1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở việt nam

25 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 71,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, nhóm đã nghiên cứu về vấn đề "Vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam" là một vấn đề lớn cần có thời gia

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

Chương I 3

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 3

1 Lý luận chung về lực lượng sản xuất 3

1.1 Lực lượng sản xuất là gi? 3

1.2 Vai trò của lực lượng sản xuất 4

2 Khoa học và công nghệ trong nền kinh tế toàn cầu 4

2.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ 4

2.2 Vai trò của khoa học và công nghệ trong quá trình phát triền kinh tế xã hội 5

Chương II 6

CÁC VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM 6

1 Vai trò của Khoa học công nghệ tới sự phát triển và biến đổi của lao động ở Việt Nam 6

1.1 Sự phát triển và biến đổi của lao động Việt Nam trong thời gian qua6 1.2 Vai trò của Khoa học công nghệ tới sự phát triển và biến đổi của lao động ở Việt Nam 7

2 Sự tác động của khoa học công nghệ đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam 10

3 Quan điểm và sự dự đoán của Mác về quá trình CNH-HĐH 13

Chương III 14

1 Thành tựu 14

1.1 Về phát triển kinh tế 14

1.2 Về phát triển các mặt xã hội 18

2 Nhiệm vụ trung tâm hiện nay là tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 20

KẾT LUẬN 25

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Khoa học và công nghệ đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lựclượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu Điều này được phản ánh rõ trongviệc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, công nghệ vàkinh tế của nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển

cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹthuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợpvới hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia

Đối vớiViệt Nam hiện nay, khoa học và công nghệ không chỉ là quá trìnhmang tính tất yếu mà đó còn là một đòi hỏi bức thiết Đứng trước thực trạng đấtnước từ một nền kinh tế nông nghiệp đang phấn đấu vươn lên đạt đến mục tiêu:"Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" lại vốn là một nướcnghèo bị chiến tranh tàn phá nhiều năm, tình trạng khủng khoảng kinh tế xã hộivẫn chưa chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, bội chi ngânsách lớn

Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và Nhà nước, ta đã có nhiều nghị quyết quantrọng về Khoa học – Công nghệ và khẳng định: "Cùng với giáo dục, đào tạo khoahọc và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, làđiều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, kỹthuật" Như vậy, vai trò động lực là lực lượng sản xuất hàng đầu của khoa học và

kỹ thuật đã được Đảng ta nhất quán khẳng định và là điều tất yếu không thể thayđổi được Song vấn đề đặt ra là làm sao để khoa học và công nghệ đảm nhận đượcvai trò đó trong điều kiện đất nước ta hiện nay để phát triển khoa học và kỹ thuậtphù hợp với vài trò là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệphoá- hiên đại hoá đất nước

Nghiên cứu về vấn đề khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệphoá - hiện đại hoá không chỉ là công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cánhân, mà còn là của toàn thể xã hội Và cho tới nay, chúng ta cũng đã thu đượcnhiều kết quả không nhỏ trong việc nghiên cứu, góp phần giúp cho đất nước hoànthành mục tiêu là một nước công nghiệp vào những năm 2020 Được sự giúp đỡ

tận tình của thầy cô, nhóm đã nghiên cứu về vấn đề "Vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam" là một vấn đề

lớn cần có thời gian và sự hiểu biết cũng như sự đầu tư nhiều Mặc dù nhóm rất cốgắng nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế vì vậy bài viết này chắc chắnkhông thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp chỉ dạy củacác thầy cô

Trang 3

Chương I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LƯỢNG LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ KHOA HỌC

CÔNG NGHỆ

1 Lý luận chung về lực lượng sản xuất

1.1 Lực lượng sản xuất là gi?

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiêntrong quá trình sản xuất, thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quátrình sản xuất của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với

kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động.Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trướchết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất Tronglực lượng sản xuất thì nhân tố con người đóng vai trò quyết định nhất Songngày nay trong công cuộc cách mạng đã mở ra bước nhảy vọt lớn của lực lượngsản xuất, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Theo quan niệm của Mác, lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với

kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động.Sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, kết hợp với nhau tạo thành lựclượng sản xuất Và quan hệ sản xuất là "quan hệ giữa người với người trong q uátrình sản xuất" Mỗi phương thức sản xuất đặc trưng cho một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định, nó là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhấtđịnh và quan hệ sản xuất tương ứng, đóng vai trò quyết định đối với tất cả cácmặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Và lịch sử xã hộiloài người chẳng qua là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sảnxuất Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố độngđóng vai trò quyết định Lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễn củacon người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển xã hội loài người, làm thay đổi mối quan hệ giữa người với người và từ đódẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội Trong tác phẩm "Sự khốn cùng củatriết học", Mác viết: "Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với nhữnglực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếmsống của mình, loài người thay đổi tất cả những mối quan hệ xã hội của mình".Khi lực lượng sản xuất trước hết là tư liệu sản xuất thay đổi và phát triển thìquan hệ sản xuất tất yếu cũng thay đổi và phát triển theo, khi đó bắt đầu thời đạicủa một cuộc cách mạng xã hội Như vậy, lực lượng sản xuất không chỉ là yếu

tố khách quan, năng động nhất của phương thức sản xuất mà còn là yếu tố cấuthành nền tảng vật chất của toàn thể nhân loại

Dựa trên những tư tưởng cụ thể của học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xãhội với vai trò then chốt của lực lượng sản xuất là cơ sở lý luận cho phép chúng takhẳng định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN lànhiệm vụ trung tâm xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạnphát triển CNTB, là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta

Trang 4

1.2 Vai trò của lực lượng sản xuất

Con người muốn tồn tại được thì cần phải có những yếu tố cơ bản như ăn, ở,uống…muốn vậy con người cần sản xuất vật chất Tuy vậy muốn sản xuất ra củacải vật chất thì yếu tố cơ bản và tiền đề quan trọng chính là lực lượng sản xuất Sảnxuất vật chất không ngừng phát triển Sự phát triển của sản xuất vật chất quyếtđịnh sư biến đổi, phát triển của mọi mặt đời sống, quyết định sự phát triển của xãhội từ thấp đến cao, do đó lực lượng sản xuất trở nên có ý nghĩa và thực sự quantrọng

Lực lượng sản xuất là một bộ phận cấu thành phương thức sản xuất, là nềntảng, là cơ sở, là tiền đề của sản xuất Vì nếu không có công cụ lao động thì conngười không thể sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của con người

Lực lượng sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của

xã hội Trong quá trình sản xuất con người đã sử dụng công cụ lao động tác độngvào tự nhiên, cải biến, các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vậtchất thỏa mãn nhu cầu và phát triển của con người

Lực lượng sản xuất là một bộ phận cấu thành của phượng thức sản xuất, màphương thức sản xuất là một bộ phận của hình thái kinh tế xã hội Sự thay thế hìnhthái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác tiến bộ hơn đánh dấu mộtbước phát triển mới của xã hội Như vậy sự phát triển của lực lượng sản xuất gópphần vào việc hình thành nên một chế độ xã hội mới Trong quá trình đấu tranhcho sự phát triển xã hội, Lênin đã nói: “Suy cho cùng phương thức sản xuất nàythắng phương thức sản xuất kia chính là ở chỗ tạo ra năng suất lao động xã hội caohơn”

Tóm lại lực lượng sản xuất đóng một vai trò quan trọng đối với sản xuất xãhội và quá trình phát triển của lịch sử loài người Do vậy vấn đề phát triển lựclượng sản xuất cần được coi trọng và đề cao trong mọi thời kỳ phát triển của xãhội

2 Khoa học và công nghệ trong nền kinh tế toàn cầu.

2.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ

Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học

là một khối liên kết kiến thức được gom góp từ những nỗ lực năng động của conngười để hiểu được thế giới dựa trên quan sát và thí nghiệm, là một hình thái ýthức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội;khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những kháiniệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệthống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy

đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học Ngoài ra, khoa học còn đượchiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giớivới chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực kháchquan, ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội

Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công

Trang 5

cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức,nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích,hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợpnhững công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quytrình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của conngười cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình.

2.2 Vai trò của khoa học và công nghệ trong quá trình phát triền kinh tế

xã hội

Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng

to lớn Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽthúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học phát triển và đạt được nhiềuthành tựu to lớn Khi mà con người đã trải qua những cuộc đại cách mạng côngnghiệp thì khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trongsản xuất, trong đời sống và trở thành "lực lượng sản xuất hàng đầu", là yếu tốkhông thể thiếu được để làm cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên nhữngbước phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại Có thể nói rằng: "Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượngsản xuất hiện đại”

Ở Việt Nam hiện nay thì khoa học và công nghệ giữ vai trò là động lực cho

sự phát triển của công cuộc đổi mới nền kinh tế Cụ thể thì vai trò động lực củakhoa học và công nghệ được thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nền sản xuất xã hội nói riêng và cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung Trên thực tế, nước ta đã tiến

hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX.Nhưng vẫn tiếp tục để cho lực lượng sản xuất trong tình trạng lạc hậu, các trangthiết bị máy móc phần lớn là thủ công, thủ công bán cơ giới Do vậy, mà cả năngsuất lao động và chất lượng các sản phẩm do nền sản xuất xã hội tạo ra vẫn còn rấtthấp so với mặt bằng chung của thế giới, và trong khu vực Chỉ có trên cơ sở thayđổi các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại mới có thể đẩy mạnh được sản xuất, nhất làtrong những ngành sản xuất mũi nhọn như bưu chính viễn thông, năng lượng, vậtliệu, chế biến

Thứ hai, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ – một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay Bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau,

chúng ta đang thực hiện quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả cácngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên, điều quan trọng và có tính chất quyết định bậcnhất ở đây là cần phải có những con người có tri thức và năng lực để có thể khaithác, sử dụng hiệu quả nhất các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại Từ chỗ có tri thức

về khoa học và công nghệ, con người và xã hội Việt Nam sẽ chuyển dần từ chỗchủ yếu là lao động chân cơ bắp, thủ công với những trang thiết bị kỹ thuật cũ kỹ,

Trang 6

thô sơ, lạc hậu sang lao động trí tuệ, lao động công nghiệp với máy móc, trang bịthiết bị kỹ thuật hiện đại.

Thứ ba, khoa học và công nghệ giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi trường và thị trường thông tin – một môi trường mới đầy sức mạnh và quyền lực

đối với sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nói riêng, đối với sự phát triển xã hội, nóichung Thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan hết sức chặtchẽ đến việc nắm bắt các bí mật, bí quyết công nghệ, được thể hiện qua cácphương pháp, các thiết bị, dữ liệu khoa học và công nghệ mới nhất Thông tin nhưmột người hướng dẫn nắm trong tay chiếc chìa khoá thần diệu, giúp chúng ta mởđược những “cánh cửa làm ăn” một cách đúng lúc, đúng cách, giúp ta tìm kiếmnhưng cơ hội những lĩnh vực làm ăn hiệu quả, và biết rút lui đúng lúc khi tiềmnăng lĩnh vực đó đã cạn Công nghệ thông tin có vai trò cực kỳ quan trọng trongquá trình xây dựng kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu về kinh tế của Việt Nam

Thứ tư, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện

cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá Trong

sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động xã hội nói chung nếu không có một cơ chế

tổ chức quản lý điều hành quản lý thì chắc chắn không thể mang lại kết quả tíchcực Điều đó cũng giống như một dàn nhạc lớn, chỉ có các nhạc công mà không cónhạc trưởng thì troóng đánh xuôi, kèn thổi ngược, không thể hoà tấu bất kỳ bảnnhạc nào

Chương II CÁC VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM

1 Vai trò của Khoa học công nghệ tới sự phát triển và biến đổi của lao động ở Việt Nam

1.1 Sự phát triển và biến đổi của lao động Việt Nam trong thời gian qua

Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là sức lao động, vừavới tư cách là con người có ý thức, chủ thể của những quan hệ kinh tế Trình độvăn hóa, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của người lao động đốivới sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng, khai thác kỹthuật và tư liệu sản xuất vốn có để sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh “Muốn nâng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lênmức độ cao… mà chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phù trợ thì không đủ Còncần phải phát triển một cách tương ứng năng lực của con người sử dụng nhữngphương tiện đó nữa”

Việt Nam là một nước có dân sô đông và trẻ do vậy nước ta có một nguồnlực về lao động dồi dào Đó là những người lao động có sức khỏe mang bản chấtcần cù chịu khó, thông minh và và sáng tạo, một lợi thế so sánh quan trọng củanước ta Việt Nam có quy mô dân số vào loại lớn hơn 90 triệu dân, là nước đông

Trang 7

dân thứ 14 trên thế giới, thứ 8 Châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á… Đó là tiềmnăng cực kỳ to lớn về nguồn lực con người để phát triển đất nước hay có thể nói lànguồn lao động dồi dào Dân số trong tuổi lao động có xu hướng tăng lên Có thểthấy rõ điều này qua 4 cuộc điều tra dân số năm 1979, 1989, 1999, 2009

Dân số trong tuổi lao động thời kỳ 1979 – 2009

(Đơn vị : 1.000 người)

Số tuyệt đối

Tỉ trọng (%)

Số tuyệt đối

Tỉ trọng (%)

Số tuyệt đối

Tỉ trọn g (%)

Số tuyệt đối

Tỉ trọn g (%) Tổng số dân 52,742 100 64,376 100 76,328 100 85,847 100 Dưới tuổi lao động 23,465 44.49 25,223 39.18 25,562 33.5 26,227 30.5 Trong tuổi lao động 24,832 47.08 33,496 52.03 43,556 57.1 52,160 60.7Trên tuổi lao động 4,445 8.43 5,657 8.79 7,210 9.4 7,460 8.8Việt Nam có lợi thế lực lượng lao động dồi dào song nhìn chung là chấtlượng chưa cao mặc dù trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn lực đang pháttriển và có xu hướng tăng cao hơn

Năm 2013, tỷ lệ người biết chữ là 94,7%%, toàn quốc đạt tiêu chuẩn quốc

gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Vào năm 2011, số năm đi

học kỳ vọng là 10,4 năm, số năm đi học trung bình của dân cư là 5,5 năm, đượcxếp vào các nước có trình độ dân trí khá trên thế giới và khu vực

1.2 Vai trò của Khoa học công nghệ tới sự phát triển và biến đổi của lao động ở Việt Nam

Thứ nhất, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ, người ta đã tiến hành

cơ khí hoá nền sản xuất, giải phóng con người khỏi lao động chân tay nặng nhọc,

cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động lên nhiều lần

Những tiến bộ khoa học – công nghệ làm tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ,chuyển nền kinh tế truyền thống của ta từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn sang nềnkinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiế ưu thế Ngoài ra, việctiếp thu và ứng dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại vào sản xuất góp phần cảithiện nền công nghiệp lạc hậu của ta Nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại đã đượcchuyển giao vào nước ta trong các lĩnh vực như khai thác dầu khí, thông tin, viễnthông, xây dựng… tạo nền tảng cho các ngành công nghệ chủ chốt ở nước ta Từ

đó có thể thấy, những tiến bộ khoa học – công nghệ đã cải thiện môi trường lao

Trang 8

động, nâng cao trình độ tay nghề và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ và tạo điềukiện cho công tác nghiên cứu khoa học.

Một trong những ưu điểm của người lao động Việt Nam là tính cần cù, siêngnăng, hăng say tìm tòi, sáng tạo Họ không chỉ biết áp dụng tiến bộ khoa học, côngnghệ để xoá đói, giảm nghèo, vượt khó làm giàu mà còn phát huy sáng tạo, cải tiếnmáy móc, thiết bị phục vụ cho nhu cầu lao động sản xuất Một trong những gươngmặt điển hình:

Ông K’Sá H Tang, một nông dân K’Ho chưa từng qua trường lớp cơ khí nào

đã mày mò cải tiến thành công máy tuốt bắp, nâng năng suất lao động lên hàngchục lần so với phương thức thủ công Thời gian tuốt một gùi bắp chỉ mất 5 phúttrong khi đó để tuốt bằng tay phải mất 1 ngày

Máy bứt củ lạc của ông Huỳnh Thái Dương, tỉnh Bình Thuận đã đạt đượcnhững thông số cần thiết như bứt củ lạc không sót, không vỡ vỏ ngoài, không dập

vỏ trong, không lẫn tạp chất, chi phí thời gian từ 2-2,5 giờ/ha lạc, tỉ lệ thất thoát(vỡ vỏ, hao hụt…) chỉ 0,3% Năng suất tương đương với 80 công lao động Giámáy là 38 triệu đồng (trong khi máy nhập của Đài Loan là 600 triệu đồng)

