Trong lý thuyết này, yêu cầu đặtra đối với mỗi quốc gia là họ phải xác định được sản phẩm có lợi thế so sánh để: - Chuyên môn hóa sản xuất các loại sản phẩm có lợi thế so sánh để xuất k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
Môn : Thương mại Quốc tế
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài: Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh vào xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội – 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1 Định nghĩa về lợi thế so sánh 5
1.3 Xác định lợi thế so sánh, mô hình thương mại quốc tế 6
1.4 Ưu, nhược điểm của lý thuyết 6
1.4.1 Ưu điểm 6
1.4.2 Nhược điểm 6
2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀO MẶT HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM 7
2.1 Chứng minh lợi thế so sánh của mặt hàng xuất khẩu may mặc 7
2.2 Lợi thế về xuất khẩu hàng may mặc ở Việt Nam 9
2.3 Các chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam 10 3 THÀNH TỰU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHO NGÀNH XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM 11
3.1 Thành tựu 11
3.2 Cơ hội 13
3.3 Thách thức 13
3.4 Giải pháp và kiến nghị 16
3.4.1 Về phía doanh nghiệp ngành Dệt may 16
3.4.2 Về thể chế quản trị Quốc gia 17
3.4.3 Về xã hội 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 5MỞ ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước đãchuyển nền kinh tế nước ta từ tập trung, ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất (công nghiệpnặng) sang thực hiện đồng thời cả ba chương trình kinh tế: Lương thực, xuất khẩu, hàngtiêu dùng và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Vì vậy mà ngành dệt may đã có điềukiện phát triển nhanh chóng Đến nay, ngành công nghiệp này là một trong những ngànhcông nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nước ta Kết quả xuất khẩu của ngành dệt may cóảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Lý thuyết thương mại quốc tế là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từthấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thươngmại được coi là phát triển nhất và có tính hệ thống lôgic với nhau Lý thuyết sau bao giờcũng có sự kế thừa và phát triển của lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao,ngày càng sát với thực tiễn Trải qua nhiều thế kỷ, thực tiễn thường xuyên biến đổi, xã hộingày càng hiện đại văn minh; nhưng các tư tưởng của Chủ nghĩa Trọng thương, lý thuyếtlợi thế tuyệt đối của Adam Smith, đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardovẫn còn sống mãi, vẫn được những con người của xã hội hiện đại tiếp tục nghiên cứu vàvận dụng vào đời sống thực tiễn của mỗi quốc gia Trong bối cảnh Việt Nam đang hộinhập quốc tế như hiện nay, ngành dệt may sẽ có những cơ hội và cũng gặp phải nhữngthách thức nhất định Vậy Việt Nam đã vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh như thếnào? Bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ việc vận dụng lý thuyết Lợi thế so sánhđối với xuất khẩu mặt hàng may mặc ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp kiến nghị đốinhằm nâng cao hiệu quả vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu hàng maymặc hiện nay
Trang 61.2 Giới thiệu lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Mô hình lý thuyết lợi thế so sánh được xây dựng trên cơ sở 6 giả thiết sau:
Mô hình chỉ có 2 quốc gia và 2 loại sản phẩm Trên thực tế có rất nhiều hànghóa được trao đổi nhưng để đơn giản trong phân tích, mô hình chỉ có 2 sảnphẩm và 2 quốc gia
Mậu dịch tự do – thị trường cạnh tranh hoàn toàn Cũng như mô hình trước, cácdoanh nghiệp tự do hoạt động không có bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ
Lao động di chuyển tự do trong một quốc gia, nhưng không di chuyển trênphạm vi thế giới Để bảo đảm năng suất cố định cho mỗi quốc gia, nếu khônglao động sẽ chuyển dịch từ nơi có lương thấp sang nơi có lương cao thì mô hìnhrất khó phân tích
Không tính chi phí vận chuyển hàng hóa
Kỹ thuật sản xuất giữa 2 quốc gia giống nhau Giả thiết là chất lượng sản phẩmcủa 2 quốc gia như nhau
Yếu tố đầu vào của 2 loại sản phẩm cũng giống nhau – theo lý thuyết tính giátrị bằng lao động Chi phí sản xuất chỉ tính có một yếu tố duy nhất là lao động.Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì một quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối trong cả 2loại sản phẩm so với quốc gia kia nhưng vẫn có lợi khi tham gia trao đổi mậu dịch nếuchuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có lợi thế tuyệt đối so với sản phẩm còn lại ở trong
