1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác lập thị trương mục tiêu của công ty CONVERSE VIỆT NAM phân tích nội dung các quyết định quản trị sản phẩm và mối quan hệ giữa nó với các quyết định quản trị trong marketing mix nhằm thích ứng với các thị trường mục tiêu

32 2,3K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 71,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong việc xây dựng các Quyết định quản trị cho Hoạt động Marketing thìviệc xây dựng được Chiến lược cho sản phẩm là một công việc rất khó khăn, lànhiệm vụ vô cùng quan trọng của mỗi doa

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Truyền thông luôn là công cụ rất quan trọng đối với nhà sản xuất khi muốntung sản phẩm của mình ra thị trường Nhưng muốn điều đó được thực hiện thànhcông thì các nhà sản xuất cần lập cho mình những chiến dịch Marketting hợp lý và

cụ thể Trong việc xây dựng các Quyết định quản trị cho Hoạt động Marketing thìviệc xây dựng được Chiến lược cho sản phẩm là một công việc rất khó khăn, lànhiệm vụ vô cùng quan trọng của mỗi doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quảnhất ba mục tiêu: lợi nhuận, định vị và an toàn

Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong bốn yếu tố chính củaMarketing -Mix Hiện nay trên thị trường hầu hết các công ty đều quản lý nhiềuhơn một sản phẩm, nói cách khác là các công ty luôn luôn mở rộng Danh mục sảnphẩm của công ty mình cả về chiều rộng, chiều dài, chiều sâu hay mật độ nhấtđịnh Chính vì vậy, việc xây dựng chiến lược sản phẩm đòi hỏi các nhà Quản trịphải đưa ra những quyết định hài hoà về danh mục sản phẩm, chủng loại sản phẩm,nhãn hiệu, bao bì ,cách gắn nhãn và chu kì sống của sản phẩm

Và trong bài tiểu luận này, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Xác lập thị trươngmục tiêu của công ty CONVERSE VIỆT NAM? Phân tích nội dung các quyết địnhquản trị sản phẩm và mối quan hệ giữa nó với các quyết định quản trị trongMarketing-Mix nhằm thích ứng với các thị trường mục tiêu” Với sự hiểu biết củamình, Nhóm một hi vọng sẽ phần nào giúp chúng ta làm rõ hơn về cách quản lýcác danh mục, chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu, bao bì và chu kì sống của sản phẩmnói chung và của ngành hàng giầy nói riêng

Nhóm 1- Quản Trị Marketing

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Thị trường mục tiêu

1.1.1 Khái niệm về thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầuhoặc mong muốn mà công ty có khả năng đáp ứng, đồng thời có thể rạo ra ưu thếhơn so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu Marketing đã định củadoanh nghiệp

1.1.2 Xác định thị trường mục tiêu

Quá trình xác định thị trường mục tiêu được tiến hành theo quy trình gồm babước: Phân đoạn thị trường, Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu và Định vị trên thịtrường mục tiêu

 Phân đoạn thị trường

Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu dùng có phản ứng như nhau đối vớicùng một tập hợp những kích thích của Marketing

Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùng thành từngnhóm ( khúc, đoạn ) trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, về tính cách hayhành vi

Để phân đoạn thị trường hiệu quả, doanh nghiệp cần thực hiên hai hoạtđộng:

- Xác định những tiêu thức phân đoạn.

- Những yêu cầu phân đoạn.

Trang 3

 Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu.

Mỗi doanh nghiệp có thể có một hay nhiều thị trường mục tiêu, tuy nhiên,không phải phân đoạn nào cũng đem lại những thành công cho doanh nghiệp

Việc lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu doanh nghiệp cần tính đến cácyếu tố sau đây:

- Khả năng tài chính của Doanh nghiệp

- Đặc điểm về sản phẩm của Doanh nghiệp

- Chù kì sống của sản phẩm

- Mức độ đồng nhất của thị trường

- Những chiến lược Marketing của đối thủ cạnh tranh.

Doanh nghiệp đưa ra quyết định về số lượng đoạn thị trường lựa chọn vàđoạn nào hấp dẫn nhất, theo các quyết định:

- Tập trung vào một đoạn thị trường

- Chuyên môn hóa tuyển chọn.

