1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tính chất hóa học của dầu dừa dầu dừa tinh khiết

20 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 561,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dầu thương mại cũng bị thủy phân và các axit béo chuỗi ngắn được chưng cất phân đoạn thành sản phẩm cuối cùng có độ tinh khiết khác nhau, khi kết thúc một lượng lớn được chuyển thành rượ

Trang 1

TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA DẦU DỪA

Giới thiệu

Dầu dừa đã được sử dụng rộng rãi cho mục đích để ăn và không ăn ở tất cả các nơi trên thế giới Các ngành công nghiệp chất tẩy rửa chủ yếu phụ thuộc dầu dừa và dầu cọ do chứa axit lauric Đây là một trong các loại dầu tự nhiên hấp dẫn nhất trên thế giới, sử dụng dầu không ăn trong các loại mứt, bánh kẹo, sản phẩm chiên nhiều dầu Điều này là do nó có 2 đặc điểm riêng biệt là mức độ bão hòa cao và ổn định tốt Về vật lý, dầu dừa cứng và giòn ở nhiệt độ thấp, nhưng nóng chảy nhanh dưới 30o

C Dầu thương mại cũng bị thủy phân và các axit béo chuỗi ngắn được chưng cất phân đoạn thành sản phẩm cuối cùng có độ tinh khiết khác nhau, khi kết thúc một lượng lớn được chuyển thành rượu, amid , và este chuyên sử dụng trong chất tẩy rửa , chất dẻo vv Tuy nhiên , dầu chưa tinh luyện thu hồi từ cơm dừa có mùi hôi do các chất dễ bay hơi, bao gồm axit béo tự do và chất bẩn khác Các bước được thực hiện để làm sạch dầu dừa thô thành một loại dầu chấp nhận ăn được Bao gồm cả phương pháp tách hóa học và vật lý Các phương pháp tinh luyện dầu thô truyền thống trải qua bốn giai đoạn: loại gum , trung hòa, tẩy trắng và khử mùi Các bước truyền thống này đã được sửa đổi để nâng cao năng suất, loại bỏ các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh từ các cặn dầu và giảm chi phí của toàn bộ hoạt động

Sự ra đời của lọc vật lý trên một quy mô lớn để tinh luyện dầu cọ thấp từ gum và các axit béo tự do cao ở Malaysia khuyến khích sự quan tâm trong việc áp dụng kỹ thuật này cho các loại dầu khác như dầu dừa thô do thành phần hóa học tương tự dầu cọ Các nghiên cứu sau đó có thể từ tinh luyện vật lí và hóa học cho các loại dầu khác

Thành phần của dầu dừa thô bao gồm các triacylglycerol, các axit béo tự do, một phần glycerides, phospholipid, sterol, tocopherols, sắc tố, chất dễ bay hơi, các kim loại vi lượng và các sản phẩm oxy hóa Các triglycerols trong dầu dừa thô là thành phần chính chiếm 95% Đây là những thành phần mà chúng tôi muốn lọc sạch mà không loại bỏ tất cả các thành phần có ích nhỏ Vật liệu

có thể được loại bỏ bao gồm các axit béo tự do, phospholipid, sắc tố, kim loại, các sản phẩm của quá trình oxy hóa và các tạp chất chứa protein Những tạp chất có thể chấp nhận vì chúng tạo màu sắc cho dầu, tạo bọt, khói và kết tủa khi dầu được nung nóng trong hoạt động chế biến tiếp theo Điều quan trọng trong việc làm sạch là việc loại bỏ các tạp chất có ảnh hưởng xấu mà không mất mát đáng kể hoặc thiệt hại cho chất béo trung tính và tocopherols đó là những chất chống oxy hóa tự nhiên

Trang 2

Tinh luyện hóa học và tinh luyện vật lý là 2 phương pháp phổ biến của tinhcluyện dầu thô ở hầu hết các nơi trên thế giới Tinh luyện hóa học liên quan đến việc loại bỏ các axit béo và các tạp chất khác bằng các tác nhân hóa học như natri hydroxit Quá trình này gây thiệt hại đáng kể của dầu trong nhũ tương và tách ly không đầy đủ bằng cách ly tâm cũng như các vấn đề ô nhiễm môi trường

do các muối còn lại sau quá trình axit hóa của cặn dầu để thu hồi lại các axit béo Tinh luyện vật lý hoặc hơi nước đưa ra một giải pháp cho những vấn đề là loại bỏ các axit béo tự do và các chất bay hơi và mùi khác bằng hơi tẩy trong một đơn vị duy nhất Axit béo tự do có thể được thu hồi ở dạng tinh khiết Tuy nhiên, tiền xử lý là quá trình cần cho tinh luyện vật lý để loại bỏ một số tạp chất Tinh luyện vật lý đã thay thế các kỹ thuật tinh luyện hóa cũ để tinh luyện dầu dừa thô trong hầu hết các nhà máy lọc dầu

Khi dầu dừa thô được chế biến bằng tinh luyện vật lý và tinh luyện hóa học, thì có sự so sánh giữa 2 phương pháp này, nó sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà máy lọc dầu để quyết định lựa chọn tốt nhất, bởi vì điều quan trọng là để đảm bảo rằng tránh những tác động có hại lên thành phần dầu và tính chất hóa học và tính chất vật lý của dầu

Tính xác thực của một loại dầu dùng để ăn có thể được thiết lập nếu chúng ta có kiến thức về thành phần và tính chất của dầu Cơ quan chính phủ và các nhà dinh dưỡng dựa trên các thông tin mới nhất về các thành phần của dầu thực vật khi họ muốn xem xét chế độ ăn của người tiêu dùng Giả mạo là một vấn đề phải đối mặt của buôn bán dầu và chất béo Việc phát hiện giả mạo nó là cần thiết để phát triển các xét nghiệm nhất định để thấy các đặc trưng cho các loại dầu và chất béo Một

số đặc điểm, giúp để xác định dầu và chất béo, bao gồm giá trị i-ốt, để đưa ra một biện pháp không bão hòa của một loại dầu, giá trị xà phòng hóa, khi đó đưa ra trọng lượng trung bình phân tử của thành phần các axit béo, sự sắp xếp số carbon của thành phần acid béo và triacylglycerol mà cụ thể cho từng loại dầu ăn được Thành phần tocopherol và sterol cũng có thể hữu ích để truy nguyên nguồn gốc của một loại dầu Rossell et al (1985) đã nghiên cứu đặc điểm tinh khiết của các loại dầu thực vật ăn chủ yếu là dầu dừa, từ các nước có nguồn gốc khác nhau Họ đã kiểm tra bốn trăm mẫu dầu thực thu được từ các nguồn đáng tin cậy và phân tích axit béo, triacylglycerol, sterol và thành phần tocopherol Họ đã thành lập tiêu chuẩn độ tinh khiết mới, có thể được sử dụng như một tiêu chuẩn để kiểm tra độ tinh khiết của mẫu dầu nghi ngờ bị pha trộn (Rossell et al 1985 và Rossell et

al 1983)

Tính chất vật lý của một loại dầu hoặc chất béo có tầm quan trọng trong việc xác định mục đích sử dụng của nó Điều này đặc biệt đúng với số lượng lớn và đa dạng của các loại dầu và chất

Trang 3

béo được sử dụng trong các hình thức khác nhau như thực phẩm Dầu và chất béo là hỗn hợp của pha lỏng và rắn gồm các triacylglycerol Các nhà vật lý thay đổi từ thể lỏng sang lỏng hơi sệt rồi đến rắn dẻo và cuối cùng là một chất rắn giòn Những tính năng này làm cho tính chất vật lý của chúng đặc biệt quan tâm và đã dẫn đến việc sử dụng chúng trong một loạt các ứng dụng vật lý

Dầu dừa hoặc chất béo khác không laurics ở trong có chứa 46-50% axit lauric, cùng với một lượng nhỏ các axit béo chuỗi trung bình và chuỗi ngắn Mặc dù nó nóng chảy dưới 30o

C, nhưng nó vẫn rắn ở nhiệt độ lạnh Phạm vi nóng chảy ngắn của dầu tự nhiên (dầu không bị biến tính) ngắn, làm cho dầu thích hợp cho việc sản xuất một loạt các loại thực phẩm béo

Tuy nhiên, hàm lượng chất rắn ở nhiệt độ phòng là hơi thấp thích hợp cho sản xuất chất phủ bên ngoài và lớp socola bọc ngoài kem, kẹo Hạn chế này có thể được khắc phục bằng cách kết tinh phân đoạn và phân tách các thành phần của stearin thì khó khăn hơn và olein thì dễ hơn Các stearin khó có thể được đưa vào sử dụng trong công nghiệp sản xuất chất phủ bên ngoài và lớp socola bọc ngoài kem, kẹo

Trạng thái kết tinh của dầu ăn được rất quan trọng, chúng khác nhau rất lớn bao gồm việc sản xuất bánh kẹo, magarines, bơ mứt và bánh mì Dầu dừa hoặc dầu dừa biến tính được áp dụng phổ biến trong một số sản phẩm thực phẩm như làm đầy các loại kem trong bánh quy và chất phủ hương chocoolate trong đó cách kết tinh của nó là quan trọng Mức độ ảnh hưởng của acid béo đến

sự kết tinh của dầu dừa phụ thuộc vào độ đồng nhất của acid béo Acid oleic và acid lauric ảnh hưởng lớn đến việc làm chậm sự hình thành nhân trong thể rắn Phospholipid là thành phần thứ yếu của dầu dừa, được tìm thấy từ việc kéo dài giai đoạn kết tinh của dầu dừa ở 15oC, tăng giai đoạn làm chậm từ 8 phút đến 27 phút Cả acid béo tự do và phospholipid đều được loại bỏ qua giai đoạn tinh luyện và những ảnh hưởng của thành phần nhỏ không mong muốn cũng liên quan đến trạng thái kết tinh

Khi đặt dầu dừa trong môi trường khí quyển thì làm giảm tính ổn định chống oxy hóa của dầu dừa Dầu dừa khác với dầu thực vật, nó chứa acid béo tự do bão hòa cao (90%) Tuy nhiên, việc chế biến có thể ảnh hưởng đến tính ổn định của dầu Phospholipid là thành phần thứ yếu của dầu dừa thô, nó ảnh hưởng đến độ bền của dầu và chất béo Phospholipid được loại bỏ ở giai đoạn đầu của quá trình tinh luyện làm giảm tính ổn định của dầu dừa và ít ảnh hưởng đến thành phần của dầu

Tính ổn định của dầu dừa giảm bởi sự có mặt của thành phần đồng và sắt Tính ổn định của tocopherol trong dầu dừa bị ảnh hưởng trong quá trình chế biến Một vài tocopherol bị loại bỏ trong

Trang 4

quá trình chế biến và vì thế góp phần làm mất đi tính ổn định của dầu dừa do bị oxy hóa Acid citric

và acid phosphoric ảnh hưởng đến sự ổn định của dầu dừa do tính chất tạo keo làm giảm ảnh hưởng oxy hóa kim loại như đồng và sắt

Thành phần hóa học của dầu dừa thô

Thành phần của dầu dừa thô quyết định sự khác nhau của công việc, phương pháp khác nhau

ở phòng thí nghiệm Đó là biến đổi nhẹ của thành phần gián tiếp lên dữ liệu Thành phần chủ yếu của dầu dừa thô là rất quan trọng và ảnh hưởng tính đặc trưng của dầu, các thành phần như:

a Triacylglycerols

b Acid béo

c Phospholipids

d Tocopherols

e Trace metals

f Sterols

g Chất bay hơi

h Mono-and di-acylglycerols

Nhiều tính chất để phân biệt dầu dừa với dầu thường có thể là số lượng cao của chuỗi acid béo ngắn và số ít chuỗi dài Mặc dù được gọi là một loại dầu, dầu dừa đặc lại ở nhiệt độ môi trường ở các nước ôn đới Điểm nóng chảy của nó thường là trong khoảng 24o