Trang 7nước tức là sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh Trong lý thuyết này, yêu cầu đặt
ra đối với mỗi quốc gia là họ phải xác định được sản phẩm có lợi thế so sánh để:
- Chuyên môn hóa sản xuất các loại sản phẩm có lợi thế so sánh để xuất khẩu
- Đồng thời, nhập khẩu trở lại những sản phẩm không có lợi thế so sánh
1.3 Xác định lợi thế so sánh, mô hình thương mại quốc tế
Nếu trong một thời gian nhất định, quốc gia I (QGI) sản xuất được a1 sản phẩm A vàb1 sản phẩm B, quốc gia II (QGII) sản xuất được a2 sản phẩm A và b2 sản phẩm B thì
QGI sẽ xuất khẩu A và nhập khẩu B nếu
a b và QGII sẽ xuất khẩu B,
nhập khẩu A Ngược lại, nếu
1.4 Ưu, nhược điểm của lý thuyết
1.4.1 Ưu điểm
-Mang tính khái quát cao
-Chỉ ra được quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốcgia đó có lợi thế so sánh
-Chỉ ra lợi ích quá trình phân công lao động quốc tế
1.4.2 Nhược điểm
- Không giải thích được vì sao năng suất lao động hơn kém nhau giữa các quốc gia dotrong chi phí sản xuất mới chỉ tính đến có một yếu tố duy nhất là lao động Còn các yếu tốkhác như vốn, kỹ thuật, đất đai và cả trình độ của người lao động thì không được đề cậpđến Do đó không thể tìm ra nguyên nhân tại sao năng suất lao động của nước này lại caohoặc thấp hơn so với năng suất lao động của nước kia
Trang 8- Các tính toán chỉ dựa trên cơ sở hàng đổi hàng.
- Không xác định được giá cả tương đối của sản phẩm đem trao đổi giữa các quốc gia
2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀO MẶT HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM
2.1 Chứng minh lợi thế so sánh của mặt hàng xuất khẩu may mặc
Ta có bảng số liệu về kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn2007-2013 như sau:
Nă
Tốc độ tăng trưởng (%)
Trang 9Hình 2.1 Sơ đồ tình hình xuất khẩu ngành dệ may Việt Nam giai đoạn 2007-2009
Từ sơ đồ ta có thể thấy tình hình xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam tăng trưởngkhá tốt và ổn định (trừ năm 2009 do sức mua của thị trường giảm mạnh, hệ quả từ cuộckhủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, thế nhưng xuất khẩu của ngành dệt may năm
2009 vẫn tương đối khả quan, là ngành duy nhất giữ vững được kim ngạch xuất khẩu gầnnhư năm 2008) Hàng dệt may Việt Nam đã được xuất khẩu đi hơn 180 nước và vùnglãnh thổ trên thế giới như thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU, các nước Đông Âu, các nướcTrung Đông Sự đón nhận của các thị trường này chứng tỏ hàng dệt may của Việt Nambước đầu đã có sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm trên thị trường quốc tế Tỷ
lệ đóng góp của ngành dệt may Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nướcluôn ở mức trên 12%
Tuy nhiên, để có thể trông thấy một cách chính xác lợi thế so sánh của mặt hàngxuất khẩu may mặc, ta cần dùng một phương pháp để có để kiểm chứng, đó là sử dụng
hệ số lợi thế so sánh trông thấy (Revealed Comparative Advantage – RCA)
Ta có bảng số liệu sau:
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu vủa Việt Nam và Thế giới năm 2015
Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam (tỷ Thế giới (tỷ USD)
Trang 102.2 Lợi thế về xuất khẩu hàng may mặc ở Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam
- Ngày 5/10/2015, Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được
kí kết, tạo nên những thuận lợi rất lớn về nền sản xuất hàng may mặc tại Việt Namhiện nay Các nước tham gia TPP đều là những đối tác xuất khẩu quan trọng củaViệt Nam, đặc biệt là Mỹ và Nhật với 31% các mặt hàng quần áo, da giày đượcxuất sang khu vực này
- Ngoài ra, lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam còn nằm trong mảngquần áo giá rẻ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và đang trởthành địa điểm thu hút mới cho ngành may mặc giá rẻ như một lựa chọn thay thếTrung Quốc
- Cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là sự phát triển của côngnghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn và sự ưu đãi
từ các chính sách nhà nước, ngành dệt may đã thu được nhiều kết quả đáng khích
lệ, vừa tạo ra giá trị hàng hóa, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu
Bên cạnh đó, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ Ước tính, Việt Namhiện có khoảng 2,5 triệu công nhân đang làm việc tại 6.000 nhà máy trên toàn quốc Số
Trang 11lượng nhân công trong ngành dệt may Việt Nam chạm đỉnh vào năm 2015, trong khi ởquốc gia dệt may giá rẻ Bangladesh phải đến năm 2030 mới chạm đỉnh, theo Ngân hàngThế giới (WB).
2.3 Các chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ xuất khẩu hàng may mặc của
Việt Nam
Tháng 2/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Dệt MayViệt Nam (VINATEX) giai đoạn 2013 - 2015 Mục tiêu nhằm bảo đảm VINATEX tậptrung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính Trên cơ sở đó hình thành chuỗi cung ứngsợi - dệt - nhuộm - may; nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may, hiệu quả sảnxuất kinh doanh và sức cạnh tranh của VINATEX, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Công ty mẹ - Tập đoàn Dệt May ViệtNam khẩn trương thực hiện cổ phần hóa trong năm 2014 Theo đó, sau khi tái cơ cấu sẽ
có 4 doanh nghiệp do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; 6 doanh nghiệp
do Công ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ từ trên 50 - 65% vốn điều lệ và 20 doanh nghiệp doCông ty mẹ - Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ Trong giai đoạn 2013 – 2015 phảithoái 100% vốn của Công ty mẹ - Tập đoàn tại 37 doanh nghiệp như: Công ty Đầu tư vàPhát triển Bình Thắng; Công ty Tài chính cổ phần Dệt May Việt Nam; Trường đại họcTrưng Vương và một số ngân hàng thương mại cổ phần, Đồng thời, Bộ Công Thươngphải có lộ trình và phương án cụ thể để hết năm 2015 hoàn thành việc thoái vốn
Tháng 02/2014, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 288/QĐ-TTg về việc hỗtrợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực dệt may Việt Nam cho Tập đoàn Dệt may Việt Nam.Theo đó, sẽ hỗ trợ 65,6 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương năm 2014 để hỗ trợ đàotạo nguồn nhân lực Dệt may Việt Nam
Hiện Chính phủ đã có chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành sản xuất sợi,nhuộm, ngành thuộc da… nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm dệt may, da giàyxuất khẩu để tận dụng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam
đã ký kết hoặc chuẩn bị ký kết như Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản(VJEPA), Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định
Trang 12thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
và Liên minh kinh tế Á - Âu… Xem xét miễn giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
DN cho DN sản xuất nguyên phụ liệu trên nhằm giảm giá thành trên sản phẩm, tăng khảnăng cạnh tranh với nguyên phụ liệu của Trung Quốc
Riêng tại TPHCM, để đảm bảo nâng cao khả năng cung ứng nguyên phụ liệu (nhất
là ngành vải nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày) phục vụ cho hoạt động sảnxuất hàng xuất khẩu cũng như tiêu thụ tại thị trường nội địa, UBND TP đã chấp thuận chủtrương cho phép DN đầu tư vào các khu công nghiệp hiện hữu để sản xuất nguyên phụliệu trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn môi trường về nước thải Song song đó, Chính phủ đãchỉ đạo các ban ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ đa dạng hóa thị trường nhập khẩu cácmặt hàng nguyên phụ liệu Tại thị trường nội địa thực hiện đẩy mạnh kết nối cung cầutrực tiếp giữa nhà sản xuất nguyên phụ liệu nước ngoài với DN sản xuất hàng xuất khẩu
Sự tồn vong của DN dệt may trên thị trường nội địa cũng như thị trường thế giớiphụ thuộc rất lớn vào sự chủ động cải cách hoạt động sản xuất và tận dụng chính sách hỗtrợ từ phía nhà nước Đặc biệt là trong bối cảnh số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào ngành dệt may Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng nhằm đón đầu các hiệp địnhthương mại tự do như TPP, FTA Việt Nam - EU, FTA Việt Nam - Hàn Quốc…
3 THÀNH TỰU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHO NGÀNH XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM
Ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam Với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động cótay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn và sự ưu đãi từ các chính sách nhà nước, ngành dệtmay đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, vừa tạo ra giá trị hàng hòa, vừa đảm bảonhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
3.1 Thành tựu
Theo báo cáo thường niên hiệp hội dệt may Việt Nam, Việt Nam là một trong 10nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với thị phần năm 2014 đạt 3.1% Những thị
