1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ứng dụng lý thuyết của adam smith và david ricardo vào thực tiễn

22 2,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 335,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vài nét về lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo Từ thế kỷ XVII trở về trước, dường như nền kinh tế thế giới không hế tăng trưởng, mức thu nhập trong dài hạn không tăng, mức sống củ

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2

1.1 Vài nét về lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo 2

1.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith 3

1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của David Ricardo 4

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA ADAM SMITH VÀ DAVID RICARDO 6

2.1 Những ưu điểm của lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo 6

2.2 Những hạn chế của lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo 8

2.3 So sánh lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo 9

2.3.1 Sự giống nhau 9

2.3.2 Sự khác nhau giữa các mô hình 9

2.3.2.1 Mô hình của Adam Smith và David Ricardo 9

2.3.2.2 Mô hình của Marx 10

2.3.2.3 Mô hình tân cổ điển 10

2.3.2.4 Mô hình hiện đại 11

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT CỦA ADAM SMITH VÀ DAVID RICARDO VÀO THỰC TIỄN 12

3.1 Đông Á 12

3.2 Mỹ 15

3.3 Việt Nam 16

3.3.1 Giai đoạn trước đổi mới 16

3.3.2 Giai đoạn sau đổi mới 18

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Vài nét về lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo

Từ thế kỷ XVII trở về trước, dường như nền kinh tế thế giới không hế tăng trưởng, mức thu nhập trong dài hạn không tăng, mức sống của người nông dân châu

Âu thế kỷ XVI chỉ nhỉnh hơn thời kỳ La Mã một chút Trong “Bài luận về dân số”

năm 1798, Thomas Robert Malthus đã giải thích rằng: khi cung lương thực, thực phẩm tăng lên thì dân số cũng tăng lên, thậm chí với tốc độ còn nhanh hơn Điều đó có nghĩa

là thu nhập bình quân đầu người (hay lượng lương thực, thực phẩm bình quân đầu người) luôn luôn ở mức đủ sống Nhưng đến thế kỷ XVIII, cả hai nền kinh tế Hà Lan

và Anh đã thành công trong việc nâng cao thu nhập bình quân, dưới áp lực của tăng dân số và quy luật lợi tức giảm dần trong nông nghiệp Lúc đó, lý thuyết của Malthus không còn đúng nữa, bởi vì lúc này, của cải được tạo ra nhanh hơn tốc độ tăng dân số

Trước khi trường phái cổ điển hình thành, vào đầu thế kỷ XVIII, có một nhóm các nhà kinh tế học cũng nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế Thế nhưng, phải đến khi công trình của Adam Smith (1723-1790) ra đời, thì mới có sự công nhận rằng động thái tăng trưởng có thể được tạo ra từ cả khu vực công nghiệp lẫn nông nghiệp Trên thực tế, trường phái cổ điển đã nhận thức được rằng năng suất của khu vực công nghiệp tăng nhanh hơn khu vực nông nghiệp, và từ đó họ có kết luận bi quan về triển vọng tăng năng suất bền vững Những phát triển về mặt nhận thức này đi kèm với một

hệ thống các định đề liên quan đến nguyên nhân tăng trưởng kinh tế và những giới hạn đối với tăng trưởng Có thể nhận thấy, sự phát triển của xã hội loài người là thông qua

sự phát triển của công nghệ và các thể chế tạo điều kiện cho việc thay thế các nguồn tài nguyên thiên nhiên bằng các nguồn lực do con người làm ra Nhưng trước đó, chính David Ricardo (1772-1823), tác giả của trường phái cổ điển xuất sắc nhất, là người tìm

ra sự giới hạn đối với tăng trưởng kinh tế bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Mặc dù các lý thuyết kinh tế trước thế kỷ XX (được gọi chung là những tư tưởng truyền thống), còn khá mơ hồ, định tính, nhưng chúng cũng đã tạo nên một cơ sở nền tảng cho kinh tế học nói chung và kinh tế học về tăng trưởng nói riêng Trong số các nhà kinh tế cổ điển, ba người có đóng góp lớn nhất đối với lý thuyết tăng trưởng

Trang 3

kinh tế là Adam Smith, David Ricardo và Karl Marx Tuy nhiên, đóng góp lý thuyết của Marx rất đặc biệt, nên người ta thường tách lý thuyết của ông ra khỏi nhánh kinh tế chính trị cổ điển

1.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith

Adam Smith (1723-1790), là người sang lập ra khoa kinh tế học, là nhà phát

minh đầu tiên của lý thuyết tăng trưởng Tác phẩm “Bàn về bản chất và nguồn gốc

giàu có của các quốc gia” (An Inquiry into Nature and Causes of the Wealth of

Nations), hay được gọi tắt là “Của cải của các quốc gia” (Wealth of Nations), xuất

bản năm 1776, đã nêu bật nội dung và mối quan tâm của ông về sự tăng trưởng kinh tế Trong tác phẩm này, không chỉ tích lũy vốn mà cả tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố

xã hội và thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước Theo Adam Smith, những nước như Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ thời bấy giờ đang rơi vào “cái bẫy cân bằng thấp” bởi “chính phủ yếu kém” và các vấn đề nhân quyền và tự do hay quyền sở hữu đều không được coi trọng Đó là do sự lạc hậu về văn hóa và thể chế của những nước này Các quốc gia đi đầu trong thời đại ông là Anh và Bắc Mỹ có môi trường “tự do” và nhờ đó có tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, khi giải thích cơ chế tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, Adam Smith đã dựa trên quá trình tích lũy tư bản, với tư tưởng ủng hộ tư do cạnh tranh và các chính phủ nhỏ Khi lập luận rằng điều kiện của tăng trưởng kinh tế là tăng đầu tư nhờ giảm tiêu dùng, ông là người đầu tiên đưa ra mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa dựa trên tiết kiệm và đầu tư cao Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Adam Smith đưa ra các lý thuyết cơ bản như sau:

- Lý thuyết “Giá trị lao động”: Adam Smith đã có nhận xét đúng đắn khi

vạch rõ vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị, tức nguồn gốc thật sự của của cải Chỉ riêng điều này cũng có thể nói ông là người đã khai sinh ra lý luận giá trị lao động

- Lý thuyết “Bàn tay vô hình”: Theo ông, “mọi cá nhân không có ý định

thúc đẩy lợi ích công cộng, mà chỉ nhằm vào lợi ích riêng của mình, và ở đây, cũng như nhiều trường hợp khác, người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình” Điều này có nghĩa, Adam Smith cho

Trang 4

rằng nếu không bị Chính phủ kiểm soát, người lao động sẽ được lợi nhuận thúc đẩy để sản xuất ra dịch vụ và hàng hóa cần thiết, và thông qua thị trường tự do này, lợi ích cá nhân sẽ gắn liền với lợi ích xã hội Từ đó, ông cho rẳng Chính phủ không có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Lý thuyết về phân phối thu nhập theo nguyên tắc “Ai có gì được nấy”:

Theo nguyên tắc này, tư bản có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất đai thì thu được địa tô, công nhân có sức lao động thì nhận được tiền công

Theo Adam Smith, chính lao động được sử dụng trong những công việc có ích

và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội Số công nhân “hữu ích và hiệu quả” cũng như năng suất của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích lũy Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế

1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của David Ricardo

Nếu Adam Smith được coi là người sang lập ra Kinh tế học thì David Ricardo (1772-1823) được coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất Ông kế thừa các tư tưởng của Adam Smith, và chịu ảnh hưởng tư tưởng về dân số học của T.R.Malthus (1776-1834) Những quan điểm cơ bản của David Ricardo về tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

- Theo David Ricardo, nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất Từ

đó, ông cho rằng các yếu tố cơ bản củ tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Hàm tăng trưởng kinh tế khi đó sẽ có dạng: Y = f(K, L, R)

- Trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định, không thay đổi

Ví dụ: Để sản xuất một lượng lương thực là A thì cần Ka vốn và La lao động Để sản xuất lượng lương thực là B = 2A thì cũng chỉ có cách kết hợp giữa Kb = 2Ka vốn và Lb = 2La lao động, ngoài ra không có cách lựa chọn nào khác cho sự kết hợp giữa vốn và lao động

Theo quan điểm này, các đường đồng sản lượng sẽ có dạng chữ “L”

- Hao phí của các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp cũng khác nhau Trong nông nghiệp, khi nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng lên, cần phải

Trang 5

tiến hành sản xuất ở những nơi đất đai kém màu mỡ hơn, làm chi phí sản xuất tăng lên

Do đó, tiên lương danh nghĩa tăng lên, lợi nhuận của nhà tư bản giảm Cho tới khi đất đai đạt điểm dừng tại R0 và Y sẽ đạt sản lượng tối đa, tại đó sẽ là giới hạn của tăng trưởng Khi đó, nền kinh tế chia làm 2 khu vực Khu vực 1: nông nghiệp trì trệ tuyệt đối, khu vực 2: công nghiệp Như vậy, khi chưa đến điểm dừng R0 thì R là yếu tố quyết định tăng trưởng, khi đạt điểm dừng R0 thì tích lũy cho khu vực công nghiệp mới là yếu tố quyết định tăng trưởng Ngược lại, trong công nghiệp, khi sản xuất gia tăng theo quy mô thì lợi nhuận cũng tăng theo

Như vậy, lý luận của Ricardo là: tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy

là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai Do đó đất đai là yếu tố quan trọng nhất và là giới hạn đối với sự tăng trưởng

- Theo Ricardo, bất cứ biện pháp nào có thể thúc đẩy việc nâng cao năng suất cận biên như cải tạo nông nghiệp, áp dụng máy móc, giảm thuế và chi tiêu công cộng,…, đều làm tăng lợi nhuận, từ đó tăng tỷ lệ hình thành tư bản, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy xuất phát từ góc độ phân phối thu nhập để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, nhưng ông vẫn đặc biệt nhấn mạnh tích lũy tư bản là nhân tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng kinh tế, còn các chính sách của Chính phủ không có tác động quang trọng tới hoạt động của nền kinh tế Các chính sách kinh tế chỉ góp phần làm thay đổi giá cả, và sự can thiệp của Chính phủ có khi còn làm giảm đi khả năng phát triển của nền kinh tế

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA ADAM SMITH VÀ DAVID RICARDO

2.1 Những ưu điểm của lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo

Thứ nhất, cả Adam Smith và David Ricardo đều thấy được vai trò của tích lũy

tư bản, cả hai đều cho rằng tích lũy tư bản là động lực của tăng trưởng kinh tế Tư bản được các ông xem là quỹ lương trả cho lao động cộng với phần tiền phải bỏ ra để mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,… được chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến Trong đó, lao động là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị, và nó cũng chính là nguồn gốc cơ bản tạo ra mọi của cải cho đất nước Đây là điểm tiến bộ so với quan điểm cho rằng nguồn gốc tạo ra giá trị là lưu thông Adam Smith coi sự gia tăng tư bản đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất lao động, thông qua thúc đẩy phân công lao động vì nếu nhà tư bản có nhiều tiền họ sẽ thuê thêm lao động và đầu tư thêm máy móc cho những công đoạn sản xuất riêng biệt hơn

Thứ hai, qua lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith, cả ông cũng như

David Ricardo đã nhận thấy được tác dụng của kinh tế tư nhân, không có sự can thiệp của nhà nước Nếu không bị chính phủ kiểm soát, người lao động sẽ bị lợi nhuận thúc đẩy để sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết và thông qua thị trường tự do này lợi ích

cá nhân sẽ gắn với lợi ích xã hội Từ đó Adam Smith phủ nhận vai trò của chính phủ trong việc điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bổ sung vào lý thuyết này của Adam Smith, David Ricardo cũng cho rằng thị trường có khả năng tự điều chỉnh những mất cân đối của nền kinh tế Sự can thiệp của chính phủ có khi còn giảm khả năng phát triển của nền kinh tế bởi chính sách thuế, chẳng hạn, sẽ làm giảm khả năng tích lũy cho sản xuất (thuế làm giảm lợi nhuận của nhà tư bản từ đó làm giảm nguồn vốn tái đầu tư) hoặc các khỏan chi cho nhà nước có khi “không sinh lời” sẽ làm giảm tiềm lực phát triển kinh tế Và trên thực tế, nếu để nền kinh tế vận hành một cách tự do theo qui luật cung cầu thì tính cạnh tranh cao sẽ làm tăng hiệu quả của sản xuất, nền kinh tế không

bị bóp méo, biến dạng gây ra những hậu quả không mong muốn

Thứ ba, Adam Smith đã nhận thấy được lợi ích to lớn của việc phân công lao động xã hội cũng như vai trò của hội nhập kinh tế, mở rộng qui mô thị trường Trong ví

Trang 7

dụ nổi tiêng của ông về sản xuất đinh ghim, ông cho rằng một công nhân không thể sản xuất hơn 20 chiếc đinh ghim trong một ngày nếu một mình anh ta phải thưc hiện toàn

bộ quá trình sản xuất Tuy nhiên, nếu sản xuất được chia nhỏ ra làm 18 công đoạn, mỗi công đoạn được thực hiện bởi một công nhân thì mỗi công nhân có thể sản xuất ra hơn

4000 chiếc đinh ghim mỗi ngày Cùng với lượng tư bản tích lũy, quy mô thị trường là yếu tố quan trọng để thúc đẩy phân công lao động Ví dụ, cho dù mỗi ngày nhà máy có thể sản xuất ra hàng trăm nghìn chiếc đinh ghim nhờ phân công lao động nhưng nền kinh tế cũng không thể áp dụng hệ thống kinh tế này nếu cầu thị trường quá nhỏ bé để tiêu thụ hết lượng sản phẩm lớn này Vì thế thông qua bãi bỏ các loại luật lệ đối với giao dịch mua bán trong nước, việc hợp nhất các thị trường địa phương thành thị trường quốc gia sẽ đẩy mạnh phân công lao động Ngoài ra nếu phá vỡ độc quyền thương mại và các biện pháp bảo hộ thì thị trường trong nước sẽ hội nhập với một thị trường thế giới rộng lớn hơn Việc tạo ra một thị trường tự do và rộng lớn sẽ thúc đẩy phân công lao động, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của các quốc gia

Ngoài ra, David Ricardo còn nêu lên được qui luật tiền lương tối thiểu và sự giới hạn của tài nguyên trong tăng trưởng kinh tế, đó là sự giới hạn của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Kế thừa học thuyết về dân số của Malthus, ông lập luận rằng khi dân

số tăng do sự tăng lên của thu nhập thì cung lao động trong dài hạn cũng tăng lên và khi đó tiền lương trả cho lao động có khuynh hướng trở về mức lương tối thiểu, nhưng mức lương tối thiểu lại phụ thuộc vào giá lương thực, thực phẩm do vậy mức lương này phải đảm bảo được đời sống cho người lao động Nếu mức lương này tăng theo giá lương thực thì tỉ suất lợi nhuận của nhà tư bản giảm còn ở mức rất thấp, động lực đầu

tư không còn nữa và nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng ngừng tăng trưởng Song song với việc tăng dân số đó là sự tăng lên của nhu cầu về lương thực, cầu lương thực tăng buộc các quốc gia phải đưa những mảnh đất kém màu mỡ vào sản xuất (vì những mảnh đất màu mỡ không đủ để ung cấp cho nhu cầu quá cao) dẫn đến chi phí cận biên tăng, điều này cũng làm mất động cơ đầu tư do tỉ suất lợi nhuận giảm Và do đó, nền kinh tế cũng sẽ ngừng tăng trưởng

Trang 8

2.2 Những hạn chế của lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo

Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith đã mở ra một chương mới trong

lịch sử kinh tế , đã tôn trọng và ủng hộ tự do kinh doanh trong thời kì mà các luật lệ, thuế má hà khắc đã cản trở rất lớn đến phát triển kinh tế Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn trừu tượng và nó vẫn còn là một thách thức với ý tưởng cho rằng các chính sách thúc đẩy thị trường tự do sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế một cách tốt nhất Và minh chứng cho điều này đó là cuộc khủng hoảng năm 1929 Nói về năm 1929, cái gọi là bàn tay vô hình bị “tan hoang” Nhưng trước hết nói về các mánh khóe mà các nhà môi giới, chuyên viên giao dịch lúc này đã vì lợi ích riêng mà đẩy giá cổ phiểu cao tận lên trời Họ mua qua bán lại các cổ phiếu ít được chú ý, mỗi lần giao dịch họ lại đẩy giá lên một ít Các nhà đầu tư thấy giá lên đều đều thì họ liền mua cổ phiếu này Họ mua các cổ phiếu này và góp phần đẩy giá lên cao Các nhà môi giới khi thấy giá lên cao thì bán đi và rút khỏi nhằm kiếm lời Vào lúc này đây, nhà nhà người người, rút tiền tiết kiệm, bán cả gia tài đi đầu tư chứng khoán Bong bóng chứng khoán bỗng phình ra hơn Và rồi cuộc khủng hoảng lớn nhất đầu tiên trong lịch sử kinh tế đã bắt đầu Lúc