- Chuyên môn hóa theo sản phẩm.

- Chuyên môn hóa theo thị trường.

- Bao phủ toàn bộ thị trường.

 Định vị trong thị trường mục tiêu

Định vị sản phẩm là một trong những mục đích của kế hoạch Marketing màcông ty đưa ra nhằm xác lập từng sản phẩm cho mỗi đoạn thị trường cụ thể và định

vị hình ảnh của sản phẩm trong tâm trí khách hàng Mục tiêu của định vị là nhấn

Trang 4

hàng thông qua những chương trình xúc tiến thương hiệu hay qua những slogan cótính chất độc đáo ấn tượng mạnh với khách hàng.

1.2 Quyết định quản trị về sản phẩm

Sản phẩm là tất cả những gì được chào bán trên thị trường để được chú ý,mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Theo hướng tiếp cận mới, cấu trúc của sản phẩm được phân ra 5 cấp độ:

- Lớp kỳ vọng

Quyết định về sản phẩm là nền tảng của chính sách marketing hỗn hợp, đượcxác định dựa trên kế hoạch kinh doanh quy mô lớn hơn dành cho sản phẩm mới vàchiến lược marketing tổng thể cho mọi sản phẩm đang có của doanh nghiệp Khixem xét chính sách sản phẩm, doanh nghiệp cần quan tâm đến những vấn đề:

1.2.1 Quyết định về chủng loại sản phẩm (Tuyến sản phẩm)

Chủng loại sản phẩm là một nhóm những sản phẩm có liên hệ mật thiết vớinhau, hoặc vì chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng mộtnhóm khách hàng, được đưa vào thị trường theo cùng những kênh phân phối nhưnhau, hay được xếp chung một mức giá bán nào đó

Một doanh nghiệp có thể gia tăng hệ thống chiều dài của loại sản phẩm theonhiều cách:

Trang 5

- Quyết định mở rộng loại sản phẩm: doanh nghiệp kéo dài mặt hàng hơn

mức hiện tại Có thể dãn lên, dãn xuống hoặc theo cả hai chiều

- Quyết định bổ sung loại sản phẩm: kéo dài bằng cách thêm vào những

mặt hàng mới trong phạm vi hiện tại của loại đó nhằm tăng thêm lợinhuận, tận dụng năng lực sản xuất, cố gắng lấp chỗ trống thị trường đểngăn ngừa cạnh tranh

- Quyết định hiện đại hóa sản phẩm: Có hai phương thức để hiện đại hóa

sản phẩm: thay đổi chủng loại theo từng phần hoặc thay đổi ngay lập tức

- Quyết định khuếch trương hoặc loại bỏ sản phẩm: đánh giá hiệu quả kinh

tế của sản phẩm khi tung ra thị trường để đưa ra các quyết định tiếp tụckinh doanh, phát triển sản phẩm hay loại bỏ sản phẩm khỏi danh mụchàng của doanh nghiệp

1.2.2 Quyết định về nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng,hoặc một sự kết hợp những cái đó nhằm xác định những hàng hóa hay dịch vụ củamột người hay nhóm người bán và phân biệt chúng với sản phẩm của các đối thủcạnh tranh

Các quyết định quản trị nhãn hiệu bao gồm:

 Quyết đinh chọn tên nhãn hiệu

Có bốn chiến lược về tên nhãn hiệu có thể xem xét để lựa chọn :

- Tên nhãn hiệu cá biệt

- Tên họ chung cho tất cả các sản phẩm

Trang 6

- Tên họ riêng cho tất cả các sản phẩm.

