu trúc 4-5 tầng; độ tàn che từ 0,6-0,8; chiều cao trung bình của rừng đạt 16-18m; đường kính trung bình của cây rừng từ 20-25 cm; trữ lượng bình quân của rừng từ 170-
185 m3/ha Trạng thái này tập trung các loài ưu thế riêng biê ̣t như: Lim xanh, Gụ lau, Đinh… ngoài ra còn có Xoan đào, Dẻ cau, Mai vàng và một số lô rừng hỗn giao gỗ với Vầu, Sặt, Giang…
- Rừ ng nghèo: Diện tích 1.923,1 ha, chiếm 16% rừng tự nhiên; rừng phân bố rộng khắp ở phân khu phục hồi sinh thái và quanh khu dân cư Rừng có cấu trúc 2-4 tầng; đường kính trung bình của cây rừng từ 12-14 cm; còn rất ít cây có đường kính
từ 40-50 cm; trữ lượng bình quân của rừng từ 90-100 m3/ha Thực vật chủ yếu là: Ràng ràng xanh, Nóng, Giẻ, Trám trắng, Nhọc, Chẹo…dưới tán rừng nhiều dây leo, bụi rậm
- Rừ ng phu ̣c hồi: Diện tích: 3.739,9 ha, chiếm 32% rừng tự nhiên Đây là trạng thái rừng được hình thành sau nương rãy và sau khai thác; phân bố chủ yếu tại phân khu phu ̣c hồi sinh thái Rừng có cấu trúc 2-3 tầng, đường kính trung bình 12-16 cm Thực vật chủ yếu gồm: Giẻ, Re, Thẩu tấu, Sau sau, Chẹo, Ba soi, Hoắc quang…
- Rừng hỗn giao: Diện tích 477 ha, chiếm 4% diện tích rừng tự nhiên; rừng phân bố trong vù ng phu ̣c hồi sinh thái và ở những nơi khe suối sâu Rừng hỗn giao giữa rừng gỗ và Vầu, Sặt, Giang; rừng có 2-3 tầng, trữ lượng 70- 120 m3/ha
Trang 363.2 Tính đa dạng sinh học hệ thực vật
3.2.1 Đa dạng loài thực vật
Theo các tài liệu điều tra khảo sát thực địa và dựa trên các số liệu kế thừa, các số liệu thu thập mẫu, phân tích mẫu kết quả ghi nhận được ở KBTTN Tây Yên
Tử có khoảng 1189 loài thực vật bậc cao có mạch Các loài này được chỉnh lý tên
khoa học, tên Việt Nam và thu thập các thông tin về dạng sống, yếu tố địa lý, công dụng Kết quả danh lục thành phần loài được trình bày trong phụ lục I của luận văn
Theo thống kê của chúng tôi, hệ thực vật của KBTTN Tây Yên Tử có 1189 loài, thuộc 625 chi, 159 họ của 6 ngành, 2 lớp thực vật bậc cao có mạch (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Phân bố các taxon trong các ngành thực vật bậc cao có mạch ở KBTTN
Tây Yên Tử
Từ các số liệu trên, có thể thấy mức độ phong phú các loài, chi và họ tập trung chủ yếu ở hai ngành là Dương xỉ (Polypodiophyta) và Mộc Lan (Magnoliophyta), trong đó ngành Mộc Lan (Magnoliophyta) luôn đóng vai trò
Trang 3729
thống trị tuyệt đối trong cấu trúc hệ thực vật với tổng số 1189 loài (93,608%), 587 chi (94,92%), 130 họ (81,76%) của cả hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử, tiếp đó là Dương Xỉ (Polypodiophyta) có 59 loài (4,962%), 29 chi (4,64%), 21 họ (13,21%) thể hiện rõ vai trò của chúng trong hệ sinh thái rừng nguyên sinh nhiệt đới ít bị tác động, chiếm ưu thế trong tầng cỏ - khuyết thực vật; Thông đất (Lycopodiophyta) 8 loài (0,673%), 3 chi (0,48%), 2 họ (1,26%) và ngành Thông (Pinophyta) 7 loài (0,589%), 4 chi (0,64%), 4 họ (2,52%) Còn lại 2 ngành có số loài thấp nhất là Lá thông (Psilotophyta) và ngành thân đốt (Equisetophyta), mỗi ngành chỉ có 1 loài (0,084%), 1 chi (0,16%) và 1 họ (0,63%) Nếu so với các hệ thực vật khác trong khu vực, ngành Thông (Pinophyta) có ý nghĩa quan trọng, KBTTN Tây Yên Tử là một trong số ít địa danh nước ta có số lượng loài khá phong phú, có tới 7 loài Những loài hạt trần tự nhiên của KBTTN Tây Yên Tử khá nổi tiếng, đóng vai trò quan
trọng trong cấu trúc rừng như các loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A.Henry
& H.H Thomas); Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus (Blume) de Laub).; Thông tre (Podocarpus neriifolius D.Don)…
3.2.2 Đa dạng ở bậc họ
Mức độ đa dạng và tính ổn định của hệ thực vật thường được tính theo hệ số chi (tỷ số trung bình của số loài / số chi) và hệ số họ (tỷ số trung bình của số chi/số họ) cũng như số loài trung bình của một họ Hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử có hệ