Thứ hai, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ đã tạo ra những người lao động mới: những con người lao động trí tuệ sáng tạo, vừa có tri thức chuyên sâu một ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, tầm nhìn xa, bao quát, nhạy bén, vững vàng trong nghề nghiệp

Người lao động chính là lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, lànguồn lực của mọi nguồn lực, là động lực của mọi động lực phát triển xã hội Từchỗ có tri thức về khoa học và công nghệ, con người và xã hội Việt Nam sẽ chuyểndần từ chỗ chủ yếu là lao động chân cơ bắp, thủ công với những trang thiết bị kỹthuật cũ kỹ, thô sơ, lạc hậu sang lao động trí tuệ, lao động công nghiệp với máymóc, trang bị thiết bị kỹ thuật hiện đại

Khoa học và công nghệ đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đàotạo và hoạt động thực tiễn trang bị cho con người những tri thức và kinh nghiệmcần thiết để cho họ có thể nhanh chóng thích nghi với các trang thiết bị hiện đại,tiên tiến trong sản xuất, đời sống Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới theohướng hiện đại dần các trang thiết bị sản xuất và đời sống buộc con người phảithường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏiquá trình sản xuất xã hội thích ứng với cuộc sống hiện đại Chính nhờ vậy mà trình

độ và chất lượng của đội ngũ những người lao động trong lực lượng sản xuấtkhông ngừng được nâng cao và hiện đại hóa

Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình lao động: lao động phổthông và lao động chất lượng cao Lao động phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông,trong khi đó, tỷ lệ lao động chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu củaViệt Nam hiện nay không phải là lao động phổ thông, mà là lao động chất lượngcao

Dự kiến, năm 2015, số lao động qua đào tạo ở bậc sơ cấp nghề khoảng 18

Trang 9

triệu người, chiếm khoảng 59% tổng số lao động đã qua đào tạo của nền kinh tế;bậc trung cấp khoảng 7 triệu người (khoảng 23%); bậc cao đẳng gần 2 triệu người(khoảng 6%); bậc đại học khoảng 3,3 triệu người (khoảng 11%); bậc trên đại họckhoảng 200 nghìn người (khoảng 0,7%) Năm 2020, số lao động đào tạo ở bậc sơcấp nghề khoảng gần 24 triệu người (khoảng 54%) tổng số lao động qua đào tạocủa nền kinh tế; bậc trung cấp nghề khoảng gần 12 triệu người (khoảng 27%); bậccao đẳng hơn 3 triệu người (khoảng 7%); bậc đại học khoảng 5 triệu người(khoảng 11%) và bậc trên đại học khoảng 300 nghìn người (khoảng 0,7%) Pháttriển nhân lực đến năm 2020 của các ngành, lĩnh vực, khu vực như công nghiệp;xây dựng; dịch vụ; nông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải; tài nguyên, môitrường; du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin; năng lượng hạt nhân;đào tạo nhân lực để đi làm việc ở nước ngoài Quy mô đào tạo trong các trường đạihọc, cao đẳng năm 2020 có khoảng 3,4 - 3,9 triệu sinh viên Tỷ lệ sinh viên vàonăm 2020 là từ 350 - 400 người/trên 1 vạn dân.

Mạng lưới trường đại học và cao đẳng vào năm 2020 sẽ có tổng cộng 573trường, trong đó, 259 trường đại học và 314 trường cao đẳng Trong giai đoạn2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70 trường đại học và 88 trường caođẳng) Về mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạynghề (gọi chung là cơ sở dạy nghề): Đến năm 2015 có 190 trường cao đẳng nghề,trong đó, có 60 trường ngoài công lập; 300 trường trung cấp nghề, trong đó, có 100trường ngoài công lập; 920 trung tâm dạy nghề, trong đó có 320 trung tâm ngoàicông lập Đến năm 2020 có khoảng 230 trường cao đẳng nghề, trong đó, có 80trường ngoài công lập; 310 trường trung cấp nghề, trong đó có 120 trường ngoàicông lập; 1.050 trung tâm dạy nghề, trong đó có 350 trung tâm ngoài công lập.Tổng vốn đầu tư cho phát triển nguồn lao động đến năm 2020 (gồm giáo dục vàđào tạo; dạy nghề; y tế; chăm sóc sức khỏe, ) khoảng 2.135 nghìn tỷ VNĐ, chiếm12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Thứ ba, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ đã nâng cao nhận thức của người lao động.