- Tên nhãn hiệu thương mại của doanh nghiệp đi kèm với tên cá biệt của sản phẩm

Mỗi một chiến lược về tên nhãn hiệu đều có những lợi ích và bất lợi khácnhau đối với nhà sản xuất, vì vậy cần căn cứ vào đặc điểm của doanh nghiệp, thịtrường mục tiêu và đặc điểm cạnh tranh để có quyết định đúng

 Quyết định chiến lược nhãn hiệu

Chiến lược nhãn hiệu đòi hỏi phải đưa ra các quyết định phù hợp về mở rộngloại sản phẩm, mở rộng nhãn hiệu, sử dụng nhiều nhãn hiệu và nhãn hiệu mới

Bốn chiến lược nhãn hiệu

 Quyết đinh tái định vị nhãn hiệu

Trang 7

Cùng với những thay đổi trong nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng vàhành vi ứng xử của doanh nghiệp cũng như các đối thủ cạnh tranh, một nhãn hiệusản phẩm dù đã được định vị tốt như thế nào trong thị trường thì sau đó nhà sảnxuất cũng cần phải tái định vị cho nó Những người làm marketing phải nghĩ tớiviệc tái định vị những nhãn hiệu hiện có trước khi đưa ra những nhãn hiệu mới.Trong cách này, họ có thể khai thác sự thừa nhận đối với với nhãn hiệu hiện có vàmức trung thành của khách hàng đã tạo được bằng những nổ lực marketing trướcđây.

Việc tái định vị nhãn hiệu có thể đòi hỏi sự thay đổi cả sản phẩm lẫn hìnhảnh của nó, hoặc có thể chỉ bằng cách thay đổi hình ảnh của nó mà thôi

1.2.3 Quyết định về bao bì sản phẩm

Nhiều người làm marketing đã gọi bao bì là chữ P thứ năm - Package, đứngcùng với Price (giá cả), Product (sản phẩm), Place (phân phối), Promotion (quảngcáo) Tuy nhiên, hầu hết những người làm marketing đều coi bao bì là một yếu tốcủa chiến lược sản phẩm

Việc tạo bao bì (packaging) là những hoạt động nhằm vẽ kiểu và sản xuấthộp đựng hay giấy gói cho một sản phẩm Hộp đựng hay giấy gói này được gọi làbao bì Bao bì có thể gồm hai hoặc ba lớp chất liệu Bao bì lớp đầu là cái trực tiếpchứa sản phẩm Bao bì lớp thứ hai là vật liệu bảo vệ bao bì lớp đầu và sẽ bị bỏ đikhi ta sắp dùng sản phẩm đó Bao bì vận chuyển là lớp thứ ba, cần thiết cho việclưu kho, nhận dạng và vận chuyển sản phẩm Phía ngoài bao bì có in nhãn hiệu vànhững chi tiết nằm trên hoặc cùng với bao bì để mô tả sản phẩm

Triển khai một bao bì hữu hiệu cho một sản phẩm đòi hỏi nhiều quyết định

Trang 8

- Công việc thứ nhất là xây dựng khái niệm về bao bì Khái niệm về bao bì

là việc định nghĩa bao bì đó phải là gì hay làm được gì cho sản phẩm

- Phải quyết định về những yếu tố đặc biệt của bao bì như kích cỡ, hình

dạng, chất liệu, màu sắc, kiểu chữ và dấu hiệu Những yếu tố này phải hàihòa để làm nổi bật giá trị bổ sung của sản phẩm cho khách hàng nhậnthấy và hổ trợ cho việc định vị sản phẩm và chiến lược marketing Bao bìphải phù hợp với việc quảng cáo, định giá, phân phối và các chiến lượcmarketing khác

- Đánh giá hiệu quả về mặt thu hút sự ưa thích của khách hàng và đạt

được những tiến bộ kỹ thuật không.Trước đây, một mẫu bao bì có thểđứng vững khoảng mười lăm năm rồi mới cần cải tiến, hiện nay đa sốcác doanh nghiệp phải xét lại bao bì của mình sau hai hoặc ba năm

- Triển khai bao bì hữu hiệu cho một sản phẩm mới, hay hoàn thiện một

mẫu bao bì mới hoặc đổi sang một mẫu bao bì mới có thể tốn kém chiphí và phải mất rất nhiều thời gian Những người làm marketing phảicân nhắc chi phí bao bì này so với những cảm nhận của khách hàng vềcác giá trị tăng thêm do bao bì đem lại và so với vai trò của bao bìtrong việc hổ trợ để đạt những mục tiêu marketing Khi đưa ra nhữngquyết định về bao bì, doanh nghiệp cũng phải chú ý đến mức quan tâmngày càng tăng của xã hội về bao bì, và có những quyết định đáp ứngđược những quan tâm của xã hội cũng như của các khách hàng và cácmục tiêu của doanh nghiệp

1.3 Các quyết định khác trong Marketing - Mix

1.3.1 Quyết định về giá

Trang 9

Là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ của nhàcung cấp Nó được xác định bởi một số yếu tố trong đó có thị phần, cạnh tranh,chi phí nguyên liệu, nhận dạng sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàngvới sản phẩm.