số chi là 1,902 (trung bình có 1,902 loài /1chi), hệ số họ 3,93 (trung bình có 3,93 chi/1 họ), số loài trung bình của 1 họ là 7,47 Nếu so sánh với hệ thực vật Việt Nam (hệ số chi 4,4; hệ số họ 8,4; số loài trung bình của một họ 37,9) thì các hệ số trên thấp hơn nhiều, điều này phù hợp với quy luật phân bố của hệ thực vật và nó chỉ ra rằng hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử là một trong những đơn vị cấu thành tính đa dạng hệ thực vật Việt Nam
Hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử có tỷ lệ số loài của ngành Mộc lan – lớp hai
lá mầm (Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) khá cao tới 4,03 lần trong khi hệ thực vật Việt Nam tỷ lệ này là 3,2, hệ thực vật Cúc Phương 3,8 Có thể các dẫn liệu điều tra về các loài thuộc lớp 1 lá mầm còn chưa đầy đủ, cần điều tra bổ sung thêm Tuy nhiên hệ số này cũng tỏ ra phù hợp với nhận định của De Candolle [trích theo
Trang 3830
Lê Trần Chấn 1999]: “tỷ lệ lớp một lá mầm giảm xuống khi đi từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo” và điều này khẳng định bản chất sinh thái của hệ thực vật nhiệt đới KBTTN Tây Yên Tử
Các họ giàu loài nhất hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử
Xét về tỷ trọng 10 họ giàu loài nhất: Đối với bất kỳ hệ thực vật nào thì sự phân tích tỷ lệ tổng số loài của 10 họ thực vật giầu loài nhất trên tổng số loài hệ thực vật
là dẫn liệu hết sức quan trọng để phân biệt bản chất sinh thái và mức độ đa dạng loài của hệ thực vật Đối với các hệ thực vật kém đa dạng vùng cực hoặc vùng hàn đới, tổng số loài của 10 họ giầu loài nhất bao giờ cũng chiếm ưu thế tuyệt đối, thường trên 70% tổng số loài hệ thực vật, trong khi đó những hệ thực vật nhiệt đới
đa dạng phong phú thì tỷ trọng số loài của 10 họ giầu loài nhất trên tổng số loài hệ thực vật không bao giờ vượt quá 50% Để đánh giá mức độ quan trọng của 10 họ giầu loài trong hệ thực vật vùng nghiên cứu, có thể so sánh vai trò của chúng giữa hai hệ thực vật như sau:
Bảng 3.4 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật Việt Nam
Trang 3931
Bảng 3.5 Tỷ lệ % mười họ giầu loài nhất hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử
TT Tên họ khoa học Tên họ Việt
399 loài chiếm tỷ trọng 33,56% tổng số loài hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử , trong khi đó 10 họ giầu loài nhất của Việt Nam là Đậu (Fabaceae) 628 loài, Lan (Orchidaceae) 621 loài, Lúa (Poaceae) 516 loài, Cà phê (Rubiaceae) 425 loài, Thầu dầu (Euphorbiaceae) 405 loài, Cói (Cyperaceae) 325 loài, Cúc (Asteraceae) 293 loài, Long não (Lauraceae) 244 loài, Dẻ (Fagaceae) 213 loài, Ô rô (Acanthaceae)
195 loài So với hệ thực vật Bắc Việt Nam, tỷ trọng đó có sự thay đổi Chỉ có 8 trong số 10 họ trùng nhau (Họ Hoà thảo (Poaceae), Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae),
Họ Cà phê (Rubiaceae ), Họ Long não (Lauraceae ), Họ Đậu (Fabaceae), Họ Lan (Orchidaceae ), Họ Cói (Cyperaceae ), Họ Cúc (Asteraceae )) 2 họ không trùng là
Trang 4032
Họ Dâu tằm (Moraceae), Họ Gừng (Zingiberaceae ) Nếu xét tỷ trọng 10 họ giàu loài kể trên, trong hệ thực vật Việt Nam chúng chiếm khoảng 37,9% tổng số loài đã biết của hệ thực vật, trong khi hệ thực vật KBTTN Tây Yên Tử chỉ chiếm 33,56%
Sự khác biệt nhỏ này phản ánh sự khác nhau về kích thước hệ thực vật, nhưng các
số liệu của cả 2 hệ thực vật trên chứng tỏ chúng đều là những hệ thực vật nhiệt đới
đa dạng và cấu thành các hệ sinh thái rừng nguyên sinh nhiệt đới ít bị tác động
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ của 10 họ đa dạng nhất hệ thực vật bậc cao có mạch thuộc
KBTTN Tây Yên Tử
3.2.3 Đa dạng về dạng sống
Tính thích ứng sinh thái của thực vật được hiểu là sự đa dạng về dạng sống nhằm thích ứng được với các điều kiện sống bất lợi nhất cho chúng để tồn tại và lặp lại chu kỳ sinh trưởng Để đánh giá được bản chất sinh thái của hệ thực vật cần phải tiến hành đánh giá phân loại dạng sống của các loài thực vật và phổ dạng sống do chúng tạo thành Người đầu tiên đưa ra cách phân loại dạng sống là
C Raunkiaer, sau này được gọi là Raunkiaer's plant life forms (phổ dạng sống của Raunkiaer – 1934)
Trên cơ sở thu thập số liệu và mẫu vật thực vật xác định dạng sống của từng loài, có thể đưa ra bảng thống kê tỷ lệ dạng sống các loài thực vật KBTTN Tây Yên
Tử như sau: