Hoạt động hiện đại của đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh và các loại hình nguy cơ tai biến địa chất liên quan .... MỞ ĐẦU Trong bình đồ cấu trúc kiến tạo khu vực Nam Trung Bộ, đới đứt gãy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Văn Luân
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỚI ĐỨT GÃY VẠN NINH - TÁNH LINH TRONG PHẠM VI T NH L M Đ NG
PH C V GI M THI U NGUY C TAI I N Đ A CH T
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Văn Luân
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỚI ĐỨT GÃY VẠN NINH - TÁNH LINH TRONG PHẠM VI T NH L M Đ NG
PH C V GI M THI U NGUY C TAI I N Đ A CH T
Chuyên ngành: Địa chất học
Mã số: 60440201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Vượng
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
PGS.TS Nguyễn Văn Vượng PGS.TS Chu Văn Ngợi
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác Các tài liệu tham khảo của các tác giả liên quan đến luận văn đều đƣợc trích dẫn đầy đủ
Học viên
Nguyễn Văn Luân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ này được hoàn thành tại phòng Kiến tạo - Viện Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Vượng Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn tận tình của thầy trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn Ngoài ra, học viên còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Lãnh đạo Viện Địa chất, phòng Kiến tạo, các ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp Các số liệu sử dụng trong luận văn được sự giúp
đỡ của đề tài thuộc chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước
KHCN- TN3/11-15: “ Nghiên cứu xác định các đới dập vỡ kiến tạo trong các thành
tạo địa chất và khả năng lưu trữ nước nhằm giải quyết nước mùa khô cho các tỉnh Tây Nguyên”, mã số: TN3/T24 do TS Lê Triều Việt làm chủ nhiệm Học viên xin
trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu này
Học viên Nguyễn Văn Luân
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
DANH MỤC BIỂU BẢNG 4
DANH MỤC ẢNH 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.1 Vị trí địa lý 7
1.2 Đặc điểm địa hình 7
1.3 Đặc điểm thủy văn 9
1.4 Đặc điểm khí hậu 10
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 CƠ SỞ TÀI LIỆU 11
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.2.1 Phương pháp viễn thám 11
2.2.2 Phương pháp địa mạo- Tân kiến tạo 11
2.2.3 Phương pháp khôi phục trạng thái ứng suất dựa vào các mặt trượt và
vết xước trên mặt trượt (phương pháp của V.D Parfenov, 1984) 16
2.2.4 Phương pháp đánh giá động đất cực đại theo chiều dài đứt gãy 16
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA MẠO, KIẾN TẠO ĐỚI ĐỨT GÃY VẠN NINH - TÁNH LINH 18
3.1 Đặc điểm địa chất 18
3.1.1 Hệ tầng La Ngà (J2 ln) 19
3.1.2 Hệ tầng Đ o ảo Lộc (J3 dbl) 20
3.1.3 Hệ tầng Đơn ương (K2 dd) 20
3.1.4 Hệ tầng Di Linh (N2 dl) 21
3.1.5 Hệ tầng Túc Trưng (βN - Q tt) 21
Trang 63.1.6 Hệ tầng Đại Nga (βN2 dn) 21
3.1.7 Hệ tầng Xuân Lộc (βQII xl) 22
3.1.8 Phức hệ Định Quán (-- J3 dq) 22
3.1.9 Phức hệ Cà Ná (K2 cn) 23
3.2 Đặc điểm địa mạo 23
3.3 Đặc điểm cấu trúc địa chất - Tân kiến tạo 25
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG ĐỚI ĐỨT GÃY
VẠN NINH - TÁNH LINH VÀ CÁC LOẠI HÌNH TAI BIẾN ĐỊA CHẤT LIÊN QUAN 30
4.1 Đánh giá đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh qua các chỉ số địa mạo 30
4.1.1 Chỉ số bất đối xứng bồn thu nước 30
4.1.2 Chỉ số độ uốn lượn mặt trước núi 32
4.1.3 Tỉ số giữa độ rộng đáy thung lũng và độ cao của nó 34
4.2 Đặc điểm đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh linh qua kết quả xử lý bằng
phương pháp kiến tạo vật lý 37
4.3 Hoạt động hiện đại của đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh và các loại hình nguy cơ tai biến địa chất liên quan 43
4.3.1 Nguy cơ tai biến trượt đất 49
4.3.2 Nguy cơ tai biến động đất 53
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2 Địa hình tỉnh Lâm Đồng và lân cận trên bản đồ EM 8 Hình 3 Mạng lưới thủy văn khu vực nghiên cứu 9 Hình 4 Minh họa chỉ số bất đối xứng của bồn thu nước
Hình 5 Sơ đồ tính chỉ số độ uốn lượn mặt trước núi
Hình 6 Minh họa tỉ số giữa chiều rộng thung lũng với chiều cao 15 Hình 7 Sơ đồ địa chất đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh và lân cận 18 Hình 8 Sơ đồ cấu trúc Tân kiến tạo vùng Lâm Đồng và lân cận 27 Hình 9 Sơ đồ tính chỉ số AF khi chồng chập trên nền bản đồ địa chất
Hình 10 Sơ đồ tính chỉ số bất đối xứng bồn thu nước của đới đứt gãy
Hình 11 Sơ đồ tính toán chỉ số độ uốn lượn mặt trước núi của đới
Hình 12: Sơ đồ vị trí các mặt cắt địa hình trên đới đứt gãy Vạn Ninh -
Hình 13,14, 15,16,17,18: Các mặt cắt địa hình 36 Hình 19 Sơ đồ giải đoán lineament khu vực nghiên cứu 38 Hình 20 Sơ đồ phân bố các đới dập vỡ kiến tạo trên cao nguyên
Hình 21 Mô hình minh họa elipsoid biến dạng theo phương trường
Hình 22 Trường ứng suất kiến tạo hiện đại khu vực Đông Nam Á
Hình 23 iểu hiện đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trên bản đồ địa hình 47 Hình 24 iểu hiện đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trên mạng lưới
Hình 25 iểu hiện đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trên bản đồ EM 47 Hình 26 iểu hiện đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trên ảnh Google Earth 47 Hình 27 Biểu hiện đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh qua các miệng núi
Hình 28 Sơ đồ hiện trạng trượt lở tỉnh Lâm Đồng 51 Hình 29 Sơ đồ hiện trạng các dạng tai biến liên quan tới kiến tạo trẻ,
Trang 8Ảnh 9: Phiến hóa phát triển trong đá ryolit t
50
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong bình đồ cấu trúc kiến tạo khu vực Nam Trung Bộ, đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh nằm trong phạm vi của rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn Đà Lạt (Trần Văn Trị, 2009) Đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh có phương đông bắc- tây nam, chạy dài khoảng 300 km từ huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa qua Lâm Đồng xuống đến khu vực huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận (Trần Văn Thắng và nnk, 2004) Trên suốt chiều dài của đứt gãy, nó đã cắt qua các thành tạo địa chất trước và trong Kainozoi như: đá trầm tích của hệ tầng La Ngà (J2 ln), đá phun trào của hệ tầng Đ o
Bảo Lộc (J3 db), đá phun trào của hệ tầng Đơn ương (K2 dd), trầm tích Neogen hệ
tầng Di Linh (N13-N21 dl), phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng (βN2- Q1 tt), phun
trào bazan hệ tầng Đại Nga (βN2dn), phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc (βQII xl)
cùng với đó là các tích tụ trầm tích bở rời Đệ tứ và các thành tạo xâm nhập granit của hai phức hệ Định Quán (γJ3 dq) và Cà Ná (γK2 cn) Dọc đới đứt gãy còn xuất
hiện các họng núi lửa và các điểm nước khoáng nóng Điều này cho thấy biểu hiện hoạt động trong Tân kiến tạo của đới đứt gãy này
Mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập đến đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh nhưng các công trình này mới chỉ nghiên cứu ở mức khái quát Trong luận văn này, học viên đi sâu vào nghiên cứu chi tiết với mục tiêu là làm sáng tỏ mức độ hoạt động kiến tạo trong giai đoạn Tân kiến tạo của đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng nhằm phục vụ giảm thiểu nguy cơ tai biến địa chất Điểm mới trong luận văn này là học viên đã áp dụng phương pháp tính toán các chỉ
số địa mạo để đánh giá mức độ hoạt động của đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh, đồng thời đã phân đoạn đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh Ý nghĩa của sự phân đoạn này gắn liền với đánh giá nguy cơ tai biến địa chất như động đất, trượt lở đất Trên cơ sở phân đoạn đứt gãy, có thể dự báo được những vị trí có nguy cơ cao hơn hoặc ít nguy cơ hơn trên toàn bộ chiều dài đới đứt gãy nhằm giảm thiểu những thiệt hại liên quan, góp phần quy hoạch sử dụng lãnh thổ dọc đới đứt gãy này Vì những
lý do trên, học viên đã chọn đề tài “ Đánh giá mức độ hoạt động của đới đứt gãy
Vạn Ninh - Tánh Linh trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng ph c v giảm thi u ngu c tai
Trang 10iến địa chất” làm luận văn nghiên cứu Luận văn được bố cục thành 04 chương,
không kể phần mở đầu và kết luận, chi tiết như sau:
Chương 1 Khái quát vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở tài liệu và các phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Đặc điểm địa chất, địa mạo, kiến tạo đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh Chương 4 Đánh giá mức độ hoạt động đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh và các loại hình tai biến địa chất liên quan
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng Lâm Đồng là một trong năm tỉnh của vùng Tây Nguyên, phía đông giáp với tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa, phía bắc giáp với tỉnh Đăk Lăk, phía tây giáp với tỉnh Đăk Nông và
ình Phước, phía nam giáp với tỉnh Bình Thuận và Đồng Nai (Hình 1)