Các nội dung chính trong chính sách giá của công ty bao gồm:

- Ấn định giá : Cách ấn định giá cho sản phẩm của Doanh nghiệp là như

thế nào?

- Mục tiêu giá của Doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp mong muốn điều gì

từ mức giá mình đưa ra : Để tồn tại? Để tối đa hóa lợi nhuận? Để tăng thịphần? Để thu hồi vốn nhanh? Để dẫn đầu thị trường?

- Chiến lược mà Doanh nghiệp để xác định giá của sản phẩm là gì: Chiến

lược hớt váng nhanh, Chiến lược hớt váng chậm, Chiến lược thâm nhậpthị trường nhanh, Chiến lược thâm nhập thị trường chậm

1.3.2 Quyết định về kênh phân phối

Quản trị kênh phân phối trong Marketing sản phẩm mới là thiết kế và quản

lý mạng lưới bán hàng trong giai đoạn đầu doanh nghiệp tung sản phẩm ra thịtrường Mạng lưới bán hàng đó là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thểkhác nhau có sức mạnh và uy tín khác nhau để đưa hàng hoá từ doanh nghiệp sảnxuất đến các khách hàng một cách thành công

Việc thiết kế và quản lý các kênh bán hàng hoá mới của doanh nghiệp phảibảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:

- Phù hợp với tính chất của sản phẩm

Trang 10

- Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng trong việc tiếp cận và tìm

mua sản phẩm một cách dễ dàng

- Xem xét kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh

- Các kênh phân phối cần đảm bảo tăng doanh số bán của công ty và thiết

lập mối quan hệ bền vững với các trung gian

1.3.3 Quyết định về xúc tiến

Xúc tiến là chức năng cung cấp thông tin về thương hiệu cho khách hàngmục tiêu và đóng vai trò quan trọng trong việc đưa thương hiệu đến tay kháchhàng, thuyết phục, nhắc nhở và khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, cũng nhưhiểu rõ về Doanh nghiệp

Có rất nhiều hình thức xúc tiến thương mại cho sản phẩm như:

- Quảng cáo - Marketing trực tiếp

- Chào hàng cá nhân

Trang 11

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CONVERSE 2.1 Giới thiệu về doanh nghiệp

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Converse, là một trong những nhãn hiệu thể thao cao cấp, cũng là nhãnhiệu đầu tiên và thàng công sớm nhất trong giới mốt thể thao trên toàn thế giới.Cho đến nay, Converse đã có lịch sử phát triển hơn 100 năm, nhưng vẫn là mộttrong những thương hiệu nổi tiếng trong ngành giày da Năm 2003, khiConverse đứng trên bờ vực phá sản thì được Nike mua lại với giá 350 triệuUSD

 Chủ sở hữu: Nike Incorporate (Nike, Inc)

 Một số hoạt động kinh doanh chiến lược của Converse:

 Tuyến sản phẩm giày: All Star Chuck Taylor, Jack Purcell, Life Style,One Star, Sandal, Kids

Trang 12

 Tuyến sản phẩm may mặc (apparel): Men – Top, Men – Bottom,Women – Top, Women – Bottom, Bag, Cap, Belt, Socks.

