1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tổng hợp và nghiên cứu một số tính chất vật lý của vật liệu nano tio2 pha tạp kim loại chuyển tiếp

92 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, Thạch Khê lại là một khu vực có điều kiện địa chất và tự nhiên cực kỳ phức tạp do thân khoáng sàng nằm sát biển, quặng phân bố sâu dưới mực nước biển, có lớp đất phủ mềm yếu,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

NGUYỄN THỊ MINH HẢI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MỎ SẮT THẠCH KHÊ - HÀ TĨNH

VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-*** -

NGUYỄN THỊ MINH HẢI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MỎ SẮT THẠCH KHÊ - HÀ TĨNH

VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Nguyễn Mạnh Khải

TS Lê Ngọc Ninh

Hà Nội, 2015

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Mạnh Khải và TS Lê Ngọc Ninh Người đã tận tình hướng dẫn tôi, luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi tới các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội lời cảm ơn sâu sắc vì sự quan tâm và những

ý kiến đóng góp quí báu cho đề tài luận văn

Xin cảm ơn các lãnh đạo, cô chú, anh chị trong Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Tổng cục Môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong xuốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tận tình ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Học viên: Nguyễn Thị Minh Hải

Trang 4

ii

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 3

1.1.Tài nguyên 3

1.1.1 Tài nguyên 3

1.1.2 Phân loại tài nguyên 3

1.1.3 Tính chất tài nguyên 4

1.1.4 Các loại tài nguyên khoáng sản ở nước ta 5

1.2 Vấn đề khai thác tài nguyên và môi trường 6

1.2.1 Khai thác tài nguyên khoáng sản 7

1.2.2 Tình hình khai thác quặng sắt trên thế giới 13

1.2.3 Tình hình khai thác các mỏ sắt ở Việt Nam 14

1.2.4 Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản 16

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên và KT-XH khu vực Thạch Khê 21

1.3.1 Vị trí địa lý, địa chất địa hình 21

1.3.2 Điều kiện về khí tượng 25

1.3.3 Điệu kiện thủy văn 25

1.3.4 Điều kiện kinh tế xã hội 26

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

CHƯƠNG 3 - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng khai thác tại khu vực mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh 32

3.2 Thực trạng chất lượng môi trường khu vực mỏ sắt Thạch Khê 37

3.2.1 Thực trạng chất lượng môi trường không khí 37

3.2.2 Thực trạng chất lượng môi trường nước 40

Trang 5

iii

3.2.3 Thực trạng chất lượng môi trường đất 50

3.2.4 Tác động đến Hệ sinh thái và cảnh quan môi trường 53

3.2.5 Các vấn đề xung đột tự nhiên 54

3.3 Một số vấn đề môi trường chính và giải pháp đã và đang thực hiện 56

3.3.1 Xác định các vấn đề môi trường chính 56

3.3.2 Công tác BVMT Dự án đã thực hiện 64

3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường 66

3.4.1 Đối với cấp quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền trung ương và địa phương 66

3.4.2 Các giải pháp về quản lý môi trường đối với Chủ dự án 68

3.4.2 Đề xuất giải pháp kỹ thuật 71

Kết luận và Kiến nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 77

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

ngầm

46

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC HÌNH

thiên nhiên và môi trường

6

40

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GPMB-TĐC Giải phóng mặt bằng tái định cư

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

Quặng sắt Thạch Khê là một nguồn tài nguyên dồi dào, có thể đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp gang thép của Đất nước ở hiện tại và tương lai Tuy nhiên, Thạch Khê lại là một khu vực có điều kiện địa chất và tự nhiên cực kỳ phức tạp do thân khoáng sàng nằm sát biển, quặng phân bố sâu dưới mực nước biển, có lớp đất phủ mềm yếu, bở rời và nước ngầm khá phức tạp…do vậy, để khai thác được thân quặng này sẽ tiềm ẩn nhiều sự cố không những về mặt công nghệ mà còn rủi ro về môi trường khi tiến hành khai thác

Mỏ quặng sắt Thạch Khê được phát hiện từ những năm 1961 - 1962 khi tiến hành lập bản đồ toàn miền Bắc Từ năm 1976 - 1985 các chuyên gia đã tiến hành thăm dò chi tiết địa chất mỏ khu vực này Kết quả thăm dò đã được Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 153/QĐHĐ ngày 12/4/1985 với tổng trữ lượng là 544.080.100 tấn tính đến độ sâu -750 m Mặc dù còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về khả năng khai thác và sử dụng quặng sắt Thạch Khê nhưng tất cả các nghiên cứu trên đều cho rằng “Mỏ quặng sắt Thạch Khê là mỏ quặng sắt có trữ lượng lớn nhất Việt nam, quặng có hàm lượng sắt cao (Fe ~ 60 %); hàm lượng kẽm cao (Zn ~ 0,07 %) so với quặng sắt của một số nước trên thế giới” [10]

Dự án Đầu tư khai thác, tuyển và xử lý quặng sắt mỏ Thạch Khê (sau đây gọi tắt là Dự án) là một dự án khai thác quặng sắt trọng điểm của Việt Nam, đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự

án vào năm 2008 Dự án đi vào hoạt động có nhiều tác động tích cực không những cho khu vực mỏ và vùng phụ cận thuộc tỉnh Hà Tĩnh mà còn cho cả nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, bên cạnh các tác động tích cực, hoạt động của Dự án cũng đã gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của khu vực mỏ và vùng phụ cận Sau khi Dự án đi vào hoạt động vài năm gần đây, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố

về kinh tế và vốn đầu tư nên Dự án đã tạm dừng hoạt động một thời gian, đến năm

2013 Dự án được điều chỉnh lại thiết kế, thu nhỏ quy mô dự án, và thay đổi phương

Trang 10

sự và được thực hiện với mục tiêu và nội dung chính dưới đây:

Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng chất lượng môi trường khu vực mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh trong giai đoạn gần đây

- Xác định được một số vấn đề môi trường do hoạt động khai thác và chế biện quặng tại mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh

- Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường phù hợp

Nội dung và phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu tổng quan về thực trạng khai thác

- Nghiên cứu về thực trạng môi trường của khu vực dự án mỏ sắt Thạch Khê

- Nghiên cứu về một số vấn đề môi trường phát sinh trong khai thác sắt tại

mỏ sắt Thạch Khê

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý và một số giải pháp kỹ thuật phục

vụ công tác bảo vệ môi trường khu vực mỏ Thạch Khê

Trang 11

3

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Tài nguyên

1.1.1 Tài nguyên:

Tài nguyên là thành phần cơ bản tạo nên môi trường của con người Không

có tài nguyên thì không có môi trường Theo nghĩa rộng thì tài nguyên bao gồm tất

cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian

vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình [13]

Tài nguyên bao gồm tài nguyên thiên nhiên (gắn liền với các nhân tố thiên nhiên) và tài nguyên con người (gắn liền với các nhân tố con người và xã hội)

Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) bao gồm các thuộc tính: Thuộc tính thứ nhất: TNTN phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái Đất và trên một vùng lãnh thổ có thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia Thuộc tính thứ hai: Đại bộ phận các nguồn TNTN có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của tự nhiên và lịch sử

1.1.2 Phân loại tài nguyên:

* Có nhiều cách phân loại tài nguyên:

- Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội

- Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo

- Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin

- Phân loại theo quan điểm hệ thống: tài nguyên cấu trúc, tài nguyên vận hành, tài nguyên năng suất

* Trong các loại tài nguyên nói trên có loại tài nguyên tái tạo được và có loại tài nguyên không thể tái tạo được [9]

Trang 12

4

- Tài nguyên tái tạo được là những tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý một cách hợp lý Năng lượng mặt trời, năng lượng nước, gió, tài nguyên sinh học là những tài nguyên tái tạo được Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo đặc biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người

- Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng Các loại khoáng sản, nhiên liệu khoáng, các thông tin di truyền bị mai một không giữ lại được cho đời sau,… là những tài nguyên không tái tạo được

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác

1.1.3 Tính chất tài nguyên

- Số lượng giới hạn: Đặc tính riêng biệt của những nguồn tài nguyên không

có khả năng tái sinh là có một tổng trữ lượng cố định do thiên nhiên tạo ra, do vậy hiện tại càng sử dụng nhiều thì trong tương lai tính khan hiếm lại càng cao, khái niệm về sản lượng bền vững sẽ không phù hợp đối với nguồn tài nguyên này, thay vào đó điều chúng ta cần quan tâm trong quản lý nguồn tài nguyên không tái sinh là tốc độ cạn kiệt dần và số lượng nên khai thác là bao nhiêu cho nền kinh tế

- Giá trị hàng hóa: Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển (cơ sở để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp ) Tài nguyên thiên nhiên có giá trị hàng hóa và là nguồn lực để phát triển kinh tế [8]

Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên có tính khan hiếm vì quá trình hình thành khoáng sản trải qua hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu năm Trong khí đó, nhịp độ sử dụng khoáng sản tăng lên hàng ngày, hàng giờ (trong vòng 20 năm trở lại, bôxít tăng 9 lần, khí đốt tăng 5 lần, dầu mỏ tăng 4 lần, than đá tăng 2 lần, quặng

Trang 13

5

sắt, mangan, phosphat, muối kali đều tăng từ 2-3 lần) Điều này cho thấy viễn cảnh

về sự khan hiếm tài nguyên khoáng sản và có ý nghĩa quan trọng để xác định chính xác khả năng phục vụ cho nền kinh tế của từng loại quặng

1.1.4 Các loại tài nguyên khoáng sản chủ yếu ở nước ta

trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh

mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người, bên cạnh đó việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các

Việt Nam có nguồn khoáng sản rất đa dạng, bao gồm hàng trăm loại khoáng sản như dầu khí, than, các loại quặng kim loại và phi kim Khoảng hơn 5.000 các loại điểm quặng và khoáng sàng đã được tìm thấy, các loại khoáng sản có quy mô lớn [7]:

- Than: trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn ở độ sâu 300 m (1991), chủ yếu là ở Quảng Ninh, Thái Nguyên

- Dầu mỏ: tập trung trong các trầm tích trẻ tuổi miên ở đồng bằng ven biển

và thềm lục địa Trữ lượng Vịnh Bắc Bộ là 500 triệu tấn, Nam Côn Sơn 400 triệu tấn, Ðồng Bằng Sông Cửu Long 300 triệu tấn, Vịnh Thái Lan 300 triệu tấn

- Boxit: trữ lượng vài tỉ tấn, hàm lượng quặng cao, chất lượng tốt, tập trung nhiều ở Nam Việt Nam

- Thiếc: ở Tĩnh Túc - Cao Bằng có hàng chục ngàn tấn, khai thác còn ít, trữ lượng 129.000 tấn

- Sắt: phân bố ở Bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, Hà Tĩnh, ven Sông Hồng Trữ lượng khoảng gần 1,2 tỉ tấn

- Apatit: trữ lượng trên 1 tỉ tấn

Trang 14

6

- Ðồng: trữ lượng khoảng 600 ngàn tấn, khai thác còn ít

- Crom: trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, chất lượng không cao

- Vàng: phân bố nhiều ở Bồng Miêu - Bắc Lạng ; vàng sa khoáng quy mô nhỏ ở Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Tuyên , trữ lượng khoảng 100 tấn

- Ðá quý: có nhiều ở sông Chảy (Yên Bái), Thanh Hóa, Nghệ An, Ðông Nam

Con người khai thác tài nguyên để sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu của cuộc sống Dân số ngày càng tăng, tri thức, kỹ năng và phương tiện ngày càng hiện đại, việc sử dụng TNTN ngày càng mạnh mẽ ở quy mô rộng lớn, tất yếu sẽ dẫn đến

sự gia tăng suy thoái tài nguyên và môi trường (xem Hình 1.1)

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa con người, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Trang 15

7

1.2.1 Khai thác tài nguyên khoáng sản ở nước ta

Tuy không phải là tác nhân chủ yếu trong việc làm suy giảm môi trường sinh thái, nhưng những hoạt động của khai thác tài nguyên khoáng sản cũng có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể đến sự thu hẹp diện tích đất đai canh tác và thảm thực vật, làm biến động các dòng chảy đầu nguồn cũng như chất lượng của nguồn nước ngầm và nước mặt, gây ồn và bụi, gây chấn động nền móng công trình, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, tác động xấu vào tính đa dạng sinh học của môi trường tự nhiên,… Quá trình khai thác khoáng sản phục vụ cho lợi ích của mình, con người làm thay đổi môi trường xung quanh Hoạt động của các mỏ khoáng sản khai thác than, quặng, phi quặng và vật liệu xây dựng đã phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái

tự nhiên đã hình thành từ hàng tỷ năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và ngày càng trở nên vấn đề cấp bách, mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng [7]

ra hậu quả ô nhiễm nghiêm trọng môi trường không khí Ngoài ra, đất đá thải còn

có tác động làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ cảnh quan khu vực

* Khai thác đá, cát, vật liệu xây dựng:

Đặc điểm ô nhiễm lớn nhất khi khai thác các khoáng sàng đá vật liệu xây dựng là làm thay đổi cảnh quan khu vực (đặc biệt là ở những vùng miền nhạy cảm với dịch vụ du lịch) và sự phát tán nghiêm trọng bụi tạo ra trong quá trình khoan -

nổ mìn, xúc bóc và vận tải vào môi trường không khí

Hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông gây ảnh hưởng đến môi trường như: làm đục dòng nước, gây tiếng ồn, cản trở mất an toàn đối với giao thông đường

Trang 16

8

thuỷ, đặc biệt nếu khai thác gần bờ hoặc quá độ sâu vượt giới hạn cho phép sẽ làm thay đổi địa hình đáy sông, mất cân bằng trắc diện lòng sông, gây biến đổi dòng chảy và gây sạt lở bờ sông, nhất là bờ sông ở khu vực miền nam đều được cấu tạo bởi trầm tích bở rời: bột - sét - cát (đất yếu) dễ bị sạt lở

Các mỏ vật liệu xây dựng thuộc các đá magma mafic-siêu mafic thường gây nên bụi có chứa các khoáng vật asbet, talk, olivin, gây nên các căn bênh nặng cho đường hô hấp

Quá trình khoan - nổ mìn làm tơi đất đá có chứa các khoáng vật sulphur của

Hg và As sẽ tạo điều kiện hòa tan, thẩm thấu và phát tán các nguyên tố đó vào môi trường nước tự nhiên Các nghiên cứu đã cho thấy trong điều kiện oxy hóa, hàm lượng Hg trong nước tiếp xúc trực tiếp với khoáng vật kinovar có thể đạt tới 10 mg/l và lớn hơn (hàm lượng cho phép 0,5 mg/l)

* Khai thác titan, sắt, các khoáng sản kim loại:

Các mỏ khoáng sản là nguồn cung cấp lượng lớn các nguyên tố và khoáng vật độc hại vào môi trường tự nhiên Trong đó, tùy theo loại hình khoáng sản khác nhau mà ảnh hưởng của các nhóm nguyên tố và nhóm khoáng vật độc hại khác nhau

Quặng titan sa khoáng ven biển: được khai thác ở nhiều khu vực dọc theo bờ

biển các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên, Các khai trường quặng inmenit Cẩm Long, Kỳ Khang,

Kỳ Anh - Hà Tĩnh đều được phục hồi môi trường song song với quá trình khai thác với phương thức khai thác “cuốn chiếu”; khoảng trống đã khai thác được lấp đầy bằng bùn thải sau tuyển, sau đó được san bằng và trồng cây

Nhìn chung, tác động của khai thác titan ven biển tới môi trường không lớn,

dễ cải tạo và phục hồi sau khai thác, tuy nhiên cần quan tâm đến việc lưu giữ và sử

lý monazit thu hồi được trong quá trình chế biến titan, vì trong đó có chứa một hàm lượng phóng xạ, có thể gây nguy hiểm cho môi trường

Các mỏ thuộc nhóm siderophil: ở khía cạnh địa hóa môi trường, các mỏ sắt ít

độc hại hơn vì chúng chứa ít sulphur và các nguyên tố độc hại, nhưng về quy mô thì khá lớn Tương tự, các mỏ mangan cũng chứa ít các tạp chất độc hại Oxit mangan

Trang 17

Trên các mỏ khai thác quặng crôm thường chứa nhiều kim loại độc hại đi kèm và có cả crizotilasbet Trong các loại mỏ thuộc nhóm này thì nguy hiểm nhất là

mỏ đồng - nickel, vì xung quanh mỏ thường hình thành vùng sinh địa hóa của Ni,

Co, Cu, Se với bán kính đến hàng chục km Các mỏ cobal như cobal arsenit, arsenit nickel – cobal là các chất lưu giữ các nguyên tố độc hại và có thể là nguồn gây bẩn phức hợp đối với môi trường tự nhiên

Các mỏ thuộc nhóm chalcophil: trên thực tế, tất cả các mỏ thuộc nhóm này

đều nguy hiểm đối với môi trường Các mỏ đồng đi kèm trong chúng là các nguyên

tố độc hại như Mo, Se, S, Cd Zn, Pb, As, Bi, Mo, Hg Các mỏ đồng conchedan còn nguy hiểm hơn do sự có mặt của pyrit - nguồn cung cấp lượng axit sulphuric với cường độ lớn, ngoài ra, chúng còn chứa một lượng kim loại đáng kể trong đất đá vách trụ vỉa tham gia vào chất thải

Các mỏ đa kim cũng khá độc hại bởi sự có mặt của các nguyên tố như Cu,

Se, Tl, Cd, Hg Khai thác các mỏ đa kim sẽ tạo nên trường dị thường của các nguyên tố độc hại với hàm lượng tới vài trăm gam trong một tấn Trong quá trình tuyển luyện các quặng đa kim, thủy ngân chỉ được thu hồi từ tinh quặng kẽm (không quá 20% so với hàm lượng tổng) và lượng còn lại thâm nhập vào môi trường Các mỏ chứa thủy ngân cực kỳ nguy hiểm vì trong chúng không chỉ có Hg

mà còn có S, As, Se, F, Ba và đôi khi có cả Pn, Cu

Đối với các mỏ sulphur, khi các khoáng vật sulphur bị oxy hóa sẽ tạo nên ion sulphat, các ion này sẽ liên kết với Ca và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân rã từng phần khoáng vật fluorit Điều này đẫn đến sự thành tạo F linh động và thường có hàm lượng cao trong nước (ví dụ như ở Phú Yên, Bình Định, nơi có F, As cao trong môi trường nước gây nhũn răng)

Trang 18

10

Các mỏ thuộc nhóm lithophil: khai thác các mỏ wolfram thì độ nguy hại chủ

yếu là các khoáng vật sulphur đi kèm (trong đó có cả pyrit và arsenopyrit) có chứa các nguyên tố độc hại (như Mo, Bi, Ni, Co, Cd) Phần lớn các chất này theo quặng đuôi phát tán vào môi trường trong quá trình gia công chế biến

* Các tác động của khai thác khoáng sản đến môi trường

- Làm biến dạng địa mạo và cảnh quan khu vực

đai khá lớn mở khai trường, làm bãi thải và xây dựng các công trình phụ trợ phục

vụ cho khai thác mỏ Việc mở khai trường và đổ đất đá thải của khái thác lộ thiên

đã trực tiếp và gián tiếp làm biến dạng một cách đáng kể địa mạo và cảnh quan khu vực Đi đôi với hiện tượng làm thay đổi địa mạo là hiện tượng làm biến dạng cảnh quan khu vực, đặc biệt là đối với những khu vực có tiềm năng du lịch như Quảng Ninh, Tây Nguyên, Bà Rịa - Vũng Tàu,

- Chiếm dụng nhiều diện tích đất trồng trọt và cây xanh Diện tích đất canh tác và thảm thực vật mà các mỏ lộ thiên chiếm dụng để mở khai trường và đổ đất đá thải là khá lớn Việc chiếm dụng đất trồng trọt chủ yếu là do các mỏ than bùn, một

số mỏ than nâu, các mỏ bauxit và một số khác là do các mỏ quặng sa khoáng Phần lớn các mỏ còn lại đều nằm trên miền núi là nguyên nhân làm thu hẹp diện tích thảm thực vật, làm suy giảm đa dạng sinh học, gây mưa lũ thất thường và thay đổi thời tiết khí hậu khu vực

- Làm nhiễm bẩn nước và đất đai quanh mỏ Nước mỏ thấm ra xung quanh làm bẩn đất đai và ngước ngầm Phần lớn nước bị nhiễm bẩn là do các hợp chất

- Đặc biệt là sự hình thành các dòng thải axít có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường:

và nước

+ Huỷ hoại môi trường của động thực vật trên cạn và dưới nước

+ Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người (phát sinh bệnh và ngộ độc)

+ Gây ô nhiễm các nguồn nước ngầm và nước mặt

Trang 19

11

- Làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Thực tế, hiện nay đã có một số loại khoáng sản đang cạn kiệt dần như đồng, chì, kẽm, thiếc, vàng, bạch kim, mà các nhà khoa học thế giới dự báo rằng chúng chỉ đủ dùng cho từ 30-70 năm tới của thế kỷ này

- Làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nước ngầm, nước mặt của khu vực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt của cộng đồng dân cư bản địa

- Xả bụi và khí độc vào không khí chủ yếu do bụi và các khí độc hại thải ra

từ nổ mìn và từ hoạt động của các thiết bị mỏ

* Những tác động của khai thác khoáng sản đến sức khỏe con người

- Các bênh gây ra do ồn: thái hoá thính giác, gây chứng nặng tai, ù tai hay bệnh điếc khi con người tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao từ 85dBA trở lên nhiều lần; Ngoài ra tiếng ồn còn làm ảnh hưởng tới thị lực nữa

- Các bệnh gây ra do bụi: Các bệnh phổ biến do bụi mỏ là: phổi nhiễm bụi (silico, antraco, …) do hít thở phải bụi mỏ (bụi đá, bụi than, bụi khoáng, bụi amiăng, bụi kim loại,…) trong một khoảng thời gian tương đối dài, dẫn đến phổi bị

xơ, suy giảm chức năng hô hấp, bệnh đường hô hấp là do các bụi đá và bụi khoáng sản có góc cạnh sắc nhọn làm rách viêm mạc, gay viêm mũi, tiết nhiều niêm dịch, hít thở khó, dẫn đến viêm teo mũi, giảm chức năng lọc và giữ bụi của mũi, gây ra bệnh phổi nhiễm bụi

- Các bệnh gây ra do hít thở phải các khí mỏ độc hại: Khí mỏ phát sinh do

vào cơ thể qua đường hô hấp, xâm nhập qua phế quản và các tế bào rồi đi vào máu, đây là con đường thâm nhập nguy hiểm nhất

Khi làm việc lâu trong môi trường có nhiều khí độc hại thì có thể mắc các chứng bệnh sau:

+ Bỏng niêm mạc: bỏng rộp, sưng đỏ niêm mạc và đau đớn

+ Giảm thị lực hoặc có thể dẫn đến mù

Trang 20

12

phù phổi cấp

hoá học (khi hít CO) vì CO tác dụng với các chất khác làm mất khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu, dẫn đến hệ hô hấp bị rối loạn

động làm tê liệt thần kinh trung ương, gây ngất, gây tê khi hít thở chúng nhiều Các bệnh gây ra do nước thải từ mỏ: các bệnh ngoài da như ghẻ, lở và ngứa, nấm ngoài da, viêm loét chân, viêm dạ dày, rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, một số bênh về mắt như đau mắt hột, viêm giác mạc

* Như vậy ta có thể thấy việc khai thác tài nguyên khoáng sản ảnh hưởng lớn đến môi trường, mức độ và quy mô tác động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó:

- Cùng một loại khoáng sản nhưng công nghệ khai thác khác nhau gây ra các tác động khác nhau Để ngành khoáng sản tiếp tục phát triển, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về nguyên, nhiên, vật liệu khoáng sản cho nền kinh tế quốc dân, bên cạnh việc đổi mới công nghệ - thiết bị, tăng cường đầu tư chiều sâu (cả về phương tiện, trang thiết bị lẫn con người) nhằm từng bước hạ thấp giá thành, tăng năng suất lao động, mở rộng và duy trì sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, thì việc áp dụng những giải pháp khoa học công nghệ nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục các tác động tiêu cực của khai thác khoáng sản đối với môi trường đang trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu

* Khai thác các loại tài nguyên khác nhau sẽ gây ra các tác động lên môi trường khác nhau: Các hoạt động khai thác khoáng đều gây ra những tác động xấu tới môi trường Tuy nhiên, mức độ trầm trọng về những tác động đối với môi trường gây ra trong quá trình khai thác đối với từng loại khoáng sản, từng vùng mỏ

là không như nhau, tuỳ theo những đặc điểm về thành phần cấu tạo, về điều kiện tự nhiên cũng như vị trí địa lý của chúng

Trang 21

13

1.2.2 Tình hình khai thác quặng sắt trên thế giới:

Các nhà địa chất thế giới đánh giá nguồn tài nguyên quặng sắt trên trái đất hiện có hơn 800 tỷ tấn, tương ứng với hơn 230 tỷ tấn Fe kim loại Trong đó, trữ lượng địa

chất khoảng 380 tỷ tấn và trữ lượng có khả năng khai thác 168 tỷ tấn [17]

Về sản lượng khai thác quặng sắt, Nga là một trong các nước đứng đầu thế giới (454,6 triệu tấn/năm) với 100% là khai thác lộ thiên, trong đó có các mỏ lớn: Mỏ Lebidinxki sản lượng 43,65 triệu tấn/năm; Mỏ Mikhainopxki sản lượng 38,1 triệu tấn/năm Sau Nga là các nước Braxin, Canada, Trung Quốc, Ôxtraylia, Mỹ, Ấn Độ

Các mỏ quặng sắt lộ thiên lớn trên thế giới là Miltak 60 triệu tấn/năm, Triemining 30 triệu tấn/năm, Piter Michail 28,8 triệu tấn/năm, Karchie 45 triệu tấn/năm, Maunt Rait 45 triệu tấn/năm, Kauer 46 triệu tấn/năm [17]

Những năm gần đây nhu cầu quặng sắt của Trung Quốc tăng mạnh, từ năm

2010 đến 2014 chiến gần 60 % quặng sắt thế giới, trong đó hơn 50% được nhập khẩu vào Braxin và Ôxtraylia Năm 2010 xuất khẩu quặng sắt của Ôxtraylia đạt 414 triệu tấn và năm 2012 đạt 459 triệu tấn (tăng 10,86%), hiện có tới 11 công ty đang đóng góp chính vào sản lượng quặng xuất khẩu

Bảng 1.1: Trữ lượng quặng sắt ở một số nước thế giới

Trữ lượng có khả năng khai

thác (triệu tấn)

Trữ lượng địa chất (triệu tấn)

Trang 22

Nguồn: Hội Khoa học công nghệ Mỏ

1.2.3 Tình hình khai thác các mỏ sắt Việt Nam

Theo kết quả thăm dò và dự báo tổng trữ lượng và tài nguyên quặng sắt VN gần 1,2 tỷ tấn Cho đến nay trên lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận được hơn 300 mỏ

và điểm quặng sắt, chủ yếu tập trung ở phía bắc như: Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Hà Tĩnh So sánh với bảng phân loại trữ lượng hiện đang được

sử dụng ở một số nước đang phát triển và phát triển trong khu vực, Việt Nam có 2

mỏ thuộc loại trữ lượng trung bình là Thạch Khê và Quý Xa [21]

Mỏ sắt Thạch Khê là mỏ có trữ lượng lớn nhất đã được thăm dò Trữ lượng của mỏ Thạch Khê là 544 triệu tấn Mỏ có thể được khai thác lộ thiên với chiều sâu đến –120m so với mặt nước biển Mỏ sắt lớn thứ hai ở Việt Nam là mỏ sắt Quý Xa với trữ lượng 121 triệu tấn Mỏ nằm ở bờ phải Sông Hồng thuộc tỉnh Lào Cai Phân tích hoá học cho kết quả Fe: 54 - 55%; Mn: 3%; còn lại hầu hết các mỏ có trữ lượng dưới 20 triệu tấn

Hiện tại các mỏ sắt quặng ở Việt Nam chủ yếu khai thác quặng eluvi-deluvi, một số mỏ bước đầu khai thác quặng gốc, một số mỏ đang tiến hành đầu tư xây dựng cơ bản Theo chủ trương của Chính phủ từ năm 2006 trở đi các loại khoáng

Trang 23

Tổng hợp về trữ lượng, chất lượng quặng sắt ở các tỉnh được nêu trong bảng

Bảng 1.2: Trữ lượng và tài nguyên dự báo quặng sắt ở VN

(103 tấn)

Tài nguyên (103 tấn)

Tổng cộng (103 tấn)

Trang 24

16

1.2.4 Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam

a Các công cụ quản lý môi trường:

Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế kỹ thuật và xã hội, hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế xã hội [8,9]

* Công cụ kinh tế: Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng các công

cụ kinh tế nhằm khuyến khích hành vi tích cực đối với môi trường Trong các công

cụ kinh tế thì hình thức thu phí dưới hình thức này hay hình thức khác hiện đang được áp dụng nhiều tại các nước Các công cụ này tạo ra những khuyến khích kinh

tế để thực hiện quy định môi trường

- Thuế môi trường nói chung hay thuế ô nhiễm môi trường nói riêng đều do

nhà nước định ra, thu về cho ngân sách, dùng để chi chung, không chỉ chi riêng cho công tác bảo vệ môi trường

- Phí môi trường khác với thuế môi trường, phần lớn kinh phí thu phí sẽ được

sử dụng, điều phối lại cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường và giải quyết một phần các vấn đề môi trường do những người đóng phí gây ra

- Lệ phí môi trường khác với phí môi trường, muốn thu lệ phí môi trường phải

chỉ rõ lợi ích của dịch vụ mà người trả lệ phí được hưởng, còn đối với phí môi trường, đôi khi lợi ích này chưa thật rõ ràng

Một số loại phí môi trường đang được áp dụng ở nhiều nước :

Phí phát thải : Đây là phí đánh vào việc thải chất ô nhiễm ra môi trường và

gây tiếng ồn Phí phát thải liên quan tới số lượng, đặc tính của chất ô nhiễm và chi phí gây tác hại cho môi trường