Cùng với sự phát triển của KHCN, nhận thức của người lao động về thế giớiquan và nhân sinh quan ngày càng tiến bộ Việc nhận thức và hiểu biết về thế giớicủa người Việt Nam đã được cải thiện và nâng cao (thể hiện trong hệ tư tưởng,nhận thức, việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại…) Trong đó, là sự chuyển biến

về tư tưởng tiến bộ (coi trọng năng suất lao động, nam nữ bình đẳng, xã hội vănminh dân chủ…) hình thành một thế hệ Việt Nam mới Trước đây, người lao độngViệt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng cũ nên phụ thuộc khá nhiều vào tựnhiên, tuy nhiên cũng đã khẳng định sức mạnh của con người Nhưng đến nay, khitiếp cận và thông qua những thành tựu của khoa học công nghệ, Việt Nam đã nắmbắt được những tri thức mới, có nhận thức và định hướng mới trong việc làm chủ

sự phát triển của đất nước Đã tiếp thu và học tập những tinh hoa của nhân loại nhưcác quy luật vận động của tự nhiên, quy luật vận động của xã hội, quy luật vậnđộng của nền kinh tế…

Khoa học và công nghệ đã và đang tăng cường khả năng truyền dẫn, lan toả

Trang 10

và khuyếch tán văn hoá trong quá trình phát triển của người lao động Công nghệthông tin và truyền thông phát triển, làm cho văn hoá nghệ thuật được phổ biếnrộng rãi Ở Việt Nam, bên cạnh những thể loại nhạc truyền thống nay đã hội nhậpnhững dòng nhạc mới theo xu thế của thế giới… Văn hoá đã có sự kết hợp giữatruyền thống và hiện đại Trong tư tưởng người Việt, phụ nữ vẫn cần quán xuyếnviệc gia đình nhưng ngày nay “gánh nặng” này đã được chia sẻ với nam giới, phụ

nữ không còn phải quá ràng buộc trong hệ tư tưởng “tam tòng tứ đức” nữa…Những suy nghĩ đã được đổi mới, người lao động Việt dám nghĩ dám làm không lệthuộc quá nhiều vào gia đình như trước đây Việc phải lưu trữ những kỷ niệm,những sự kiện quan trọng không cần phải “sổ lưu bút” mà nay chuyển sang sửdụng “lưu trữ đám mây”, facebook… bằng những công cụ tiên tiến hiện đại nhưđiện thoại, laptop, ipad…

Thứ tư, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ đã cải thiện sức khoẻ, mức sống và đời sống tinh thần của người lao động.

Khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ gen… ngàycàng phát triển và được ứng dụng rộng rãi vào công tác chăm sóc sức khỏe củangười lao động Đã có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực y tế nhất là trong việcphát minh ra những loại thuốc, vắc – xin, các thiết bị y tế, các phương pháp trịbệnh mới … Đồng thời việc phát triển những công nghệ sạch đã cải thiện môitrường sống của người lao động, giảm việc ô nhiễm môi trường… Tất cả nhữngđiều này đã góp phần cải thiện sức khỏe của người lao động, tăng tuổi thọ trungbình

Khoa học và công nghệ tác động thông qua việc đổi mới sản phẩm và đổimới quy trình sản xuất đã tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất của máy móc thiết

bị Một mặt khoa học và công nghệ kích cầu, mặt khác nó tăng năng suất qua đótăng cung và từ đó nền kinh tăng trưởng, làm tăng thu nhập bình quân, cải thiệnmức sống của người lao động Khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thôngtin góp phần to lớn đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng,bình đẳng trong xã hội, tự do dân chủ: giúp cho người lao động dễ dàng tiếp cậnvới các thông tin hơn, tạo ra một cơ chế phản ánh tiếng nói của người lao động đặcbiệt là của người lao động nghèo đến chính phủ hiệu quả hơn, góp phần nâng caochất lượng của dịch vụ công