C -27oC và điểm đông đặc của

nó khoảng thấp hơn 5oC Mặc dù điểm nóng chảy của dầu dừa thấp không liên quan đên mức độ không bão hòa cao như trong trường hợp của dầu thực vật, nhưng trọng lượng phân tử trung bình glyceride của nó thấp

Các tính chất vật lý của dầu dừa không giống như hầu hết các chất béo khác, cả tự nhiên và hydro hóa, nó không thể hiện sự mềm hóa khi nhiệt độ tăng lên, nhưng thay đổi ngột từ một chất rắn giòn sang chất lỏng, trong một phạm vi nhiệt độ hẹp Ở khía cạnh này, nó giống như bơ ca cao Các trạng thái tan chảy đặc trưng của dầu dừa là một kết quả của thành phần axit béo và triacylglycerol

Khoảng 90% các axit béo trong dầu dừa là bão hòa và chủ yếu bao gồm lauric, myristic và acid palmitic thì axit lauric chiếm ưu thế hơn hẳn ( 47,5 % ), như thể hiện trong bảng 1 ( Rossell 1985) Những axit này nóng chảy tương ứng ở 44o, 54o, 63o Sự khác biệt giữa điểm nóng chảy của các axit chính chỉ ở 19oC Mặt khác, các axit béo chủ yếu của chất béo có trọng lượng phân tử cao thường là acid linoleic, oleic, palmitic và stearic, mà nóng chảy khoảng -7oC đến 70o

C khác với ở

Trang 5

77oC Phạm vi nóng chảy của các axit béo dừa tương đối hẹp được phản ánh bởi khoảng nóng chảy hẹp của triacylglycerol và chủ yếu trong phạm vi hạn chế tạo hình sau này

Bảng 1: Thành phần acid béo của dầu dừa (%wt) (Rosell 1985)

Triacylglycerol là thành phần cấu tạo chính của dầu dừa chiếm hơn 95% Nó là esters của glycerol với 3 acid béo Chưng cất phân đoạn triacylglycerol bằng phương pháp sắc kí lỏng (GLC)

sẽ lộ ra 14 nhóm dựa trên số carbon từ 28-54 (Rossell 1985) Với thành phần acid béo của mỗi nhóm, nó có thể tính toán được thành phần của 79 loại triacylglycerol Mỗi nhóm có 1 loại triacylglycerol chủ yếu Ví dụ, nhóm có số 36 carbon có 52% trilaurin (Bezard 1971) Bảng 2 biểu diễn thành phần của triacylglycerol của từng số carbon trong dầu dừa (Rossell 1985)

Nhìn bên ngoài , triacetylglycerol chủ yếu trong dầu dừa gồm trilaurin (C36), chiếm 19%), dilaurylcaprylglycerol (C34) và dilaurylmyristylglycerol (C38) chiếm 16 % mỗi loại và lauryldicaprylglycerol (C32) và lauryldimyristylglycerol (C40) chiếm 10% mỗi loại

Trang 6

Bảng 2 Thành phần triacylglycerol (wt %) ứng số carbon trong dầu dừa (Rossell 1985)

Số carbon (CN) Khoảng giá trị (%) Giá trị trung bình (%)

CN 28

CN 30

CN 32

CN 34

CN 36

CN 38

CN 40

CN 42

CN 44

CN 46

CN 48

CN 50

CN 52

CN 54

0.7-1.0 2.8-4.1 11.5-14.4 15.6-17.6 18.3-19.8 151.-17.7 9.2-11.1 6.5-8.0 3.6-4.6 2.1-3.0 1.6-2.6 0.8-2.0 0.4-2.0 0.1-1.5