ấy, lợi ích của cá nhân không làm gia tăng lợi ích của tập thể được nữa, mà chính nó đã nhấn chìm lợi ích của tập thể và đưa tất cả vào giai đọan thoái trào sau những vinh quang không thực do lợi ích của cá nhân gây nên Hậu quả của nó lan rộng ra toàn cầu nhưng di chứng lớn nhất của nó để lại là cuộc chiến tranh thế giới thứ Hai - một vết đen trong lịch sử nhân loại

Lý thuyết của Ricardo dự báo rằng, với nguồn tài nguyên thiên nhiên cho trước, thì việc gia tăng giá lương thực thực phẩm do dân số sẽ đẩy nền kinh tế tơi một “trạng thái dừng” và đây được gọi là “cái bẫy Ricardo” Để thoát khỏi bẫy này, Ricardo đã đề xuất tự do hóa nhập khẩu lương thực, thực phẩm Để xuất tự do hoá thương mại của Ricardo chỉ phù hợp với nước Anh ở thế kỷ XIX, khi mà dân số nước này chỉ chiếm một phần nhỏ dân số thế giới và sự đi đầu trong năng suất công nghiệp khiến nước này

dễ dàng thu được ngoại tệ đủ để nhập khẩu lương thực, thực phấm Ngày nay các nước kinh tế đang phát triển không dễ kiếm được đủ ngoại tệ nhờ vào việc xuất khẩu sản phẩm công nghiệp trong thời kì đầu công nghiệp hóa Cũng vậy, nếu có nhiều nước

Trang 9

đang phát triển, đông dân, cùng nhập khẩu lương thực, thực phẩm thì giá lương thực, thực phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, làm cho mức giá trong nước khó giữ ở mức ban đầu

Một nhược điểm của lý thuyết kinh tế của David Ricardo là ông cho rằng nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái dừng khi tài nguyên đất bị giới hạn, thế nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, với việc áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nó đã làm cho năng suất trong nông nghiệp tăng với tốc đọ còn lớn hơn tốc độ tăng trong công nghiệp

2.3 So sánh lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo

2.3.1 Sự giống nhau

Các mô hình tăng trưởng kinh tế đều nghiên cứu theo những nội dung:

- Quan điểm về các yếu tố đầu vào, trong đó xem xét yếu tố nào là quan trọng nhất;

- Sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào;

- Vai trò của chính phủ trong tăng trưởng kinh tế;

- Nền kinh tế vận động như thế nào thông qua tổng cung và tổng cầu

Cụ thể, các yếu tố đầu vào tác động tới quá trình sản xuất là đất đai, lao động, vốn, và tiến bộ khoa học kĩ thuật Riêng đối với mô hình của Adam Smith và David Ricardo thì chỉ có 3 yếu tố là đất đai, lao động, vốn

Với mô hình của Keynes và hiện đại thì vốn (K) là yếu tố đầu vào quan trọng nhất

2.3.2 Sự khác nhau giữa các mô hình

2.3.2.1 Mô hình của Adam Smith và David Ricardo

Trên phương diện các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, cả hai mô hình đều cho rằng các yếu tố đó là đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai là yếu tố quan trọng nhất (theo Ricardo) và nó cũng là giới hạn của tăng trưởng Trong mô hình không

có yếu tố công nghệ (T), theo Ricardo, tốc độ tăng trưởng kinh tế (g) là một hàm của đầu tư (I), đầu tư lại là một hàm của lợi nhuận (Pr), lợi nhuận lại là hàm của tiền công