2.1.2 Giá trị cốt lõi của doanh nghiệp

Converse luôn tạo ra những trào lưu thời trang mới, phù hợp với thị hiếu củakhách hàng, đặc biệt là giới trẻ

Luôn đem đến cho khách hàng dịch vụ chăm sóc tốt nhất tạo niềm tin từ phíakhách hàng

Luôn đem đến sự hài lòng cho khách hàng trong từng sản phẩm

2.1.3 Tầm nhìn chiến lược và sứ mạng

Tầm nhìn chiến lược: Converse hướng tới sự đơn giản, nhẹ nhàng, không cầu

kì- hầm hố, phù hợp với mọi trang phục, mọi tầng lớp xã hội Converse là loại giàydành cho tất cả mọi người

Sứ mạng kinh doanh: Converse là thương hiệu thân thiết nhất với các bạn trẻ,

biểu tượng của sự năng động trẻ trung, ngự trị trong tiềm thức của người tiêu dùngkhông chỉ là sự yêu thích mà chính là niềm tin mạnh mẽ về chất lượng trên toàncầu Chất lượng bền đẹp, kiểu dáng cá tính, năng động và là người dẫn đầu thờitrang

Mission: “Converse is originality for people who cut their own path.”

2.2 Sản phẩm của doanh nghiệp

2.2.1 Giày Converse

Trang 13

Đa phần các thiết kế giày của Converse đều dành cho cả nam và nữ Phongcách chủ đạo của sản phẩm là sự năng động, sáng tạo và cá tính của giởi trẻ hiệnđại Một số nhãn hiệu giày của Converse như là: : All Star Chuck Taylor, JackPurcell, Life Style, One Star Converse cũng đưa một số dòng sản phẩm dành chotrẻ em và đặt tên thương hiệu là Kids.

2.2.2 Áo và balo Converse

Áo Converse đầy đủ các loại từ áo phông, áo sơ mi, áo thun dài tay, áo thuđông có cổ, đến áo khoác dày Các bạn trẻ ưa thích du lịch hoàn toàn có thể lựachọn cho mình chiếc balo Converse trẻ trung, tinh nghịch với đầy đủ màu sắc vàkiểu dáng gọn nhẹ Ngoài ra, hãng còn có một số sản phẩm phụ kiện đi kèm như

mũ hiphop, dép tông, túi sách…

2.3 Tập khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp

Sau hơn 100 năm tồn tại và phát triển, Converse đã có mặt ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới Sản phẩm giày Converse tập trung vào thị trường ở cácthành phố lớn, người tiêu dùng có mức thu nhập khá trở lên Các sản phẩm phùhợp với mọi lứa tuổi khác nhau

Ngoài ra hãng có những sản phẩm riêng và phù hợp với từng đối tượngngười tiêu dùng khác nhau (giày cho teen, tween, giày dành cho các bạn trẻ yêuthích Rock…)

Tại thị trường Việt Nam, Converse tập trung chủ yếu vào giới trẻ sống tạicác khu vực thành thị, những người có thu nhập khá cao Là những bạn trẻ năngđộng, cá tính có thiên hướng thể thao

Trang 14

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG 3.1 Quyết định quản trị sản phẩm của doanh nghiệp

3.1.1 Quyết định về danh mục sản phẩm/ tuyến sản phẩm

Trong mỗi loại sản phẩm thường có một số mặt hàng Doanh nghiệp cóthể tăng lợi nhuận bằng cách bổ sung thêm một số mặt hàng nữa vào trong loạisản phẩm nếu nó quá ngắn, hoặc bỏ bớt đi một số mặt hàng ra khỏi loại sảnphẩm nếu cảm thấy nó quá dài Tuy nhiên việc xác định độ dài tối ưu của mộtloại sản phẩm lại tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố Ở đây cụ thể Coverse đã giatăng một cách hệ thống chiều dài của loại sản phẩm hai cách: dãn rộng hoặc bổsung loại sản phẩm

 Quyết định dãn rộng loại sản phẩm

Năm 1917, Converse cho xuất xưởng loại giày thể thao bằng vải gai, đếcao su, buộc dây và mũi giày được bọc cao su, đặt tên là “All Star” Dòng sảnphẩm này nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường giày thể thao dành cho các vậnđộng viên với nhưng cải tiến của mình công ty tiếp tục hướng tới sản xuất giàycho giới trẻ, các tầng lớp và đối tượng trong xã hội Các năm sau đó, Converseliên tục cho ra mắt nhiều loại sản phẩm khác nữa như Converse Chuck Taylor

Trang 15

(do một tuyển thủ bóng rổ thiết kế) năm 1923, Jack Purcell, One Star, ConversePro-Star Leather.