Khoa học và công nghệ giúp cho người lao động tiệp cận với các trò chơithể thao, tham gia vào các hoạt động văn nghệ… để thư giãn sau giờ làm việc giúpnâng cao tinh thần của người lao động dẫn đến năng suất lao động tăng

2 Sự tác động của khoa học công nghệ đến sự phát triển của LLSX ở Việt Nam

Lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu lao động (Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động trong đó công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Trình độ của công cụ sản xuất là một tiêu chí biểu hiện trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội) và người

lao động

Trang 11

Khoa học công nghệ (KHCN) có tác động to lớn tới sự phát triển của lựclượng sản xuất tại Việt Nam Ngày nay, khoa học và công nghệ được coi là yếu tốquan trọng và có ý nghĩa quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội Trong cácvăn kiện quan trọng, đại hội Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của KHCN trong sựphát triển của đất nước và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng, toàn dân.Tác động của KHCN đến lực lượng sản xuất ở Việt Nam được thể hiện trên khôngchỉ ở đến sự biến đổi và phát triển của lao động mà chính là tác động đến sự biếnđổi và phát triển của tư liệu lao động, mà trọng tâm là công cụ lao động.

Công cụ lao động là bộ phận trọng tâm, tích cực nhất trong tư liệu sản xuất

Nó là biểu hiện cụ thể của tiến bộ khoa học kỹ thuật và cũng là cơ sở để phân biệt

thời đại kinh tế C.Mac đã khằng định rằng: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với tư liệu lao động nào”

Sự tác động của KHCN đến tư liệu lao động hay chính là tác động đến công

cụ lao động tại Việt Nam trong thời gian qua được thể hiện ở sự cải tiến và biếnđổi của công cụ lao động qua các thời kỳ (chuyển từ thủ công sang hiện đại, tựđộng hoá với năng suất và chất lượng cao)

Nếu như trên thế giới, nói đến tác động của KHCN đến tư liệu sản xuất thìđược thể hiện rõ trên các thời đại kinh tế từ công xã nguyên thuỷ cho đến tư bản,chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, đề cập đến tác động của KHCN đến tư liệu sản xuất ởViệt Nam thì được chia thành các thời kỳ sau (gắn với các điểm mốc lịch sử):

* Từ năm 1975 trở về trước: Tư liệu sản xuất còn rất lạc hậu Do đặc

điểm kinh tế - chính trị, toàn Đảng toàn dân dồn sức cho cuộc chiến chống Pháp,chống Mỹ do đó việc sản xuất tuy được đẩy mạnh nhưng chủ yếu để phục vụ chocuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trang bị cho sản xuất lúc bấy giờ ngoài cơ sởvật chất của Việt Nam thì chủ yếu là do Liên Xô, Trung quốc viện trợ về kinh tế,

kỹ thuật và quân sự (xây dựng các nhà máy điện và hệ thống đường dây điện, trạmbiến thế, đài khí tượng…mở rộng nhiều xí nghiệp và công trình công nghiệp…).Nhờ sự giúp đỡ của các nước bạn, tư liệu sản xuất Việt Nam đã được cải thiện vàđem lại những kết quả tích cực, góp phần xây dựng hệ thống cơ sở vật chất sảnxuất của Việt Nam

* Từ năm 1975 đến 1986: tư liệu sản xuất đã dần chuyển từ kỹ thuật thủ công sang sử dụng máy móc, thiết bị Tuy nhiên, kỹ thuật thủ công vẫn là chủ yếu, công suất sử dụng máy móc thiệt bị còn thấp Trang bị máy móc thiết bị, kỹ

thuật đã được cải tiến xong sản xuất vẫn còn quy mô còn nhỏ, thiếu cân đối, còn lệthuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu của nước ngoài, tình trạng sử dụngkhông hết công suất máy móc thiết bị diễn ra phổ biến

* Từ 1986 đến 2000: công cụ lao động đã chuyển từ thủ công sang tự động hoá, đã sử dụng và phát triển nhiều máy móc thiết bị có công suất cao, chất

lượng được cải biến theo xu thế phát triển của cuộc cách mạng khoa học Tin học,điện tử đang dần được hình thành và phát triển., nhiều công cụ lao động thủ công