Trang 10

thuê lao động (W), tiền công thuê lao động thì phụ thuộc vào giá nông sản (P), và cuối cùng, giá nông sản sẽ bị phụ thuộc vào giá thuê ruộng đất (R)

Xét về mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận, Adam Smith và David Ricardo cho rằng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khi có nhu cầu mở rộng qui mô sản xuất thì nhu cầu vè các yếu tố đầu vào tăng đặc biệt là đất đai, chi phí sản xuất tăng và sản lượng tăng khi đó lợi nhuận tăng nhưng có xu hướng giảm dần, còn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp khi có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh thì nhu cầu về các yếu

tố đầu vào tăng dẫn tới sản lượng tăng, đồng thời lợi nhuận cũng tăng

Quan điểm cung tạo nên cầu, mô hình cổ điển của Adam Smith và David Ricardo cho rằng tổng cung thị trường có vai trò quyết định sản lượng, việc làm; tổng cầu thông qua sự can thiệp của chính phủ làm thay đổi giá cả nhưng không làm thay đổi sản lượng, việc làm Chính phủ không có tác động kích thích tăng trưởng thậm chí còn hạn chế tăng trưởng kinh tế

2.3.2.2 Mô hình của Marx

Xét các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, Mô hình của Marx có thêm yếu tố kỹ thuật bên cạnh 3 yếu tố đất đai, vốn và lao động giống như mô hình cổ điển Marx đặc biệt quan tâm đến lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư, lao động là một hàng hóa đặc biệt

Marx chia nền kinh tế thành 2 lĩnh vực: lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực phi sản xuất vật chất Lĩnh vực sản xuất vật chất bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng Giao thông vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt Chỉ có lĩnh vực sản xuất vật chất mới tạo ra thu nhập cho xã hội, tác động đến tăng trưởng kinh tế

Ngoài ra, Marx bác bỏ quan điểm cung tạo ra cầu, quan điểm về vai trò của chính phủ của trường phái cổ điển Ông cho rằng chính phủ có vai trò kích cầu, tăng tổng cầu bằng cách giảm lãi suất cho vay để khuyến khích đầu tư, giảm thuế tăng chi tiêu, chính sách chi tiêu của chính phủ

2.3.2.3 Mô hình tân cổ điển

Các nhân tố tác động tới tăng trưởng, cũng giống như mô hình của Marx, các nhân tố này cũng bao gồm vốn, lao động, đất đai và khoa học kĩ thuật Tuy nhiên yếu

Trang 11

tố đóng vai trò quan trọng nhất là khoa học kĩ thuật chứ không phải là lao động như trong mô hình của Marx Mô hình tân cổ điển bác bỏ quan điểm cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi hững tỷ lệ nhất định về K, L Họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công từ đó tạo ra nhiều cách kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau trong sản xuất

Từ quan điểm trên họ đã đưa ra khái niệm “sự phát triển kinh tế theo chiều

sâu”: gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất và khái niệm “ sự phát triển theo chiều rộng”: sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động

Quan điểm về vai trò của chính phủ: chính phủ không có tác động đến sản

lượng và việc làm Chính phủ chỉ dự báo biến động giá và đưa ra các chính sách để điều tiết nền kinh ế nhiều biến động

2.3.2.4 Mô hình hiện đại

Quan điểm về sự kết hợp các yếu tố đầu vào: mô hình hiện đại thống nhất với

tân cổ điển về các yếu tố đầu vào vốn, lao động, đất đai và công nghệ Đây là nguồn gốc của sự tăng trưởng trong đó vốn, lao động có thể thay thế cho nhau Mô hình cũng nhấn mạnh vai trò của vốn trong tăng trưởng kinh tế, vốn là cơ sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác

Quan điểm về vai trò của chính phủ: cần có sự can thiệp của chính phủ vì thị

trường có những khuyết tật mà bản thân nó không thể tự khắc phục được, nhiều mục tiêu xã hội mà thị trường không đáp ứng được Tuy nhiên sự can thiệp của chính phủ không phải lúc nào cũng thành công Chính phủ có chức năng thiết lập khuôn khổ pháp luật, đưa ra các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách phân phối lại thu nhập, đại diện quốc gia trên trường quốc tế

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w