Phí sản phẩm: Phí này đánh vào sản phẩm có hại cho môi trường khi sử dụng

chúng trong các quy trình sản xuất, tiêu thụ hoặc loại thải nó Mức phí này được xác định tuỳ thuộc chi phí thiệt hại đến môi trường có liên quan với sản phẩm đó

Phí sử dụng: Phí sử dụng có chức năng làm tăng nguồn thu và liên quan đến chi phí xử lý, chi phí thu gom và thải bỏ, hoặc việc thu hồi lại chi phí quản lý tuỳ vào từng tình huống mà chúng được áp dụng Phí sử dụng không liên quan trực tiếp đến chi phí tác hại đến môi trường

Trang 25

17

- Giấy phép mua bán (côta): Đây là hạn ngạch sử dụng môi trường hoặc giới

hạn trần cho mức ô nhiễm Việc phân phối ban đầu của các giấy phép liên quan đến một tiêu chuẩn, mục tiêu nào đó của môi trường xung quanh, sau đó giấy phép có thể được đem ra mua bán, chuyển nhượng theo luật định

- Các hệ thống ký thác - hoàn trả: Các hệ thống này bao gồm việc ký quỹ một

số tiền cho các sản phẩm có tiềm năng gây ô nhiễm Nếu các sản phẩm được đưa trả

về một số điểm thu hồi quy định hợp pháp sau khi sử dụng, tức là tránh khỏi bị ô nhiễm, thì tiền ký thác sẽ được hoàn trả lại

- Thuế ô nhiễm (hay còn gọi là thuế Pigou): Đây là thuế do Pigou, một kinh tế gia người Anh, đưa ra vào năm 1920 đánh vào các xí nghiệp đang phát thải chất ô nhiễm và được tính theo tác hại mà ô nhiễm của xí nghiệp đó gây ra cho môi trường

* Công cụ pháp lý: bao gồm các quy định luật pháp và chính sách môi trường

và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như các bộ luật: Luật môi trường, Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đa dạng sinh học các Thông tư, Nghị định quy định về bảo vệ môi trường

* Công cụ kỹ thuật: Các công cụ kỹ thuật quản lý như: Đánh giá môi trường

chiến lược, Đánh giá tác động môi trường, Kế hoạch bảo vệ môi trường, Quan trắc

và giám sát môi trường, các công nghệ xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn có tác động trực tiếp vào các hoạt động tạo ra ô nhiễm hoặc quản lý chất ô nhiễm trong quá trình vận hành hoạt động sản xuất, có tác động mạnh mẽ với việc hình thành và hành vi phân bố chất ô nhiễm môi trường trong môi trường

b Công tác quản lý bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác khoáng sản:

Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường khai thác khoáng sản bao gồm các Luật, Nghị định, Thông tư:

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường

- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 của Quốc hội quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; thăm dò, khai thác

Trang 26

18

khoáng sản; quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

- Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản

- Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản của Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

Xem xét tổng thể thực trạng công tác phòng chống ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, trong đó hệ thống Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đóng vai trò quan trọng bậc nhất, cho thấy còn một số vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn, nhằm đáp ứng các yêu cầu trong tình hình phát triển kinh tế xã hội mới của Đất nước Hiện nay công tác quản lý bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác khoáng sản rất được quan tâm Cho đến nay, nhiều báo cáo ĐTM đã được lập, thẩm định và phê duyệt, song do chưa có được hướng dẫn cụ thể về chuyên ngành, nên trong quá trình thực hiện ĐTM các Dự án đã gặp nhiều khó khăn vướng mắc, trong khi nội dung ĐTM cho các dự án khai thác khoáng sản thường là rộng lớn về phạm vi và phức tạp về quy mô và tính chất các tác động

Đến nay nước ta đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau Tuy số lượng mỏ nước ta khá lớn nhưng hầu hết có quy mô trung bình và nhỏ Các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương trong

Trang 27

19

phạm vi cả nước đều có hoạt động khai thác khoáng sản với quy mô khác nhau Ở một số địa phương, hoạt động khai thác khoáng sản đã góp phần tăng trưởng kinh

nhiên, qua kiểm tra thấy rằng hoạt động khai thác khoáng sản ở địa phương còn chưa được quan tâm đầy đủ theo quy định của pháp luật, trong đó có việc thực hiện pháp luật về BVMT trong khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản [10]

Kết quả khảo sát tình hình tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong

khai thác khoáng sản tại một số điểm mỏ điển hình (thuộc khuôn khổ Nhiệm vụ:

Kiểm tra tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản theo yêu cầu của đoàn giám sát Quốc Hội năm 2012) được hệ thống lại

và trình bày theo từng nhóm khoáng sản điển hình tại Việt Nam do tính chất tương

tự về bản chất khoa học và tác động đối với môi trường, bao gồm:

tại Đắk Nông – Lâm Đồng

+ Có 50 báo cáo ĐTM của các dự án được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt

+ Có 40 dự án/đề án/phương án cải tạo phục hồi môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt

+ Trong số báo cáo ĐTM nêu trên, hầu hết các mỏ đều lập báo cáo ĐTM nhiều lần do có dự án cải tạo, mở rộng, nâng công suất trong quá trình triển khai

Trang 28

20

xây dựng và hoạt động của dự án Đến nay vẫn còn một số đơn vị doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường như chưa thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường đã đề ra trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, chưa thực hiện các quy định về kiểm tra xác nhận các công trình xử lý môi trường

sản đều chưa có Dự án cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản được cấp có thẩm quyền phê duyệt

* Qua đây ta có thể thấy thực trạng những vấn đề tồn tại, khó khăn chung của công tác bảo vệ môi trường trong ngành khai thác khoáng sản:

+ Hoạt động khoáng sản thường được triển khai ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn về địa lý, giao thông, liên lạc Bên cạnh đó, hoạt động khoáng sản thường được triển khải trên nhiều địa bàn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khiến cho công tác quản lý, đầu tư, ứng dụng công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản gặp nhiều khó khăn, tốn kém

+ Công tác xây dựng, ban hành các văn bản về khoáng sản và BVMT còn có nhiều bất cập; một số văn bản pháp luật về đầu tư, xây dựng, đấu thầu, đất đai, còn nhiều vướng mắc, hạn chế, thiếu đồng bộ

+ Cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư các dự án, công trình trong lĩnh vực khoáng sản và BVMT trong khai thác khoáng sản để phát triển bền vững chưa thực sự hấp dẫn

+ Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ; trình độ, năng lực, công nghệ quản lý của cán bộ còn yếu; thiếu cơ chế gắn kết, lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án của trung ương và địa phương

+ Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác BVMT và quản lý nguồn lực khoáng sản chưa cao; chưa chủ động, tích cực trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa thực sự sâu rộng đến doanh nghiệp, người dân Vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước

Trang 29

21

+ Tình trạng thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xảy ra thường xuyên ở hầu hết các dự án khai thác khoáng sản, do công tác lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư dự án thiếu cơ sở, chưa tính toán đến các chi phí, lợi ích về mặt xã hội và môi trường; vốn đầu tư lớn, thời gian dự án kéo dài, thủ tục hành chính phiền hà và qua nhiều công đoạn; năng lực của chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn còn hạn chế

+ Việc phân cấp quá mạnh về quản lý, khai thác khoáng sản, BVMT về địa phương cùng với tư duy nhiệm kỳ đã khiến cho tình trạng cấp phép tràn lan, thất thoát tài nguyên, thậm chí không theo quy hoạch, trái pháp luật

+ Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và xử lý vi phạm trong hoạt động khoáng sản, BVMT chưa thường xuyên, chậm phát hiện vi phạm và xử lý không kịp thời, chưa nghiêm Việc tổ chức kiểm tra, thanh tra còn có

sự chồng chéo giữa các bộ, ngành hoặc trên một địa bàn có nhiều đoàn kiểm tra cùng một lúc nên đã gây khó khăn cho đơn vị cơ sở, doanh nghiệp

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực Thạch Khê

1.3.1 Vị trí địa lý, địa chất địa hình khu vực

Mỏ quặng sắt Thạch Khê chủ yếu nằm trên địa phận 3 xã: Thạch Khê, Thạch Đỉnh và Thạch Hải thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 8km về phía Đông, trung tâm của mỏ cách bờ biển Đông khoảng 1,6 km Mỏ có diện tích chủ yếu nằm ở phía Đông, xã Thạch Khê (xem Hình 1.2)

Tọa độ địa lý khu mỏ như sau:

Trang 30

22

Hình 1.2: Vị trí địa lý khu vực thực hiện Dự án

a Điều kiện địa hình

Địa hình khu mỏ khá bằng phẳng Độ cao tuyệt đối của bề mặt phần trung

Dọc theo bờ sông Thạch Đồng có công trình đê bảo vệ vùng đất canh tác nông nghiệp khỏi nước sông tràn vào trong mùa mưa lũ Phía Tây bắc khu mỏ có những vùng nhô lên có đá Granít đó là núi Kiều Mộc với cao độ tuyệt đối +66,2 m,

xa hơn khoảng 1,5 km có núi Nam Giới với độ cao tuyệt đối +374 m

Địa hình đáy biển của vùng biển ven bờ của dự án là một địa hình bằng phẳng và dốc dần về phía Đông Độ dốc nhỏ do đó cách xa bờ biển 2 km độ sâu chỉ vào khoảng 10 - 12m

Trang 31

23

b Đặc điểm địa chất, địa chất công trình khu mỏ

Theo các nhà địa chất, mỏ sắt Thạch Khê có nguồn gốc Skarnơ, tham gia cấu trúc địa tầng của mỏ gồm các loại đá vôi, đá hoa, đá granit và đá mêtaoxômatit, các trầm tích cát, cuội, sỏi, sét

Khu mỏ có cấu tạo địa chất phức tạp với cấu trúc chính là 3 tầng nham thạch

có độ bền khác nhau và nhiều nước ngầm, 3 tầng đó là: Tầng Đệ tứ và Neogen; Tầng đá có độ cứng trung bình; Tầng dưới cùng là đá gốc cứng chắc [5]

Kết quả báo cáo thăm dò mỏ Thạch Khê đã được Hội đồng Xét duyệt trữ lượng Khoáng sản phê duyệt (số 153/QĐ-HĐ, ngày12/4/1985) Tổng trữ lượng địa chất toàn mỏ là 544.080.000 tấn, trong đó quặng gốc có 488.389.700 tấn và quặng Deluvi có 55.690.400 tấn

Quặng sắt mỏ Thạch Khê gồm quặng deluvi, quặng gốc và những thân quặng

pha tạp khác Thành phần hóa học, tính chất cơ lý của đất đá và quặng sắt mỏ Thạch

Khê được trình bày trong Bảng 1.3 sau [10]

Bảng 1.3: Thành phần hóa học của quặng sắt mỏ Thạch Khê

Thành phần

Hàm lượng các chất trong quặng, %

Trang 32

Căn cứ theo hàm lượng sắt, lưu huỳnh và mức độ ôxy hóa quặng của khu

mỏ, những dạng quặng và chủng loại quặng được phân ra như sau:

- Quặng gốc giầu dạng hạt nhỏ tạo nên những quần thể lớn, độ dày thân quặng khá đồng đều Quặng ôxy hóa giầu ở dạng dải gãy không bằng phẳng là

- Quặng nguyên khai chính là manhetit và có ít hematit Trong quặng giàu

hematit, manhetit, đôi khi có limônít và ôxit sắt ngậm nước Quặng deluvi về thành phần, chất lượng và tính chất cơ lý tương tự như quặng ôxy hóa

Những khoáng sản có lợi đồng hành trong mỏ là những đất đá lấy ra trong quá trình khai thác quặng sắt như: cát, đất sét, hỗn hợp cát, sỏi, đá, cacbonnat

c Đặc điểm địa chất thủy văn

Điều kiện địa chất thủy văn khi khai thác khu mỏ rất phức tạp, bởi có sự hiện diện của các yếu tố sau đây:

- Một vài tầng chứa nước và tổ hợp chứa nước có liên kết thủy lực với nhau;

- Moong khai thác phân bổ ngay gần vịnh Bắc Bộ (cách 0,5 km từ chu tuyến cuối của mỏ đến hướng Đông Bắc) đây là nguồn nước chảy vào các tầng chứa nước;

Trang 33

25

- Sông Thạch Đồng chảy qua phía Tây của moong khai thác cách 2-3 km;

- Điều kiện khí hậu phức tạp, mưa rào kéo dài trong thời kỳ có gió mùa; Mức nước ngầm dao động phụ thuộc vào mức thủy triều lên xuống, vào mùa mưa và lượng mưa trong năm Lượng nước ngầm tăng mạnh vào mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 11) Mức nước trung bình ở sông thay đổi lúc có thủy triều lên là 1,36 m, còn mức nước ngầm thay đổi 0,28 m Dao động của mức nước ngầm liên quan với thủy triều lên thể hiện rõ nét nhất ở vùng ven bờ [5]

1.3.2 Điều kiện về khí tượng

Thạch Hà là một huyện có khí hậu đặc trưng của khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của loại khí hậu giao thoa, chuyển tiếp giữa hai miền Bắc – Nam, có gió mùa Tây Nam vào mùa khô và gió mùa Đông Bắc về mùa mưa

Do vậy, Khí hậu có một số đặc điểm như sau: Chênh lệch nhiệt độ giữa mùa hè và mùa đông khá lớn; lượng mưa phân bố khá đồng đều giữa các vùng trong các mùa, tuy nhiên lại không đồng đều giữa các mùa nên dễ gây hạn hán về mùa khô và gây ngập úng về mùa mưa; chế độ gió biến đổi theo mùa trong năm và có 2 loại gió chính: Gió mùa Đông Bắc, hình thành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; gió Tây Nam (gió Lào) thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 8 với đặc điểm khô, nóng làm nền nhiệt độ trong ngày tăng cao; Hà Tĩnh là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của bão (chịu trực tiếp từ 3 - 4 cơn bão/năm, chịu ảnh hưởng từ 5 - 6 cơn bão/năm), lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm

1.3.3 Điệu kiện thủy văn

Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km Mỏ quặng sắt Thạch Khê chạy dài 6 km ven theo bờ biển thuộc vùng Vịnh Bắc Bộ, cách khoảng 3 km về phía Tây và Tây Bắc của khu mỏ có sông Thạch Đồng nối với Cửa Sót tạo thành cửa sông rộng, thông ra với biển Đông Lòng sông Thạch Đồng có chiều rộng gần 100 - 150 m, chiều sâu 4 - 10 m

Hiện nay, dọc theo sông Thạch Đồng đã có hệ thống đê bảo vệ khu mỏ từ phía Tây khỏi lũ lụt từ sông vào mùa mưa Mục đích sử dụng nước của sông Thạch Đồng của người dân trong khu vực là nuôi trồng thủy sản, giao thông trong vùng Ngoài ra, trên mặt bằng khu vực mỏ có 2 hồ nhỏ là hồ Bắc Tường ở phía Bắc và hồ Thành Công nằm ở phía Đông Nam

Trang 34

26

1.3.4 Điều kiện kinh tế xã hội:

Khu vực mỏ sắt có hơn 4000 hộ dân sinh sống, vị trí nhà dân sát với khu vực moong khai thác nhất khoảng 1000 m, toàn bộ khu vực sẽ được di dân tái định cư ra ngoài khu vực mỏ