0.8 3.4 12.9 16.5 18.8 16.3 10.2 7.3 4.2 2.6 2.3 1.7 1.6 1.2

Dầu dừa thô có liên quan với lượng phospholipids thấp (0.2%) khi so với các loại dầu thực vật

là 1-3% Thành phần chính của phospholipids gồm phosphatidylcholine (34.6% tổng phospholipid), phosphatidylethanolamine (24.6%) và phosphatidylnositol (19.0%) được trình bày ở bảng 3 Phospholipids được tìm thấy trong hầu hết các chất béo tự nhiên nhưng số lượng và các thành phần khác phụ thuộc vào nguồn của chất béo Phospholipids thường loại bỏ trong quá trình tinh luyện dầu thực vật Giai đoạn loại gum trong dầu đậu nành thì phosphilipids còn lại 2-3% Nó được tìm thấy như 1 chất nhũ hóa tốt và được bán như lecithin thương mại (tên thường gọi là phosphatidylcholine) được sử dụng trong margarines, pha chế, shortening khi muốn hòa tan chất béo

Tocopherol là chất chống oxy hóa tự nhiên tìm thấy trong hầu hết dầu thực vật Sự có mặt của

nó trong dầu dừa thô nhằm ổn định dầu bị oxy hóa bởi không khí Dầu dừa có hàm lượng tocopherol thấp khoảng 50ppm (Taylor 1981) Young (1983) phản hồi rằng sự kết hợp giữa tocopherol và tocotrienol của dầu dừa nằm khoảng 40-100ppm, nhưng chúng vẫn quan trọng để bảo vệ Có sự nhầm lẫn trong các tài liệu về sự hiện diện tocopherol chính trong dầu

Trang 7

Bảng 3 Thành phần phospholipid của dầu dừa (Krishnamurthy 1983)

Phospholipids % tổng phospholipids Phosphatidylcholine (Lecithin)

Phosphatidylethanolamine Phosphatidylinositol Phosphatidylserine Lysophosphatidylcholine Lysophosphatidylethanolamine Phosphatidic acid

Unidentified (nguồn gốc)

34.6 24.6 19.0 4.8 4.6 3.4 2.5 6.5 Theo Taylor (1981), tocopherol chính hiện diện gồm tocotrienol 80%, tocopherol 10% và alpha-tocopherol 10% Muller-Mulot (1976) tìm thấy sự tập trung của gamma-tocopherol và alpha-tocotrienol trong dầu dừa tương ứng là 2.4ppm và 20 ppm Mức độ gamma-tocopherol trong dầu dừa thấp phản ánh mức độ bảo vệ thấp của dầu dừa Điều này biểu lộ rõ khi phân tích thành phần của acid béo, trong đó acid béo không bão hòa trong dầu dừa chỉ khoảng 10% tổng acid béo

1 phản hồi khác phát biểu rằng tổng toocopherol của dầu dừa thô là 28 ppm, nhưng trong đó alpha-tocopherol 21 ppm (75%) (Lambertsen et al.1962) những người công nhân phản hồi các giá trị khác sẽ là nguyên nhân khác nhau của phương pháp phân tích Tuy nhiên, phương pháp cuối cùng và hầu như chính xác nhất cho việc phân tích tocopherol là dựa vào sắc kí lỏng cao áp (HPLC) (Taylor 1981)

Mức dấu vết của các ion kim loại trong các loại dầu ăn được cũng được biết đến là có tác dụng

có hại nghiêm trọng đến sự ổn định của các loại dầu Sự có mặt của ion kim loại như đồng và sắt có oxy hóa cao, sẽ làm giảm tính ổn định của dầu Đồng và sắt có thể hình thành từ nguồn tự nhiên hoặc thêm vào trong quá trình chiết xuất dầu từ cơm dừa Giá trị bình thường của đồng và sắt không lớn hơn 0.2 ppm và 2 ppm, nó được tìm thấy trong dầu dừa thô (Young 1983) Nồng độ dự kiến của đồng và sắt trong dầu có chất lượng tốt thường khoảng 0.02-0.2 ppm và 2-5 ppm

Trang 8

Bảng 4 Sterol trong dầu dừa ( biểu diễn theo tổng diện tích đỉnh)

Sterols % tổng diện tích đỉnh Tài liệu tham khảo

Total

Cholesterol

β-Sitosterol

Stigmasterol

5

-Avenasterol

Campesterol

7

-Stigmasterol

Brassicasterol

100 Trace-2.0 43.4-70.4 13.0-20.0 4.7-25.6 7.1-8.4 Trace-6.0 0-trace

Kochhar,1983

Sterol dầu dừa thô có thể 100 mg/100g được phản hổi bởi Masson (1981) Giá trị này thấp hơn

1 vài loại chất béo và dầu khác 150-700 mg/100g (Masson 1981) Các sterol chủ yếu trong dầu dừa thô được trình bày ở bảng 4 (Kochhar 1983)

β-Sitosterol là thành phần chính của sterol, có thể lên đến 70.4% tổng diện tích đỉnh của phân

bố sterol Quan sát cũng thấy tỉ lệ đáng kể của Stigmasterol, 5

-Avenasterol và Campesterol có mặt trong sterol Fedei (1966) xác nhận sự có mặt của Stigmasterol, 5

-Avenasterol và Campesterol Mức Cholesterol chỉ tìm thấy 1 lượng nhỏ trong dầu dừa

Dầu dừa thô chứa khoảng 900 ppm hợp chất bay hơi 2 nhóm bay hơi được đồng nhất hóa trong dầu dừa thô chưa gia nhiệt 1965 bởi Allen Nó là methyl ketone của carbon mang số lẻ từ

CN-7 đến CN-15 và -lactones có số carbon từ CN-6 đến CN-14 (Bảng 5)

Ketones trong dầu thô là kết quả của phân hủy sinh học của acid béo của dầu, nó xảy ra trước khi dầu được ép hoặc tinh luyện (Stokoe 1928) Điều này được xác nhận khi phân tích dầu từ dừa tươi cho thấy sự vắng mặt của ketone (Bảng 5) Lactones trong dầu dừa thô phụ trách về hương và

vị của dừa Bảng 5 cho thấy sự có mặt của lượng đáng kể lactones thu được trong cả 2 loại dầu từ cơm dừa tươi và cơm dừa chín Tuy nhiên, khi dầu dừa thô được gia nhiệt điều kiện chân không, lượng bay hơi (ketones và lactones) tăng

Trang 9

Bảng 5 Hợp chất bay hơi trong dầu dừa thô (Allen 1965)

Hợp chất bay hơi Dầu dừa thô từ com dừa

chín (ppm)

Dầu từ cơm dừa tươi (ppm)

Ketones

Heptan-2-one

Nonan-2-2one

Undecan-2-one

Tridecan-2-one

Pentadecan-2-one

-lactones

Hexalactone

Octalctone

Decalactone

Dodecalactone

tetradecalactone

40

73

290

138 65-

20

51

97

60

30

-

-

<1

<1

-

27

64

88

65

20

Nó là 1 phần của glycerides, monoacylglycerols và diacylglycerols có thể chịu ảnh hưởng của tính chất vật lí của dầu ăn được Ester hóa dầu cọ với glycerol, tạo hỗn hợp triacylglycerols và diacylglycerol, kết quả là làm tăng thành phần rắn ở 20oC và xu hướng hình thành tinh thể β-phase

1 phần glyceride ảnh hưởng cấu trúc tinh thể của chất béo ăn được được làm sáng tỏ trong tương lai bởi Hernquist (1981) 1,2-diacylglycerols ổn định cấu trúc tinh thể β’ của dầu cải

1 phần glycerides được dùng để đo lượng dầu dừa thô Monoacylglycerols và diacylglycerols tương ứng khoảng 2.9-7.2% và 1.0-7.0%