Converse đã mở rộng loại sản phẩm bằng cách bổ sung thêm vào trongloại sản phẩm những mặt hàng mới dưới cùng một tên nhãn hiệu, như mặt hàngmàu sắc mới phù hợp hơn với xu hướng thời trang Như mới đấy, Chuck TaylorAll Star Seasonal Hi đã tung ra 2 loại màu mới là vàng neon và cam neon Đa sốhoạt động phát triển sản phẩm mới của Converse là mở rộng loại sản phẩm

 Quyết định bổ sung loại sản phẩm

Một loại sản phẩm cũng có thể kéo dài bằng cách thêm vào những mặt hàngmới trong phạm vi hiện tại của loại đó Ở đây Converse đã bổ sung thêm nhiềukiểu dáng , màu sắc cho loại mặt hàng đó:

- Năm 1966: Từ màu trắng ngà và màu đen cổ điển, đôi giày All-Star bắt đầukhoác thêm cho mình nhiều màu sắc khác nhau Thương hiệu Converse lúc bấy giờ

đã nhanh chóng vươn tới tất cả mọi ngóc ngách, từ trong nước đến ngoài nước, hay

cả thị trường thế giới

- Vào những năm 70: Giày vải Converse đã xâm lấn sang thế giới âm nhạcvới nhiều màu sắc hoa văn khác nhau, nó được các tay chơi rock rất hâm mộ

 Quyết định hiện đại hóa sản phẩm

Việc cải tiến của Converse không thể không gắn liền với ngôi sao bóng rổcủa nước Mỹ khi buộc dây và mũi giày được bọc cao su, đặt tên là “All Star”.Chính chiếc đế cao su này đã đưa lại cho môn bóng rổ những tiếng động cọ sát đặc

Trang 16

thù trên sàn thi đấu Chuck Taylor đi loại giày này, nhưng không hài lòng và phànnàn “đi bình thường thì không sao, nhưng khi chạy trong thi đấu thì rất đau chân”

Converse bèn lập tức mời Chuck Taylor làm đối tác và tiếp thu gợi ý cải tiếncủa Taylor: lót bên trong và nâng cao cổ giày để ấp chặt lấy khu vực mắt cá chân.Hình ảnh ngôi sao trên lô gô thương hiệu có nguồn gốc từ ngôi sao thể thao này và

từ năm 1923 trở đi còn có cả chữ ký của Chuck Taylor trên chiếc giày Chiếc giàycòn được đặt cho biệt danh đơn giản là Chuck

Năm 1974: Dòng One Star lần đầu tiên xuất hiện mang ưu điểm chống trơntrượt Vẫn là đế bằng cao su với ngôi sao mạnh mẽ

Bao nhiêu năm đã qua từ thủa ấy đến nay, giày của Converse từ hai màu chủđạo đen và trắng ban đầu đã dần có thêm màu sắc mới, nhưng về cơ bản khôngthay đổi gì về thiết kế hình dáng và chi tiết Đặc biệt, giày Converse khi bẩn còn…đẹp hơn khi sạch và càng được sử dụng nhiều càng “lên mã” Đó là chưa kể nó bềnđến mức tưởng như không bao giờ bị hỏng

 Quyết định khuếch trương và loại bỏ sản phẩm

Converse rất thành công trong việc tận dụng những người nổi tiếng quảngcáo cho mình Chuck Taylor là sự khởi đầu Năm 1936, Converse đã trang bị và tàitrợ cho đội tuyển bóng rổ của Mỹ thi đấu Thế vận hội và đội Mỹ giành Huychương vàng Mike Jagger của ban nhạc The Rolling Stones đi giày Converse khicưới vợ

Thủ lĩnh ban nhạc Nirvana Kurt Cobain còn đi giày Converse lúc qua đời.Nhờ Chuck Taylor, Converse thống trị gần như hoàn toàn thị trường giày chơi

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w