Hình 1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
1.2 Đặc điểm địa hình
Lâm Đồng là một tỉnh nằm trên độ cao địa hình lớn, cao trung bình từ 800-
1000 m so với mực nước biển Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam và có thể chia thành 3 dạng địa hình chính
sau (Hình 2):
Trang 12Hình 2 Địa hình tỉnh Lâm Đồng và lân cận trên ản đồ DEM
- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao
từ 1.300m đến hơn 2.000m như i Đúp (2.287m), Lang ian (2.167m), Chư You Kao 2.006 m, M’neun San 1.996 m, e Nom an Seng 1.931 m,
- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 - 800 m) Địa hình chủ yếu là thung lũng, gồm các bề mặt tương đối bằng phẳng, ít dốc, có nguồn gốc tích
tụ thung lũng giữa núi hoặc các bồi tích sông suối hiện đại
- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên i Linh - ảo Lộc và bán bình nguyên Các dạng địa hình chủ yếu là đồi núi thấp đến trung bình, gồm các đồi hoặc núi có độ dốc 20o
và có độ cao < 800 - 1.000 m
Trang 131.3 Đặc điểm thủy văn
Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2 với độ dốc đáy nhỏ hơn 1% Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam
Hình 3 Mạng lưới thủ văn khu vực nghiên cứu
o đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều
có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn Đặc trưng chính của sông suối Lâm Đồng là ngắn và dốc, lưu lượng chảy thấp, phân bố không đều giữa các mùa, lưu vực tập trung nước nhỏ.Vào mùa khô các suối thường bị cạn kiệt không đủ nước tưới cho đồng ruộng, ngược lại vào mùa mưa nước tập trung nhanh
Trang 14thường gây ngập úng cục bộ Sông suối phát triển theo các kiểu mạng khác nhau và kết hợp lại để hình thành nên mạng lưới thủy văn Các kiểu mạng sông bao gồm:
mạng cành cây, dạng song song, dạng tỏa tia, dạng lông chim, (Hình ) Các sông
lớn của tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai gồm 3 sông chính là: sông Đa âng (Đạ Đờng), sông La Ngà, sông Đa Nhim
Trang 15CHƯƠNG 2 CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở tài liệu
- Tài liệu chính được sử dụng trong luận văn là nguồn số liệu do chính tác giả thu thập và xử lý trong quá trình tham gia thực hiện đề tài thuộc chương trình
Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước KHCN-TN3/11-15: “Nghiên cứu
xác định các đới dập vỡ kiến tạo trong các thành tạo địa chất và khả năng lưu trữ nước nhằm giải quyết nước mùa khô cho các tỉnh Tây Nguyên” Mã số: TN3/T24 do
Viện Địa chất- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì và TS Lê Triều Việt làm chủ nhiệm
- Các báo cáo, bài báo, luận án, luận văn của các công trình nghiên cứu trước đây về địa chất, địa mạo, kiến tạo, địa động lực liên quan đến khu vực nghiên cứu
- Các bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000, các loại ảnh: DEM, vệ tinh và máy bay của khu vực nghiên cứu
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp địa mạo - n i n ạ
Phương pháp dựa trên nguyên l : Địa hình là kết quả tác động tương hỗ giữa quá trình nội sinh và ngoại sinh Những nét căn bản của địa hình hiện nay là do vận động Tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại hình thành nên o vậy, thông qua các kiểu kiến trúc hình thái và các biến dạng địa hình, bề mặt san bằng, thềm sông, có thể phát hiện ra các hoạt động kiến tạo trẻ và đánh giá mức độ hoạt động của chúng Thêm nữa, hoạt động của dòng chảy trên mặt phản ứng rất nhạy bén với các hoạt
Trang 16động nội sinh Vì vậy phân tích mạng lưới sông suối và xác định các kiểu hình hài kiến trúc cho phép gián tiếp nhận dạng các cấu trúc kiến tạo, trong đó có đứt gãy Tân kiến tạo Trong phương pháp này, tác giả áp dụng cách phân tích và tính toán các chỉ số địa mạo- kiến tạo bao gồm 3 chỉ số đó là: chỉ số bất đối xứng của bồn thu nước; Chỉ số độ uốn lượn mặt trước núi; Tỉ số giữa độ rộng của đáy và độ cao của đỉnh thung lũng
2.2.2 Chỉ s ất đ i xứng của ồn thu nước
Là một thông số về hình thái của bồn thu nước và các dòng chảy trong đó, nó thể hiện sự bất đối xứng giữa hai nửa bồn thu nước thông qua việc tính diện tích của bồn thu nước Chỉ số bất đối xứng được tính theo công thức:
AF = Sl
Sr Trong đó:
AF: là chỉ số bất đối xứng của bồn thu nước
Sl : là diện tích nửa bồn thu nước bên trái (m2
)
Sr : là diện tích nửa bồn thu nước bên phải (m2)
Ý nghĩa của chỉ số bất đối xứng của bồn thu nước:
- AF = 1: Đây là trường hợp l tưởng Tức là không có hoạt động nâng kiến