Kết luận

Dầu dừa có nhiều lợi ích Dầu được sử dụng để ăn hoặc không dùng để ăn Chất hóa học của dầu đã được nghiên cứu chuyên sâu và rất nhiều các nghiên cứu vẫn đang được tiến hành ở các nước khác nhau Dầu dừa sở hữu đặc tính tốt như sự ổn định cho quá trình oxy hóa do mức độ cao của sự

Trang 10

bão hòa của axit béo của nó Dầu dừa chứa lượng nhỏ Cholesterol và lượng lớn acid béo chuỗi trung bình

DẦU DỪA TINH KHIẾT: DẦU THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

ĐANG NỔI

Dầu dừa tinh khiết (VCO) đang ngày càng phổ biến như dầu thực phẩm chức năng và nhận thức của người dân về nó ngày càng tăng Dự kiến rằng VCO sẽ trải qua một sự phát triển đáng kể trong thị trường Sự ra đời của VCO mở ra các nghiên cứu mới cho thấy rằng những điều mới về cơ bản bên cạnh những gì đã được biết đến về dầu dừa thương mại Bài viết này chủ yếu thảo luận về một số những phát hiện cập nhật liên quan với VCO: Tính chất hóa lý, hoạt động chống oxy hóa, các nghiên cứu lâm sàng và chứng thực của VCO là một trong số những chủ đề được đề cập trong đánh giá này

Giới thiệu

Dầu dừa được sử dụng rộng rãi cho các thực phẩm và các mục đích công nghiệp Dầu giàu các axit béo chuỗi trung bình (ABctb) và có khả năng tiêu hóa tốt (Che Man & Marina, 2006) Các phương pháp khác nhau đã được phát triển để trích xuất dầu dừa, hoặc thông qua chế biến khô hoặc ướt Chế biến khô là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất trong chiết xuất Làm sạch dừa và ép cơm dừa bởi máy ép thủy lực, các loại máy ép dầu dừa khác để có được dầu dừa, sau đó đi qua quy trình RBD gồm tinh luyện, khử màu, và khử mùi Dầu dừa được ép từ cơm dừa khô truyền thống Dầu dừa từ cơm dừa khô truyền thống cần phải được tinh luyện, khử màu, khử mùi mới có thể dùng làm dầu ăn Trong quá trình RBD, quá trình gia nhiệt được áp dụng đặc biệt trong suốt quá trình khử mùi, được thực hiện ở nhiệt độ cao giữa 204 và 245oC (O'Brien, 2004) Các ngành công nghiệp cơm dừa khô cũng phải đối mặt với một số vấn đề như nhiễm aflatoxin trong cơm dừa và sự hiện diện của các axit béo tự do cao do độ ẩm cao (Guarte, Muhlbauer, & Kellert, 1996)

Gần đây, có một xu hướng sản xuất dầu dừa mà không phải trải qua quá trình RBD Thay vì quá trình xử lý khô bình thường, dầu này được thu được bằng cách xử lý ướt đòi hỏi phải chiết xuất kem

từ nước cốt dừa tươi và do đó phá vỡ các lớp nhũ tương kem Quá trình này được mong muốn nhiều hơn vì không có hóa chất hoặc xử lý nhiệt cao áp dụng với dầu Dầu dừa được sản xuất thông qua các phương pháp ướt được biết đến như là dầu dừa tinh khiết (VCO)

VCO được đề cập đến là một loại dầu thu được từ quả dừa tươi, chín bằng phương pháp cơ học hoặc

tự nhiên, có hoặc không có sử dụng nhiệt và không trải qua tinh luyện hóa mà có được (Villarino,

Dy, & Lizada, 2007) Không giống như dầu dừa RBD, VCO thích hợp cho nấu ăn và gần đây được bán trên thị trường như 1 dầu chức năng Kể từ lần đầu được giới thiệu, dầu dừa tinh khiết đã chiếm được sự chú ý của đa số người dân Các đặc tính có lợi của VCO đang nhanh chóng lan rộng Tính khả dụng của VCO đang gia tăng tại các thị trường đặc biệt là ở Đông Nam Á như Philippine, Thái Lan, Indonesia và Malaysia

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w