Mỏ sắt Thạch Khê nằm trên địa điểm một địa phương sản xuất kinh tế gồm

có thương mại, dịch vụ, nông nghiệp và chăn nuôi, đời sống nhân dân trong những năm gần đây đã có bước chuyển biến đáng kể, số hộ nghèo giảm xuống rõ rệt Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, kinh tế có bước tăng trưởng, đời sống nhân dân được nâng lên, văn hóa xã hội có bước tiến bộ, an ninh xã hội được đảm bảo

Mỏ sắt Thạch Khê nằm trên địa phận của 3 xã: Thạch Khê, Thạch Hải và Thạch Đỉnh Nhưng khi triển khai thực hiện Dự án thì Thạch Bàn, Thạch Trị và Thạch Lạc sẽ là những xã cũng chịu những tác động lớn, do một phần nằm trong vùng

“an toàn vệ sinh công nghiệp” phải di dời Vì thế ngoài 3 xã Thạch Khê, Thạch Hải và Thạch Đỉnh, 3 xã Thạch Bàn, Thạch Trị và Thạch Lạc cũng được đưa vào khi xem xét tới điều kiện kinh tế - xã hội tại khu vực Dự án

Nhìn chung mức sống của người dân cả 6 xã còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh do nguồn sống của người dân chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thuỷ hải sản ven bờ, những nghề cho thu nhập thấp, bấp bênh

vì phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.Tuy nhiên, tình hình an ninh trật tự ở đây tương đối ổn định Các tệ nạn xã hội cũng rất ít xảy ra tại đây

Trang 35

27

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về thực trạng khai thác, thực trạng môi trường của khu vực dự án mỏ sắt Thạch Khê

- Nghiên cứu về một số vấn đề môi trường phát sinh trong khai thác sắt tại

mỏ sắt Thạch Khê

- Hệ thống các giải pháp quản lý môi trường, vai trò và nhiệm vụ của các tổ chức cá nhân liên quan trong hệ thống quản lý môi trường của hoạt động khai thác

mỏ nói chung và tại mỏ sắt Thạch Khê nói riêng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, kế thừa các nghiên cứu đã có

Tiến hành thu thập các số liệu, dữ liệu, thông tin có sẵn liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu: Báo cáo Đánh giá tác động môi trường của Dự án; Các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát môi trường Dự án "Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh” các năm 2013, 2014, 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.2.2 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa

Khảo sát và tiến hành đo đạc số liệu về thực trạng môi trường khu vực mỏ Sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, nghiên cứu, thu thập, lấy mẫu, phân tích các thành phần môi trường khu vực dự án

2.2.3 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

Chọn lọc, phân loại, thống kê và xâu chuỗi số liệu thành một thể thống nhất Sau khi các thông tin đã được xử lý, hệ thống hóa thì cần phải phân tích và đánh giá một cách tổng hợp nhằm chọn lọc ra những thông tin ý nghĩa nhất (có độ chính xác

và độ tin cậy cao) phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài

2.2.4 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Sau khi có được những thông tin ý nghĩa nhất, sẽ tiến hành đối chiếu, so sánh giữa các thông tin cùng chung nội dung, như tiến hành so sánh, đối chiếu số liệu, các tài liệu về thực trạng môi trường qua các mốc thời gian để từ đó đưa ra những

Trang 36

Ma trận môi trường giúp cho sự nhận biết trực diện mối quan hệ quan hệ nhân quả giữa các hoạt động phát triển gây tác động và các thành phần môi trường chịu tác động, tạo ra một cái nhìn tổng thể về quy mô tác động (số lượng tác nhân

và đối tượng), mức độ tác động (nhiều, ít), tính chất tác động (tiêu cực, tích cực) cũng như tầm quan trọng của tác động đối với từng thành phần môi trường (điểm trọng số)

Phương pháp này thường kết hợp với phương pháp: Phán xét chuyên gia, mục đích là để xác định và trình bày về:

• Tác động của các họat động phát triển được đề xuất đến các các thành phần môi trường khác nhau (ma trận tác động), hoặc

• Các mối tương hợp hoặc xung đột giữa các hoạt động phát triển và các mục tiêu môi trường liên quan (ma trận xung đột hoặc tương hợp)

2.2.6 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia có các Phương pháp Kỹ thuật Delphi (Đánh giá tổng hợp của các chuyên gia) và Phán xét chuyên gia (Expert Judgement)

a Phương pháp Kỹ thuật Delphi

Mục đích: Để xác định và tìm ra những ý kiến phán xét thịnh hành (theo

đa số) trong một nhóm lớn các chuyên gia tham gia không có mối quan hệ qua lại với nhau

Trang 37

29

Mô tả: Kỹ thuật Delphi là một công cụ (phương pháp) mang tính hệ thống và

có sức mạnh để hình thành các phán xét tập thể chuyên gia Nó được dựa trên những nguyên tắc sau đây:

• Không có mối quan hệ qua lại theo kiểu mặt đối mặt giữa các chuyên gia;

• Mỗi chuyên gia có được một khoảng thời gian để suy nghĩ và có cơ hội ngang nhau để đóng góp ý kiến;

• Những vấn đề chưa nhất trí phải được ghi chép lại để sử dụng cho việc kiểm tra và xem xét các quan điểm còn khác nhau và để tìm hiểu thêm

Kỹ thuật Delphi được dựa trên những bước cơ bản sau đâu:

• Làm rõ và xác định xem những thông tin nào là cần thiết, thiết kế các câu hỏi và xác định thời gian biểu của quá trình thực hiện;

• Xác định số lượng phù hợp các chuyên gia tham gia trong nhóm kỹ thuật Delphi và giải thích về các nhiệm vụ;

• Soạn thảo và phân phát một bộ sơ bộ các câu hỏi được để mở hoặc câu hỏi chốt lại;

• Thu thập và phân tích các câu trả lời ban đầu và xử lý các thông tin phản hồi Nếu các câu hỏi để mở được sử dụng là chính thì phân tích và trình bày bộ thông tin phản hồi ban đầu trong khuôn khổ lý thuyết thích hợp

• Gửi lần thứ hai và thứ ba các câu hỏi giống như thế tới chính các thành viên

đã tham gia trong nhóm Quá trình có thể được lặp lại với một số bổ sung, nếu cần thiết, gửi cả các câu trả lời kèm theo câu hỏi để các chuyên gia có thể đọc các ý kiến của người khác trong nhóm và điều chỉnh ý kiến riêng của mình Các chuyên gia tham gia sẽ đọc các ý kiến trả lời của từng chuyên gia khác trong nhóm và trả lời lại câu hỏi một lần nữa Vì các thông tin đã được được trao đổi, mỗi người sẽ cân nhắc

và kết hợp các ý kiến của người khác vào suy nghĩ của mình và đi đến sự hiểu biết chính xác hơn về những vấn đề chính cần cân nhắc trong quá trình ra quyết định

• Soạn thảo và gửi báo cáo cuối cùng đến các thành viên tham gia trong nhóm Một trong những động cơ thúc đẩy sự tham gia vào nhóm Delphi, đặc biệt là đối với các chuyên gia, là việc được biết trước những người khác về các kết quả của nghiên cứu Delphi

Trang 38

30

Kỹ thuật Delphi cũng còn có cách tiếp cận khác trong việc xác định các nguyên tắc và các bước để tổ chức lấy ý kiến phán xét của chuyên gia thông qua các hình thức khác ít tốn kém thời gian hơn (ví dụ, thông qua các hội thảo, hội nghị, v.v )

b Phương pháp phán xét chuyên gia

Phương pháp này có sự liên kết với các phương pháp: Ma trận; Kỹ thuật Delphi; Mô hình hóa; Phân tích đa tiêu chí