tạo, khí hậu như nhau, thành phần thạch học như nhau trên toàn bộ bồn thu nước thì bồn thu nước sẽ có dạng đối xứng qua dòng chảy chính
- AF ≠ : Nghĩa là diện tích của hai nửa bồn có sự khác nhau Có 2 nguyên
nhân làm cho diện tích của hai nửa bồn có sự khác nhau:
Trang 17Hình 4 Minh họa chỉ s ất đ i xứng của ồn thu nước
(theo S.A Mahmood et al.,2012)
+ Do sự khác nhau về đặc điểm thạch học: sự khác nhau về đặc điểm cấu tạo
đá giữa hai nửa bồn thu nước càng lớn thì tính bất đối xứng càng cao Bên nào có
đặc điểm đá gắn kết yếu hoặc phong hóa bở rời thì sẽ có diện tích lớn hơn Và
ngược lại, bên nào có đặc điểm đá cứng, rắn chắc thì diện tích nhỏ hơn
+ Do chuyển động kiến tạo: Khi một vận động kiến tạo nâng ở một cánh của
bồn thu nước thì dòng chảy trong bồn sẽ bị dịch chuyển về phía thấp, đồng thời xảy
ra hiện tượng xâm thực giật lùi của các nhánh con về phía cao làm cho bồn thu nước
trở thành bất đối xứng
2.2.2.2 Chỉ s độ u n lư n m t trước n i
Là chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa hoạt động kiến tạo và hoạt động xâm
thực Đây là hai hoạt động trái ngược nhau, hoạt động kiến tạo có xu hướng làm cho
mặt trước núi trở thành đường thẳng, còn hoạt động xâm thực có xu hướng làm cho
mặt trước núi uốn lượn
Trang 18Hình 5 S đồ tính chỉ s độ u n lư n m t trước núi (theo Keller và Pinter,2002)
Chỉ số uốn lượn mặt trước núi được tính theo công thức:
Smf = Lmf
LsTrong đó:
Smf : là chỉ số độ uốn lượn mặt trước núi
Lmf : là chiều dài theo đường uốn lượn mặt trước núi, nơi có độ dốc thay đổi
rõ rệt nhất(m)
Ls : là chiều dài theo đường thẳng (m)
Ý nghĩa của chỉ số uốn lượn mặt trước núi:
- Nếu hoạt động kiến tạo chiếm ưu thế thì mặt trước núi tương đối thẳng, khi
đó Lmf nhỏ dần dẫn đến Smf cũng nhỏ dần và lùi dần về Smf = 1
- Nếu hoạt động xâm thực chiếm ưu thế thì Lmf lớn dẫn đến Smf lớn (Smf > 1)
và chỉ số này ngày càng tăng theo thời gian
Trang 192.2.2 Tỉ s giữa chi u rộng đá và chi u cao thung l ng
Là số đo định lượng thể hiện hình thái của thung lũng Tỉ số này phản ánh hình dạng của mặt cắt ngang thung lũng và cho biết mức độ trưởng thành của thung lũng Tỉ số giữa chiều rộng đáy và chiều cao thung lũng được tính theo công thức:
Vf = (E 2Vfw
ld -Esc) + (Erd - Esc) Trong đó:
Vf : là tỉ số giữa chiều rộng đáy và chiều cao thung lũng
Vfw : là chiều rộng đáy thung lũng (m)
Eld và Erd : là độ cao đỉnh bên trái và bên phải của thung lũng (m)
Esc : là độ cao đáy thung lũng (m)
Hình 6 Minh họa tỉ s giữa chi u rộng thung l ng với chi u cao
Ý nghĩa của tỉ số giữa chiều rộng đáy và chiều cao thung lũng:
- Hình dạng mặt cắt ngang của thung lũng có mối liên hệ với sự chuyển động nâng của vùng Nếu tốc độ nâng kiến tạo cao thì giá trị Vf thấp, phản ánh thung lũng sâu, h p và có dạng chữ “V”
- Nếu tốc độ nâng kiến tạo thấp thì giá trị Vf cao, phản ánh thung lũng
mở rộng
Trang 202.2.3 Phương pháp hôi phục trạng thái ứng suất dựa vào các mặ rượt
và v xước trên mặ rượ (phương pháp của V.D Parfenov, 1984)
Phương pháp đã được V.D Parphenov trình bày năm 1984 Phương pháp cho phép xác định và tách các trường ứng suất kiến tạo tại một điểm khảo sát hoặc một khu vực cùng đặc điểm kiến trúc, trên cơ sở các số đo vết xước trên các mặt trượt
Phương pháp này đòi hỏi các tài liệu thực tế về thế nằm mặt trượt, vết xước trên mặt trượt và hướng dịch trượt của các cánh theo mặt trượt Hướng dịch trượt được xác định theo các dấu hiệu hình động học còn để lại trên mặt trượt: kiến trúc dạng bậc, mức độ tinh khiết của các tinh thể thứ sinh trên mặt trượt, Với những tài liệu như vậy, đối với mỗi mặt trượt có thể xác định được trục ứng suất trung gian gần với trục trung gian của trường ứng suất thực mà trong đó nó đã được sinh ra (được ký hiệu là 2’) vì về mặt lý thuyết nó phải nằm trên mặt phẳng chứa vết xước
và vuông góc với vết xước Biết trục 2’ thì cũng có nghĩa biết được mặt trượt cộng ứng với mặt trượt có vết xước và mặt phẳng chứa các trục 1’ và 3’ iết hướng dịch chuyển của vết xước ta dễ dàng xác định được trục nào là 1’và trục nào là
3’ Việc tách ra các trường ứng suất được xác định trên cơ sở phân tích thống kê giá trị tọa độ các trục ứng suất pháp gần chính 2’, 1’, 3’ Các trục ứng suất pháp gần chính xoay xung quanh trục ứng suất pháp chính một góc 450
2.2.4 Phương pháp đánh giá động đất cực đại theo chiều dài đứt gãy
Trong luận văn này, học viên đã áp dụng công thức tính độ nguy hiểm động đất cho đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh trên cơ sở chiều dài đứt gãy Công thức được
áp dụng theo các tác giả: Nguyễn Đình Xuyên (1990), Cao Đình Triều (2002), Well and Coppersmith (1994)
- Công thức áp dụng theo Nguyễn Đình Xuyên (1990):
log Lx (km) = 0,5Ms - 1,06
- Công thức áp dụng theo Cao Đình Triều (2002):
log L (km) = 0,6 Msmax - 2,5
Trang 21- Công thức đƣợc áp dụng theo Wells and Coppersmith (1994):
M = 4,38 + 1,49 log L Trong đó:
L : là chiều dài của đoạn đứt gãy (km)
M : là magnitude động đất lớn nhất có thể xảy ra dọc đứt gãy đó
Áp dụng các công thức trên cho đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh sẽ cho biết các giá trị Magnitude cực đại của động đất
Trang 22CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA MẠO, KIẾN TẠO ĐỚI ĐỨT GÃY
VẠN NINH - TÁNH LINH
3.1 Đặc điểm địa chất
Đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh có phương đông bắc- tây nam, từ Vạn Ninh (Khánh Hòa) đến Tánh Linh (Bình Thuận) với tổng chiều dài khoảng 300 km [7], đoạn qua tỉnh Lâm Đồng có chiều dài khoảng 130 km [1] Trên suốt chiều dài của đới đứt gãy, nó đã cắt qua nhiều thành tạo địa chất trước và trong Kainozoi
(Hình 7)
Hình 7 S đồ địa chất đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh và lân cận [1]
Trang 23Các thành tạo trên dọc chiều dài đới đứt gãy bao gồm: đá trầm tích bột kết, sét kết của hệ tầng La Ngà (J2 ln), đá phun trào của hệ tầng Đ o ảo Lộc (J3 dbl), đá
phun trào của hệ tầng Đơn ương (K2 dd), trầm tích Neogen hệ tầng Di Linh (N13
-N21 dl), phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng (βN2- Q1 tt), phun trào bazan hệ tầng Đại Nga (βN2dn), phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc (βQII xl) , trầm tích bở rời Đệ
tứ và các thành tạo xâm nhập granit của hai phức hệ Định Quán (γJ3 dq) và Cà Ná
(γK2 cn) ưới đây là những nét sơ lược về các thành tạo địa chất chính trong khu
vực nghiên cứu theo bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000 [1]
Hệ tầng La Ngà gồm các trầm tích vũng vịnh, thường hạt mịn, dạng dải, chứa nhiều hạt pyrit, chứng tỏ được thành tạo trong môi trường khử, chuyển lên hệ xen kẽ hạt thô- hạt mịn thuộc tướng biển ven bờ, phân bố ở phần giữa bể Đà Lạt
Các lớp trầm tích của hệ tầng La Ngà có đường phương vĩ tuyến hoặc Đ -
TN bị uốn nếp mạnh tạo thành các nếp uốn h p, kéo dài có cánh dốc 60- 700 Mặt cắt của hệ tầng gồm 4 tập:
- Tập 1: Sét kết màu đen phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng đôi chỗ có thể tách thành từng tấm như đá phiến lợp, dày khoảng 80 m
- Tập 2: Các lớp dạng nhịp với sét kết màu xám đen xen bột kết màu xám phân dải mỏng Trong bột kết có các lớp k p cát kết hạt vừa màu xám tạo nên dạng sọc dải, chiều dày 300 m
- Tập 3: Cát kết hạt mịn, phân lớp dày xen bột kết màu xám, xám vàng, chiều dày 200 m
- Tập 4: ưới là cát kết, cát bột kết, bột kết xen kẽ dạng nhịp Đá có màu xám nhạt, trên là cát kết hạt vừa màu xám xen cát bột phân lớp xiên, độ mài tròn trung bình Chiều dày tập 150 - 200 m ề dày chung của hệ tầng La Ngà đạt khoảng 1200 m
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng La Ngà lộ ra trên diện rất lớn ở khu vực Đức Trọng, diện nhỏ hơn thì lộ ra ở Lạc ương, Di Linh, Đà Lạt, Bảo Lâm
Trang 243.1.2 ng ộc ( 3 dbl)
Hệ tầng Đ o ảo Lộc gồm các thành tạo trầm tích nguồn núi lửa, thành phần chủ yếu trung tính, được hình thành trong môi trường lục địa Hệ tầng lộ thành những diện rộng ở các vùng Đ o ảo Lộc, thượng nguồn sông i (Đồng Nai), mặt cắt đặc trưng dày 750 m gồm cuội kết cơ sở, sạn kết tuf xám nhạt, nâu phớt tím, đôi khi xen cát kết và bột kết màu nâu đỏ chuyển lên andesit, andesit porphyr, andesitobazan, dacit, ryodacit, đôi khi gặp lớp k p cát kết chứa vật liệu núi lửa và tuf của chúng Thành phần thạch học gồm andezit, andezit porphyr, dacit, ryodacit
và tuf của chúng Đôi nơi có sự xen kẽ các trầm tích núi lửa dưới dạng các lớp hoặc thấu kính mỏng Mặt cắt của hệ tầng có thể chia làm 2 tập:
- Tập 1: sạn kết tuf, cát kết tuf, bột kết tuf đôi khi xen andezit, andezit dacit
và tuf của chúng cùng ít sét kết vôi chứa hóa thạch bảo tồn xấu ày 200- 250 m
- Tập 2: andezit, andezit porphyr, dacit, ryodacit và tuf của chúng ày khoảng 400 m
Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 600- 650 m
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Đ o ảo Lộc lộ trên diện khá lớn ở Di Linh, và một vài chỏm nhỏ ở Bảo Lâm
Hệ tầng Đơn ương gồm các thành tạo trầm tích- núi lửa thành phần axit đến trung tính thành tạo trong điều kiện lục địa, có thế nằm rất thoải phủ trên trầm tích Jura hạ- trung ở bể Đà Lạt Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng dày 1250- 1350 m lộ
ra ở vùng Đơn ương, bao gồm cuội kết và sạn kết hỗn tạp, sạn kết tuf, đôi chỗ xen các lớp k p sét kết hoặc bột kết màu nâu đỏ, ryolit và felsit porphyr, chuyển lên dacit porphyr màu xám lục nhạt Hệ tầng Đơn ương nằm không chỉnh hợp trên các
hệ tầng Jura trung- thượng và Kreta hạ
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Đơn ương lộ ra trên diện rất lớn, điển hình như ở Đức Trọng, Đơn ương, Đà Lạt, Lâm Hà, Lạc ương
Trang 253.1.4 H t ng Di Linh (N 2 dl)
Hệ tầng Di Linh gồm các trầm tích đệ tam chứa bentonit phân bố trong các
bể Lâm Đồng Có thể gặp mặt cắt của hệ tầng ở Di Linh, Bảo Lộc, thung lũng sông
Đa ung, Đức Trọng và Đà Lạt Hệ tầng có mặt cắt đặc trưng ở Đại Hiệp, Di Linh với bề dày 110- 145 m, gồm sạn kết thạch anh chứa hạt silic, cát kết xám lục, chứa bentonit và hóa thạch thực vật Theo tài liệu khoan ở vùng Tam Bố, Di Linh, ở phần trên mặt cắt có các lớp k p bazan có tuổi Pliocen nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng
Đ o ảo Lộc Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Di Linh lộ ra thành những dải nhỏ kéo dài như ở Di Linh, Bảo Lộc, Đinh Văn
Hệ tầng Túc Trưng gồm bazan olivin kiềm, bazan tholeit, plagiobazan Nhìn chung đá thường có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, màu sắc từ xám, xám đen đến đen; đôi khi trong các tập bazan olivin có các bao thể lerzolit spinel Đá cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng, hạnh nhân; kiến trúc phổ biến là porphyr với nền đolerit, gian phiến, hiếm hơn có kiến trúc hyalopylit Thành phần ban tinh chiếm từ 5 đến 15%, gồm olivin, augit, plagioclas, hiếm hơn có hypersten hoặc enstatit Thành phần khoáng vật nền gồm: plagioclas (anđesin), augit, olivin, paragonit, titanomagnetit, aragonit, thủy tinh núi lửa, ít zeolit
Lớp phủ bazan hệ tầng Túc Trưng nằm trực tiếp trên bề mặt bào mòn của các
hệ tầng Đray Linh, Ea Sup, Sông Ba Kết quả phân tích tuổi đồng vị của bazan ở đông bắc Buôn Ma Thuột bằng phương pháp K-Ar (Bazz S M và nnk., 1981) cho giá trị 3,40,1 triệu năm, tương ứng với Pliocen Dựa vào cả quan hệ địa chất, hệ tầng Túc Trưng được xếp vào Pliocen-Pleistocen Chiều dày của hệ tầng thay đổi ở từng nơi, có nơi chỉ dày 10- 60 m, có nơi đến 250 m Trong khu vực nghiên cứu, bazan hệ tầng Túc Trưng lộ ra với diện tích lớn ở Bảo Lâm, i Linh, Đức Trọng, hạn chế hơn ở khu vực Đà Lạt, Đơn ương
Bazan hệ tầng Đại Nga có cấu tạo đặc sít xen lỗ hổng, màu xám tro, xám sẫm, thành phần biến đổi từ bazan tholeit, plagiobazan đến bazan olivin kiềm Bề
Trang 26dày hệ tầng thay đổi từ 10 tới 40m Các bazan này phủ trực tiếp trên mặt bào mòn của các đá granitoiđ tuổi Mesozoi, có nơi chúng phủ trên vỏ phong hóa của các đá
thuộc hệ tầng La Ngà (J2 ln) Trong khu vực nghiên cứu, bazan hệ tầng Đại Nga lộ
ra ở Bảo Lộc, Di Linh và diện tích nhỏ ở thị trấn Đinh Văn
Hệ tầng Xuân Lộc gồm các đá bazan lộ ra thành các chỏm nhỏ rải rác, gắn
bó chặt chẽ với các cấu trúc núi lửa còn bảo tồn tốt Ngoài các đá phun trào dưới dạng dòng chảy dung nham, còn một khối lượng ít các tuf vụn núi lửa gắn bó với các chóp nón núi lửa
Hệ tầng có từ 1 đến 2 tập bazan olivin, bazan augit, bazan augit-plagioclas Đá có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, màu xám, xám đen, cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng, kiến trúc porphyr với nền vi đolerit, gian phiến hoặc hyalopilit Bazan phong hóa thành đất đỏ có chiều dày từ 3 đến 15m Chiều dày chung 20 -50m
olivin-Bazan hệ tầng Xuân Lộc ở một vài nơi thường phủ trực tiếp trên bazan hệ tầng Túc Trưng và bị phủ bởi các bồi tích Holocen Tuổi đồng vị của bazan tương tự ở vùng Đức Trọng, Xuân Lộc, đều cho giá trị tương đương Pleistocen giữa, dựa vào đó
hệ tầng Xuân Lộc được xếp vào Pleistocen trung Trong khu vực nghiên cứu, bazan
hệ tầng Xuân Lộc lộ ra trên diện nhỏ ở Đức Trọng, Liên Nghĩa, Đơn ương
Trong khu vực nghiên cứu, phức hệ Định Quán có diện lộ khá rộng rãi tạo thành các khối lớn như ở i Linh, Tánh Linh, Đơn ương, Khánh Sơn bao gồm 3 pha xâm nhập và một pha đá mạch
- Pha 1: tạo các thể nhỏ, gồm diorit, gabrodiorit, đá có màu xanh đen, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt không đều Khoáng vật phụ có apatit, zircon
- Pha 2: là pha chính của phức hệ, tạo các khối lớn diện lộ rộng, gồm các đá granodiorit biotit- horblen, ít gặp hơn có tonalit- biotit horblen màu xám trắng đốm đen Cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình, hạt vừa Đá pha 2 bắt tù và xuyên cắt đá pha 1
Trang 27- Pha 3: ít phát triển, diện lộ nhỏ, gồm granit biotit có horblen, hạt nhỏ, màu xám trắng, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt không đều
- Pha đá mạch: ít phát triển, gồm granit aplit màu xám sáng, hạt nhỏ và spesatit màu xám đen phớt lục, hạt nhỏ, cấu tạo khối, kiến trúc dạng porphyr ban tinh là plagioclas, horblen, nền hạt lăng trụ đều hoặc nửa tự hình
Phức hệ Định Quán được định tuổi là Jura muộn dựa trên quan hệ xuyên cắt với các đá trầm tích và trầm tích phun trào tuổi Jura, hệ tầng La Ngà, Đ o ảo Lộc
và bị phủ bởi cuội kết tuf màu đỏ tuổi Kreta hệ tầng Đơn ương
Trong vùng khu vực nghiên cứu, phức hệ Cà Ná phát triển thành khối khá lớn
ở Đà Lạt, Lâm Hà, Lạc ương Phức hệ Cà Ná gồm hai pha và một pha đá mạch
- Pha 1(K2 cn 1): là pha chính, gồm các đá granit biotit- muscovit, granit alaskit hạt vừa đến lớn, cấu tạo khối, kiến trúc porphyr với ban tinh là felpat kali lớn (1-3 cm) màu xám trắng nổi trên nền hạt vừa Đá pha 1 bị đá pha 2 xuyên cắt
- Pha 2 (K2 cn 2): gồm các đá granit alaskit, granit biotit- muscovit hạt nhỏ, sáng màu, phong hóa màu nâu Cấu tạo khối, kiến trúc hạt nhỏ, đôi nơi có kiến trúc dạng porphyr, ban tinh là felpat, thạch anh
- Pha đá mạch (K2 cn): gồm granit porphyr, granit aplit, granit pegmatit
Mạch dày vài cm đến hàng mét, kéo dài hàng chục mét Khoáng vật chủ yếu là thạch anh, felpat, ít biotit, muscovit Ngoài ra còn gặp khá phổ biến các đới, mạch greizen trong bản thân khối và ở đới tiếp xúc
Granitoid phức hệ Cà Ná xuyên cắt hệ tầng La Ngà (J2 ln), phun trào hệ tầng
Đơn ương (K2 dd) Chúng bị các mạch gabrodiaba phức hệ Cù Mông cắt qua
Tuổi của phức hệ được xếp vào Kreta muộn
3.2 Đặc điểm địa mạo
Theo Nguyễn Văn Đạo (1986), trong khu vực nghiên cứu có sự xuất hiện của các bề mặt san bằng Đức Trọng- Di Linh, Đà Lạt có diện bảo tồn rộng rãi dưới dạng các cao nguyên Những mảnh sót của các bề mặt san bằng này có những đặc điểm hình thái cơ bản là: nằm ở những độ cao tuyệt đối khác nhau từ 250- 1300 m, có
Trang 28hình thái bề mặt tương đối bằng phẳng, độ phân cắt sâu trung bình dưới 100 m, lớp phủ bazan bằng phẳng chiếm diện tích rộng lớn Trên các bề mặt thường xuất hiện
vỏ phong hóa với bề dày từ vài mét đến vài chục mét Ở một số nơi, trầm tích Neogen phân lớp ngang là bề mặt cấu thành mặt san bằng Tuổi của bề mặt san bằng là Pliocen muộn
Theo Trần Văn Thắng và nnk (2004), đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh có biểu hiện hoạt động dựa theo nhiều yếu tố, trong đó yếu tố trên ảnh viễn thám và
dấu hiệu địa mạo thể hiện rất rõ (bảng 1)
Dựa vào phân tích các yếu tố thể hiện trên bản đồ địa hình, địa mạo, tác giả
đã tiến hành phân đoạn cho đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ Đơn ương kéo về phía tây nam đến Tánh Linh đứt gãy này chạy song song với đới đứt gãy Nha Trang- Tánh Linh Theo Phạm Văn Hùng (2002), phân đoạn trong đới đứt gãy Nha Trang- Tánh Linh nói trên được gọi tên là Đơn ương-
Ta Mon Đây là một dải địa hình trũng thấp chạy theo phương Đ - TN rộng khoảng 10- 15 km, dài khoảng 50 km trùng với thung lũng sông Đa Nhim và phân biệt rõ với các địa hình núi và cao nguyên ở hai bên rìa
Bảng 1 Các yếu t bi u hiện hoạt động của đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh [7]
ên trong đới đứt gãy phổ biến là các dạng địa hình tích tụ Đệ tứ có nguồn gốc hỗn hợp aluvi, proluvi, gồm các thềm, bãi bồi, nón phóng vật và rải rác các đồi núi sót xâm thực Ở hai bên rìa phổ biến các pha sét kiến tạo Phần đầu mút tây nam, các dạng địa hình tích tụ Đệ tứ được mở rộng đến 15 km ên ngoài đới, phía tây
Trang 29bắc nổi lên các dãy núi cao 1800- 2000 m phương á kinh tuyến và bình sơn nguyên
Đà Lạt cao 1500 m chạy dài theo phương Đ - TN Cánh đông nam là các núi sót cao khoảng 800-1000 m và các dãy đồi chạy theo phương á vĩ tuyến Đoạn Ta Mon- Tánh Linh là một dải trũng rộng khoảng 6- 8 km, dài khoảng 50 km chạy theo phương Đ - TN Dải trũng này phân biệt rõ với địa hình núi đồi ở hai bên Bên trong đới đứt gãy, phần đầu mút phía đông bắc phổ biến là các núi đồi sót xâm thực
và rác các địa hình tích tụ hỗn hợp aluvi, proluvi Đệ tứ Phần đầu mút tây nam, đới đứt gãy trùng với thượng nguồn sông La Ngà Địa hình chủ yếu ở đây là các bãi bồi
và thềm sông
3.3 Đặc điểm cấu trúc địa chất - Tân kiến tạo
Theo Nguyễn Trọng Yêm (1991), khu vực nghiên cứu nằm trong khối Tây Nam của khu vực Nam Trung Bộ, khối này được tạo nên chủ yếu bởi các thành tạo Paleozoi- Mesozoi, trong giai đoạn Tân kiến tạo bị lôi cuốn nâng lên phân dị mạnh tạo thành những dãy núi lớn chạy dài theo phương Đ - TN Trong thời kì sau của giai đoạn Tân kiến tạo, ở đây nổi bật lên một loạt những đứt gãy sâu theo phương Đ - TN cắt toàn bộ diện tích của khối và hoạt động tích cực với cơ chế trượt bằng trái
Theo Trần Văn Thắng và nnk (2004), đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh có quy mô khá lớn, kéo dài gần 300 km từ phía nam Đ o Cả qua Vạn Ninh, Đà Lạt, Lâm Hà, i Linh và kéo dài đến Tánh Linh Kết quả xử lý khe nứt kiến tạo bằng phương pháp hệ ba khe nứt cộng ứng cho thấy mặt trượt đứt gãy cắm dốc đến dốc đứng về phía tây bắc với góc dốc khoảng 60- 700, độ sâu phát sinh xuyên vỏ khoảng
20 km Đứt gãy cắt phá các thành tạo lục nguyên hệ tầng Bản Đôn gây biến vị vò nhàu khá mạnh Tại khu vực mỏ đá ồ Đà, đứt gãy cắt phá các thành tạo phun trào của hệ tầng Nha Trang tạo thành đới cà nát kiến tạo rộng 300- 500 m, đôi khi dọc đới phát triển các đới thạch anh hóa rộng 50- 70 m và chính thế nằm của các đới thạch anh này đã phản ánh khá rõ mặt trượt đứt gãy
Theo Ngô Gia Thắng (2009), khu vực nghiên cứu nằm trong phụ miền Đà Lạt thuộc miền tạo núi nội mảng Nam Việt Nam, bao gồm các kiến trúc nâng sụt tương đối phân dị phát triển kế thừa từ đai núi lửa- pluton rìa lục địa tuổi Mesozoi
Trang 30muộn Cấu trúc của đới gồm hai phần không đối xứng là đới Đ o Cả và khối nâng dạng vồng- địa lũy phân dị Đà Lạt, chúng nằm k p giữa các hệ thống đứt gãy song song có phương đông bắc tây nam và bị chặn bởi đứt gãy Vũng Tàu- Long Khánh Trong đới Đà Lạt nổi lên vòm nâng bậc cao Đà Lạt với biên độ trên 2000 mét và bậc thang dạng trũng i Linh - Đức Trọng (tích tụ trầm tích sông- hồ Pliocen) biên
độ nâng từ 500 m đến 1500 m, giữa chúng là một vách kiến tạo cao khoảng 500 m nằm dọc sông Đăk ung Về phía đông và tây nam có sự hạ bậc địa hình và biên độ nâng xuống dưới 500 m và đới chìm dần xuống trũng đồng bằng sông Cửu Long và trũng Cửu Long kế cận trên thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Đovjikov A.E (1965), Trần Văn Trị (1976) và các tác giả của loạt tờ địa chất tỉ lệ 1:200 000 (loạt tờ Bến Khế- Đồng Nai) năm 1979-
1988, đã xác định sự thành tạo các cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu, có các hệ tầng từ Protezozoi (Hệ tầng Khâm Đức- PR2-3 kđ) là các thành tạo của vỏ lục địa cổ
sau này đến Mezozoi - Kainozoi bị hoạt hoá để hình thành nên võng chồng gối với các thành tạo trẻ hơn với thành phần chủ yếu là cát, bột kết, sét kết và các tập cuội, sỏi đa khoáng, tướng chủ yếu là lục địa và tướng biển ven rìa như: hệ tầng Bản Đôn (J2 đ), hệ tầng La Ngà (J2 ln), hệ tầng Đ o ảo Lộc (J3 đ l), hệ tầng Nha Trang (K
nt), hệ tầng Đăk Rium (K2 đr), hệ tầng Đơn ương (K2 đd), hệ tầng Di Linh (N1
3-N21 dl), hệ tầng Đại Nga (N2 đn, hệ tầng Túc Trưng (N2-QI tt) và các phức hệ
xâm nhập granit phổ biến nhiều nơi trong khu vực nghiên cứu: phức hệ Định Quán (--J3 đq), phức hệ Cà Ná (K2 cn) và các lớp phủ trầm tích Đệ tứ Trên bản đồ
địa chất 1: 200.000 cho thấy đặc điểm kiến trúc đới đứt gãy Vạn Ninh - Tánh Linh
và lân cận gồm một đứt gãy chính kéo dài theo phương Đ - TN cùng hệ thống các đứt gãy phụ cùng phương Đ - TN Đứt gãy chính bị các đứt gãy phụ phương T -
ĐN cắt qua và làm dịch chuyển
Dựa vào đặc điểm địa hình bao gồm hình thái, kiến trúc địa hình, biên độ nâng, hạ, các mảnh san bằng còn sót lại và các kiểu chuyển động (vòm, khối tảng ), học viên đã phân chia phạm vi nghiên cứu thành các khối kiến trúc Tân kiến tạo với các đặc trưng chuyển động khác nhau (Hình 8):
Trang 31- Khối Đăk Lăk: Đây là đới kiến trúc có ranh giới phía đông nam là đứt gãy Tuy Hoà- Củ Chi, phía tây bắc vượt ra khỏi phạm vi nghiên cứu Trước Kainozoi, đây là vỏ lục địa cổ và tương đối ổn định, móng kết tinh là đá biến chất cổ Protezozoi Hiện nay, phần móng này còn lộ ra ở phía đông bắc vùng nghiên cứu (khu vực tây bắc thị trấn M’Đrăk, Ea Knốp ) Trong Kainozoi, đới hoạt động mạnh với hàng loạt các phun trào bazan tuổi Neogen- Đệ tứ phủ rộng rãi trên toàn bộ khu vực và đã tạo nên bề mặt san bằng rộng lớn đó là cao nguyên uôn Mê Thuột với
độ cao trung bình khoảng 600m Trên bề mặt cao nguyên nổi lên các dải địa hình nhỏ uốn lượn và kéo dài theo phương Đ - TN
Hình 8 S đồ cấu trúc Tân kiến tạo vùng Lâm Đồng và lân cận