Trang 13trường xuất khẩu chính của Việt Nam bao gồm Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc (chiếmđến 85% tổng kim ngạch xuất khẩu) với sản phẩm chủ yếu quần áo cho phân cấp thấp vàtrung bình Các doanh nghiệp FDI tuy chỉ chiếm 25% về số lượng nhưng đóng góp đếnhơn 65% vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Theo nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Xúc tiến xuất khẩu từ các nước đang pháttriển sang EU (CBI) thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệtmay trong giai đoạn 2005 - 2011 của Việt Nam đạt mức cao nhất thế giới với 32%, trongkhi đó Trung Quốc đạt 15%, Ấn Độ 10%, các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, Thái Lan đạtmức 7%
Bên cạnh đó, xuất khẩu các mặt hàng may mặc của Việt Nam tăng trưởng mạnh tạicác thị trường mới, không phải thị trường truyền thống của Việt Nam Cụ thể, kim ngạchxuất khẩu hàng dệt may sang thị trường ASEAN tăng 44,4% so với cùng kỳ năm trước.Campuchia là nước đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam trongkhối ASEAN, với kim ngạch tăng 103% so với cùng kỳ năm 2012 Ngoài ra, xuất khẩudệt may của Việt Nam tại một số thị trường khác cũng có mức tăng trưởng mạnh nhưsang Na Uy tăng 134,6%, sang New Zealand tăng 120%, sang Australia tăng 37% Nhưvậy, không ỷ lại vào các thị trường lớn sẵn có, dệt may Việt Nam tiếp tục mở rộng đối tácsang các thị trường mới và tiềm năng Tính đến nay sản phẩm dệt may Việt Nam đã cómặt ở tại trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ
Trong khi nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU,Nhật Bản đều giảm thì kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào những thịtrường này vẫn tăng trưởng ổn định Cụ thể, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ năm
2012 giảm 0,5% nhưng nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9,2%, tại thị trường Hàn Quốcgiảm 7% nhưng nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9%, thị trường Nhật Bản còn tăng mạnhtới 17% Điều này cho thấy dệt may Việt Nam ngày càng uy tín và có tính cạnh tranhcao trên thị trường thế giới, nhờ đó, trong năm 2012 chúng ta đã phát triển thêm 1 thịtrường có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là Hàn Quốc.Ngày càng nhiều các mặt hàngnước giải khát xuất hiện trên thị trường đòi hỏi các nhà sản xuất phải nâng cao chất lượngsản phẩm của mình, nếu không sẽ dễ dàng bị thay thế bởi các sản phẩm khác có chất
Trang 14lượng tốt hơn Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa các loại sản phẩm cũng như mẫu mã và kiểudáng giúp cho khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn phù hợp với sở thích của mỗi người.
3.2 Cơ hội
Năm 2015 là một năm có nhiều sự kiện nổi bật trong hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam với việc ký kết các FTA với EU, với liên minh kinh tế Á Âu, với Hàn quốc,cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hoạt động và đặc biệt là việc ký kết hiệpđịnh xuyên Thái bình dương (TPP) Do đó, ngành dệt may có thể tận dụng một số cơ hội
để phát triển xuất khẩu Sản xuất hàng dệt may đang có xu hướng chuyển dịch sang cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam, qua đó tạo thêm cơ hội và nguồn lực mới chocác doanh nghiệp dệt may về cả tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh nghiệmquản lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ các nước phát triển
Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khuvực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may.Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia ký kết và thực thinhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định đốitác thương mại Việt - Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ củaASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN-Úc-Niu Dilân, v.v)
Những cam kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sứchấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tácmới Hơn nữa, bản thân thị trường nội địa có dân số 92 triệu người với mức sống ngàycàng được nâng cao thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và các doanh nhân
3.3 Thách thức
Thứ nhất, Xuất phát điểm của dệt may Việt Nam còn thấp, xuất khẩu phần lớn
theo phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu, mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàngtheo phương thức FOB thấp, hiệu quả sản xuất thấp Trong khi đó, ngành dệt và côngnghiệp phụ trợ còn yếu, phát triển chưa tương xứng với ngành may, không đủ nguồnnguyên phụ liệu đạt chất lượng xuất khẩu để cung cấp cho ngành may, do đó giá trị gia