đã có cải tiến đem lại hiệu quả cao hơn trong sản xuất

Trang 12

* Từ 2011 đến nay: ứng dụng và tiếp thu những thành tựu của KHCN trên thế giới vào sản xuất kinh doanh để cải tiến công cụ lao động, tăng năng suất Nhiều công nghệ kỹ thuật hiện đại được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực

kinh tế - xã hội từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế đến quốc phòng an ninh…, đemlại hiệu quả và những thành tựu quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam

Ở phương diện tổng thể, KHCN đã tác động mạnh mẽ đến sự cải tiến vàthay đổi tư liệu sản xuất tại Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Cải tiến, phát triển công cụ lao động nhằm nâng cao năng suất lao

động, chất lượng sản phẩm, giải phóng sức lao động: Căn cứ vào quá trình nghiêncứu và đúc rút kinh nghiệm từ các quốc gia đã đạt được nhiều thành công và thànhtựu nhờ sự phát triển của KHCN, Việt Nam đã dựa vào những điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội cùng với sự hiểu biết về tri thức khoa học đã tiến hành cải tiếnnhững tiến bộ trong KHCN của nước ngoài vào áp dụng tại Việt Nam Công cụ từthô sơ, nhờ KHCN đã chuyển thành công cụ được cải tiến làm tăng năng suất laođộng Ví dụ: máy tuốt lúa khi mới xuất hiện được sử dụng bằng bàn đạp chân, tuynhiên do yêu cầu thực tế và sự phát triển của kỹ thuật đã tiến hành cải biến chạybằng năng lượng điện của máy nổ chạy bằng xăng, được cải tiến thêm giá đỡ để cóthể di chuyển và phù hợp với địa hình núi, chỗ lầy lội…

Thứ hai, Đổi mới và nâng cao hiệu năng của công cụ lao động: Việt Nam đã

tiếp thu tri thức KHCN của các nước phát triển trên thế giới, đồng thời phát triểnnghiên cứu trong nhiều lĩnh vực để đổi mới và nâng cao hiệu năng của công cụ laođộng Việc phát triển và ứng dụng KHCN đã tạo ra được nhiều công cụ lao độnghiện đại, có nhiều tính năng giúp con người tiết kiệm được thời gian, nâng caonăng suất làm việc (ví dụ: máy gặt đập liên hợp…) Trong thời đại Công nghệthông tin càng phát triển, việc phát triển hệ thống công cụ liên lạc càng được chútrọng Từ điện thoại chỉ để nghe gọi để trao đổi, nay thêm nhiều tính năng nóichuyện có hình ảnh, lướt web, check mail, được hỗ trợ nhiều ứng dụng Tại ViệtNam phát triển công nghệ phần mềm (phần mềm kế toán ứng dụng, mua và pháttriển hệ thống phần mềm của oracle tại VN…)

Thứ ba, tìm hiểu, nghiên cứu và chế tạo ra công cụ lao động hữu ích: theo

yêu cầu của thực tế, cùng với sự hỗ trợ của KHCN việc tìm hiểu và nghiên cứusáng chế ra công cụ lao động hữu ích đã được triển khai Nhiều chương trình đãđược triển khai trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, nông nghiệp… đặc biệt làcông nghiệp Trong ngành công nghiệp, Việt Nam hiện đang nghiên cứu và pháttriển công nghiệp năng lượng (sử dụng năng lượng nguyên tử), chế tạo nhiều máy

tự động hoá: chế tạo robot trong việc thu thập rác thải nơi sông hồ để giảm gánhnặng cho công nhân môi trường Trong sản xuất hàng hoá, CNTT và KHCN đóngvai trò hết sức quan trọng và có tác động to lớn Do yêu cầu về quản lý, ngoài hệthống tiêu chí để sử dụng đánh giá, các doanh nghiệp hiện đã sử dụng nhiều dâytruyền sản xuất hiện đại tiên tiến Các công ty chế tạo, lắp ráp công nghiệp đã sửdụng tự động hoá (máy móc) có công nhân điều khiển

Từ những tác động trên của KHCN, tư liệu sản xuất của Việt Nam được cảithiện và nâng cao đáng kể, góp phần tích cực trong sự chuyển đổi hình thức sản

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w