Mục đích: Phán xét chuyên gia là một quá trình thu thập dữ liệu trực tiếp từ các chuyên gia để trả lời cho một vấn đề kỹ thuật cụ thể

Việc phán xét của chuyên gia là một quá trình thu thập dữ liệu trực tiếp từ các chuyên gia để trả lời cho một câu hỏi cụ thể

Nếu tổ được chức tốt, thông qua sự phán xét của chuyên gia có thể khai thác được những kinh nghiệm lâu năm và chuyên môn sâu của các chuyên gia tham gia Những phán xét này – đặc biệt trong trường hợp thiếu hụt nhiều dữ liệu - có thể còn chính xác hơn những dự báo định lượng dựa trên nguồn dữ liệu không đầy đủ

Điều này không có nghĩa đơn giản là „phỏng đoán‟ Cách phức tạp nhất của phương pháp phán xét của tập thể chuyên gia là kỹ thuật Delphi

Phương pháp phán xét của chuyên gia cần tập trung vào việc làm rõ

- Những giả định làm cơ sở của sự phán xét (khi nào rủi ro/ tác động xảy ra

và nguyên nhân xảy ra);

- Những xu hướng biến đổi và những vấn đề trong tương lai cần xem xét khi phán xét các rủi ro/tác động này;

- Tính chất của rủi ro/tác động được dự đoán (ví dụ xác suất, bản chất & quy mô; độ dài thời gian xảy ra và khả năng đảo ngược)

- Những khu vực địa lý, những hệ sinh thái hoặc những nhóm bị ảnh hưởng chính

- Những mối quan tâm liên quan đến rủi ro/tác động và tầm quan trọng tương đối của chúng khi so sánh với tình trạng cơ sở (nền);

- Tầm cỡ của những điều còn chưa chắc chắn trong sự phán xét này

3 Các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam được áp dụng

Các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam được áp dụng trong chuyên đề bao gồm:

- TCVN 5945:2005 Nước thải công nghiệp Tiêu chuẩn thải

Trang 39

- QCVN 04:2008/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng

- QCVN 08/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt

- QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn ký thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm

- QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt

- QCVN 06:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh

- QCVN 07:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

- QCVN 19:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ

- QCVN 20:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ

- QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn

- QCVN 27:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung

- QCVN 38:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh

- QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật về nước thải công nghiệp

- QCVN 43:2012/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích

- QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh

- QCVN 50:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gai về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước thải

Trang 40

32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thực trạng khai thác tại khu vực mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh

- Công ty Cổ phần Sắt Thạch Khê, thuộc Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tiến hành khai thác quặng sắt bằng phương pháp lộ thiên tại mỏ Thạch Khê nằm chủ yếu trên địa bàn thuộc 03 xã: Thạch Hải, Thạch Đỉnh và Thạch Khê, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh với diện tích khu vực khai thác: 527,0 ha, cốt sâu được phép khai thác: -550m

* Một số thông tin cơ bản của Dự án sau khi điều chỉnh lại quy mô khai thác:

- Các chỉ tiêu cơ bản về biên giới và trữ lượng khai trường được thể hiện trên Bảng 3.1

- Mỏ có trữ lượng quặng sắt là 544 triệu tấn với hàm lượng Fe trung bình 59,2%

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu cơ bản về biên giới và trữ lượng khai trường

Ngày đăng: 18/11/2017, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê (2013), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát môi trường Dự án "Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh" đợt 1, gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường theo Văn bản số 38/BC-TCMT ngày 18/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh
Tác giả: Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê
Năm: 2013
4. Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê (2013), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát môi trường Dự án "Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh" đợt 2, gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường theo Văn bản số 48/BC-TCMT ngày 25/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh
Tác giả: Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê
Năm: 2013
5. Công ty Cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường – Vinacomin (2013), Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án “Điều chỉnh khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án “Điều chỉnh khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh
Tác giả: Công ty Cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường – Vinacomin
Năm: 2013
7. Hồ Sĩ Giao, Bùi Xuân Nam, Nguyễn Anh Tuấn (2009), Khai thác khoáng sản rắn bằng phương pháp lộ thiên, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác khoáng sản rắn bằng phương pháp lộ thiên
Tác giả: Hồ Sĩ Giao, Bùi Xuân Nam, Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
8. Lưu Đức Hải (2013) Giáo trình Quản lý tổng hợp Tài nguyên và môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý tổng hợp Tài nguyên và môi trường
9. Lê Văn Khoa và nnk (2005). Hỏi đáp về tài nguyên và môi trường. NXB Giáo Dục, trang 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về tài nguyên và môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa và nnk
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
10. Lê Văn Khôn (2011), Báo cáo tổng hợp kết quả khoan khảo sát địa chất công trình mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, Liên đoàn địa chất Bắc Trung Bộ, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả khoan khảo sát địa chất công trình mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh
Tác giả: Lê Văn Khôn
Năm: 2011
11. Trần Hiếu Nhuệ (2010) Giáo trình Tài nguyên, môi trường và quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Giáo trình Tài nguyên, môi trường và quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
12. Lê Đức Phương (2011), Điều chỉnh dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê – Hà Tĩnh, Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư mỏ và Công nghiệp – Vinacomin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê – Hà Tĩnh
Tác giả: Lê Đức Phương
Năm: 2011
13. Lưu Văn Thực (2014), Nghiên cứu công nghệ khai thác đối với các mỏ quặng sắt lộ thiên dưới mức thoát nước tự chảy trong điều kiện địa chất và địa chất thủy văn phức tạp của Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công nghệ khai thác đối với các mỏ quặng sắt lộ thiên dưới mức thoát nước tự chảy trong điều kiện địa chất và địa chất thủy văn phức tạp của Việt Nam
Tác giả: Lưu Văn Thực
Năm: 2014
14. Mai Thế Toản (2009), Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn nhằm xây dựng bản hướng dẫn chi tiết ĐTM cho ngành khai thác mỏ lộ thiên, Luận án Tiến sĩ Kỹ thuật, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn nhằm xây dựng bản hướng dẫn chi tiết ĐTM cho ngành khai thác mỏ lộ thiên
Tác giả: Mai Thế Toản
Năm: 2009
17. Đỗ Ngọc Tước (2010), Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ khai thác các mỏ quặng sắt (gốc) lộ thiên Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ khai thác các mỏ quặng sắt (gốc) lộ thiên Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Tước
Năm: 2010
18. Viện nghiên cứu chiến lược chính sách Công nghiệp, Quy hoạch phân vùng điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt giai đoạn 2004 – 2010, có xét đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phân vùng điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt giai đoạn 2004 – 2010, có xét đến năm 2020
20. Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - luyện kim (2008), Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án “Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh, Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án “Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh, Việt Nam
Tác giả: Viện Khoa học và Công nghệ mỏ - luyện kim
Năm: 2008
21. Quyết định số 124/2006/QĐ-TTg ngày 30/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ v/v “Phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Báo cáo về việc quản lý công tác bảo vệ môi trường của Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê Khác
2. Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê (2013), Báo cáo về việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường Dự án “Đầu tư khai thác và tuyển quặng Sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh&#34 Khác
6. Phùng Mạnh Đắc (2005), Nghiên cứu đánh giá tác động của Luật Khoáng sản đối với sự phát triển ngành mỏ Việt Nam, Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam, Hà Nội Khác
15. Tổng cục Môi trường (2012), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ Kiểm tra, giám sát môi trường Dự án "Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh&#34 Khác
16. Tổng cục Môi trường (2013), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ Kiểm tra, giám sát môi trường Dự án "Đầu tư khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Thạch Khê, Hà Tĩnh&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm