Thắng lợi của Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợpcủa cả dân tộc; là minh chứng hùng hồn, khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của quầnchúng nhân dân tron
Trang 1Câu 1: Trình bày những nhân tố làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám Trong các nhân tố đó, nhân tố nào là quan trọng nhất? Tại sao?
Trả lời:
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại, mở ra bước ngoặt lớn trong lịch
sử dân tộc Việt Nam Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tá đã phá tan hai tầng xiềng xích
nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại gần một nghìn năm Việt Nam từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, một kỉ
nguyên mới của lịch sử dân tộc ta đã mở ra - kỉ nguyên độc lập và tự do
Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi là sự kết tinh của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố chủ quan và khách quan:
I Nguyên nhân khách quan: Hoàn cảnh quốc tế thuận lợi
Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định Chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối Hồng quân XôViết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạtnước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin Ngày 9-5-1945, phát xít Đứcđầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên
Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vôđiều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc Theo thỏa thuận của các nước Đồngminh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương đểgiải giáp quân đội Nhật Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòngkhôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàngcan thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền taysai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng
Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao.Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp Ngay trong đêm đó, Hộinghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạnglàm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức vàđấu tranh cho thích hợp Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn
Trang 2nhau và hành động của chúng ta” Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sựcách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũtrang thành Việt Nam giải phóng quân Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổchức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dântộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam
Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú vềnội dung và hình thức Đầu tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọnTân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân Ngày 4-6-
1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huylâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước Tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốccủa Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độclập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xítNhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảođảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời 23 giờ ngày 13-8-
1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa Ngày 8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”;thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộcgiải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ:
16-“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đemsức ta mà tự giải phóng cho ta”
II Nguyên nhân chủ quan:
1 Truyền thống yêu nước – Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn từnhững tình cảm rất đơn sơ, bình dị trong gia đình, làng xã và rộng hơn là tình yêu Tổquốc Với vị trí địa lý là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, có nguồn tài nguyênthiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia Trongtiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua thời gian dài chống giặcngoại xâm, bảo vệ đất nước Lịch sử thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương kiêntrung, bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Từ Bà Triệu “Tôi chỉ muốn cưỡi cơngió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựngnền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”; Trần BìnhTrọng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; Nguyễn Huệ
“Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho
Trang 3nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… đến Bế VănĐàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, NguyễnViết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù! Bắn!”… Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độclập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảngtinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giátrị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻthù, xứng đáng với lời ngợi ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân ta có một lòng nồng nànyêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bịxâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,
nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướpnước” Sức mạnh đó chính là mạch nguồn của thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám(1945)
Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi nhờ sự phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn
kết Thành công, thành công, đại thành công” Tư tưởng Đoàn kết của Người được xâydựng trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân và quyền thiêngliêng của con người; tin vào dân, dựa vào dân “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạnlần dân liệu cũng xong”, “lấy dân làm gốc”, phấn đấu vì quyền lợi của dân Và chính tưtưởng ấy đã quy tụ, tạo sức mạnh quật khởi để dân tộc Việt Nam làm nên cuộc Cáchmạng Tháng Tám năm 1945 và đánh bại mọi kẻ thù xâm lược
Thắng lợi của Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợpcủa cả dân tộc; là minh chứng hùng hồn, khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của quầnchúng nhân dân trong cách mạng, với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quầnchúng phù hợp, hoạt động hiệu quả; là kết quả về sự đồng thuận, đồng lòng trong nhândân, với tinh thần tự lực, tự cường nhất tề nổi dậy giành chính quyền về tay mình
2 Sự chuẩn bị kĩ lưỡng 15 năm của Đảng và nhân dân ta
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầutiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi, góp phần cùngĐồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-xít, kết thúc cuộc chiến tranh thếgiới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân loại Cách mạng Tháng Tám còn gópphần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên độclập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới
Trang 4Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thành công là do Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng ta đã đứng trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng một cách sáng tạo
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam, nêu cao ngọn cờ độc lậpdân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc và dũng khíđấu tranh anh hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam Nói cách khác, là do Đảng ta đãbiết kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn tính giai cấp với tính dân tộc của cuộc cách mạng
Do chưa nhận thức được tính tất yếu trong mối quan hệ giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dântộc của Cách mạng Tháng Tám nên một số học giả nước ngoài đã không thấy hết vai tròlãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Họ cho rằng, cuộc cách mạng này nổ
ra là do có "sự ăn may", do lúc đó ở Đông Dương có "khoảng trống quyền lực" (Phápchạy, Nhật hàng, quân Đồng minh chưa tới) nên Việt Minh mới dễ dàng giành thắng lợi.Một sự thật hiển nhiên mà nhiều nhà khoa học đã chứng minh là, trong hơn 80 năm đấutranh chống thực dân Pháp, hàng chục cuộc đấu tranh vũ trang oanh liệt của nhân dânViệt Nam nổ ra nhưng vẫn chưa giành được thắng lợi Nguyên nhân chủ yếu là do cáccuộc đấu tranh đó chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạngsoi đường, cũng như chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giànhthắng lợi trước những kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít
Nhưng, còn một sự thật lịch sử nữa phải được làm rõ là, muốn đưa cách mạng đến thànhcông, không chỉ cần có một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mà còn cần có mộtđảng biết vượt qua bao thử thách, gay go, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, rút ranhững bài học kinh nghiệm để từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược.Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác nhận, để đi đến thành công của Cách mạngTháng Tám, Đảng phảicó quá trình chuẩn bị kĩ lưỡng suốt 15 năm, trải qua ba cuộc vậnđộng cách mạng khó khăn, gian khổ Đó là phong trào cách mạng 1930- 1931, 1936-1939
và 1939-1945
Cuộc vận động những năm (1930 - 1935), mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết
Nghệ Tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng(1932 - 1935)
Cao trào cách mạng 1930-1931 không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả tấtyếu của các điều kiện khách quan và chủ quan trong đời sống xã hội của nước ta lúc đó.Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã thúc đẩy thực dân Pháp tăng cường cấu kết vớithế lực phong kiến thuộc địa ra sức bóc lột nhân dân Việt Nam và đẩy đời sống của toànthể nhân dân lâm vào tình trạng cùng cực; buộc nhân dân ta vùng dậy đấu tranh chốngbọn thực dân đế quốc và phong kiến thuộc địa
Trang 5Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một phong trào cách mạng đầu tiên do Đảng Cộngsản tổ chức và lãnh đạo Đó là một phong trào cách mạng triệt để, diễn ra trên qui môrộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phongphú và quyết liệt Đây là một bước phát triển nhảy vọt về chất so với những phong tràoyêu nước trước kia.
Mặc dù cuối cùng bị kẻ thù dìm trong biển máu nhưng phong trào vẫn có ý nghĩa to lớn:Thứ nhất, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và quyền lãnh đạo cách mạng củagiai cấp công nhân Qua thực tiễn đấu tranh, quần chúng nhân dân tin vào sự lãnh đạo củaĐảng Thứ hai, khẳng định vai trò của khối liên minh công nông Công nhân, nông dân
đã đoàn kết đấu tranh và tin vào sức mạnh của chính mình Thứ ba, Đội ngũ cán bộ vàđảng viên và quần chúng yêu nước được tôi luyện và trưởng thành Phong trào đã rènluyện lực lượng cho cách mạng về sau Thứ tư, phong trài được đánh giá cao trong phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế Quốc tế cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sảnĐông Dương là bộ phận độc lập, trực thuộc quốc tế cộng sản Đây là bước thắng lợi đầutiên có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển về sau của cách mạng Việt Nam Nếukhông có phong trào cách mạng 1930 – 1931, trong đó quần chúng công, nông đã vung ramột nghị lực cách mạng phi thường thì không thể có thắng lợi của phong trào dân chủ
1936 – 1939 và Cách mạng Tháng Tám
Phong trào để lại cho Đảng nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về công tác tư tưởng, vềchỉ đạo chiến lược, về xây dựng khối liên minh công nông và mặt trận dân tộc thống nhất,
về tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Cuộc vận động những năm (1936 - 1939), với cao trào Mặt trận Dân chủ năm
1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặngđường mới
Những phong trào đấu tranh tiêu biểu trong cao trào này:
– Phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ: Từ giữa những năm 1936 được tinQuốc hội Pháp cử phái đoàn điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương vận độngcác tầng lớp nhân dân hội họp, thảo ra bản “dân nguyện” để gửi tới phái đoàn, tiến tớitriệu tập Đông Dương đại hội vào tháng 8/1936 Lợi dụng sự kiện Gô-đa sang điều tratình hình và Brêviê nhận chức toàn quyền Đông Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít-tinh, đón rước, biểu dương lực lượng, đưa yêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ
Trang 6Trong những năm 1937 – 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân dân diễn ra sôi nổi.Nhiều hình thức tổ chức quần chúng ra đời như Hội cứu tế bình dân, Hội truyền bá Quốcngữ Đặc biệt là ngày 1/5/1938, lần đầu tiên trong ngày quốc tế lao động nhiều cuộc míttinh được tổ chức ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều nơi khác, thu hút đông đảo quần chúngtham gia.
– Phong trào đấu tranh nghị trường: Đảng Cộng sản Đông Dương vận động đưa ngườicủa Mặt trận Dân chủ Đông Dương ra ứng cử vào các cơ quan: Viện Dân biểu Trung Kì(1937), Viện Dân biểu Bắc Kì, Hội đồng Kinh tế lí tài Đông Dương (1938) và Hội đồngQuản hạt Nam Kì (1939) Mục đích của phong trào này là mở rộng lực lượng của Mặttrận Dân chủ và vạch trần chính sách phản động của thực dân và tay sai, bênh vực quyềnlợi của đa số quần chúng nhân dân
– Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí: Đảng Cộng sản Đông Dương đã xuất bản nhiều tờ báocông khai: Tiền phong, Dân chúng, Lao động, Tin tức…, tuyên truyền, vận động quầnchúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đồng thời nhiều tác phẩm văn học hiện thực phêphán được xuất bản: Tắt đèn, Bước đường cùng… Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chígiúp cho quần chúng nhân dân được giác ngộ về đường lối cách mạng
Những cuộc phong trào đấu tranh trong thời kì này đã đem lại những ý nghĩa và bài họckinh nghiệm cho Đảng ta: Mặc dù khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), thếlực phản động thuộc địa đàn áp cách mạng Cuộc vận động dân chủ kết thúc, nhưng vẫn
có ý nghĩa lịch sử to lớn: Thứ nhất, quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện quathực tiễn đấu tranh, trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng Thứ hai, độingũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành Thứ ba, Đảng thêmtrưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quaybáu
Phong trào dân chủ 1936 – 1939 để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thốngnhất; về kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu trước mắt, về sử dụng các hình thứcđấu tranh…
Phong trào dân chủ 1936- 1939 là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởinghĩa tháng Tám sau này
Trang 7 Cuộc vận động những năm (1939 - 1945), Đảng đã sáng suốt phát triển cả lực
lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắtthời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa
Ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9-1939), Trung ương Đảng đã họpHội nghị lần thứ 6 (tháng 11-1939) để điều chỉnh chiến lược cách mạng với nội dung: Đặtnhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc lên hàng đầu Hội nghị quyếtđịnh thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, nhằm thu hút tất cả cácdân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo và các cá nhân yêu nước để đánh đổ đế quốc và taysai, dành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc ở Đông Dương Trung ương Đảng đã kịp thờichỉ đạo các tổ chức đảng và quần chúng nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật, chuyểnhướng hoạt động về nông thôn, tránh sự đàn áp khủng bố của kẻ thù
3 Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước:
Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã đề ra đượcđường lối chiến lược và sách lược đúng đắn dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam
a Xây dựng một Đảng Mác-Lênin có đường lối đúng đắn, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và bám rễ sâu trong quần chúng nhân dân
Cách mạng tháng Tám thắng lợi trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sáchlược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu và không ngừng được bổ sung, phát triển cho phùhợp với từng giai đoạn cách mạng Để xác định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc,Đảng đã dũng cảm vượt lên những khuôn mẫu giáo điều, trải qua một cuộc đấu tranh lâudài, có lúc rất gay gắt, từng bước vượt qua những khó khăn về vận dụng lý luận và nhậnthức thực tiễn nhằm xác định chính xác kẻ thù, nhiệm vụ chiến lược, đề ra chủ trương tậphợp lực lượng đúng đắn và phương pháp cách mạng khoa học, phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể ở một nước thuộc địa
Đảng luôn luôn tìm cách làm cho toàn bộ đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn củamình thông suốt, quán triệt xuống từng đảng viên và quần chúng cách mạng khôngngừng đấu tranh khắc phục các khuynh hướng "tả", manh động, bộc lộ lực lượng sớm vàkhuynh hướng hữu, thủ tiêu đấu tranh, dao động thoả hiệp Vào thời điểm lúc bấy giờ,mỗi đảng viên là một tấm gương sang cho toàn thể nhân dân noi theo Đảng luôn luônnêu cao ý chí kiên cường, bất khuất, căm thù địch, nêu cao khí tiết người cộng sản, lòngtrung thành với cách mạng, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ hy sinh Thực tế trong thời
Trang 8kì kháng chiến chống Pháp ấy, dân tộc ta đã sản sinh ra những chiến sĩ cộng sản kiêntrung bất khuất một lòng với sự nghiệp giải phóng dân tộc
Tổ chức Đảng được xây dựng phù hợp với tình hình hoạt động, bí mật, gọn nhẹ, số lượng
ít chất lượng cao, ăn sâu bám rễ trong xí nghiệp, đường phố và thôn xóm; trong sạch, tỉnhtáo và nghiêm ngặt đề phòng bọn chống Đảng, thường xuyên kiểm tra nội bộ Tổ chức tốtcăn cứ địa và khu an toàn của cơ quan lãnh đạo cũng là một điều kiện cơ bản bảo đảmcho phong trào phát triển liên tục Căn cứ địa cách mạng được xây dựng góp phần quantrọng trong việc bảo vệ lực lượng cách mạng, bảo vệ cán bộ đồng thời tạo điều kiện choĐảng nắm bắt tình hình kịp thời chỉ đạo cách mạng cùng với xây dựng lực lượng vũtrang, lực lượng cách mạng xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ
Các tờ báo của Đảng và của các đoàn thể cách mạng được tổ chức hoạt động tốt trongviệc truyền bá kiến thức và vận động quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến haytranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới Có thể kể đến những tờ báo tiêubiểu như: Thanh Niên, Bôn-sê-vích, Công Nông Binh, Thân Ái, Búa Liềm, tạp chí Cônghội Đỏ, Lao Động, Hầm Mỏ, Dân Cày, Giải Thoát; Sao Đỏ,… với nội dung là tập trungtuyên truyền chủ nghĩa cộng sản trong quần chúng, giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin, cổ động quần chúng lao động, trước hết là công nhân, tham gia đấu tranh và xâydựng tổ chức, bảo vệ quyền lợi thiết thực hàng ngày và đấu tranh cho sự nghiệp giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc… áo chí cách mạng giai đoạn 1939-1945 là nội dungchuyên đề thứ 4 có nội dung quán triệt các Nghị quyết của Đảng và chủ trương của Tổng
bộ Việt Minh, bám sát từng bước tiến triển của cách mạng, đóng một vai trò đặc biệtquan trọng trong việc chuẩn bị, tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi.Ngoài các tờ báo của Trung ương Đảng, các tổ chức đoàn thể ở hầu hết các địa phươngđều xuất bản báo bí mật, hình thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương xuống địaphương, từ tổ chức Đảng tới các tổ chức quần chúng Mạng lưới báo chí trung ương cùngvới hàng loạt các tờ báo ở địa phương đã đáp ứng tương đối kịp thời những yêu cầu củacán bộ đảng viên và các hội viên cứu quốc trong cao trào đấu tranh cách mạng
Hệ thống thông tin liên lạc từ trên xuống dưới là biện pháp hàng đầu bảo đảm sự thôngsuốt, quán triệt đường lối, bảo đảm thống nhất tư tưởng và hành động trong toàn Đảng vàtrong phong trào cách mạng
b Từ chỗ tiến hành song song hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, đến chỗ xác định
rõ nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc
Đây là cả một chặng đường chuyển biến nhận thức, đổi mới tư duy trong lịch sử dân tộc,chính vậy không hề đơn giản Trong luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930
Trang 9có đoạn: "Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh đấu đểđánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thựchành thổ địa cách mạng cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủnghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai mặt tranh đấu có liên lạc mậtthiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làmcách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được
đế quốc chủ nghĩa"
Phong trào đấu tranh của quần chúng năm 1930 - 1931 cũng nổi lên với khẩu hiệu "Đảthực, bài phong” Chuyển sang thời kỳ những năm 1936 - 1939, trước nguy cơ phát-xít,Đảng thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm kết hợp đấu tranh dân tộc vớiđấu tranh dân chủ để chống phát-xít Điều đó bước đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết toàndân, biểu hiện ở cuộc mít tinh đồ sộ với hơn hai vạn người tham dự ở nhà Đấu xảo HàNội, ngày 1-5-1938 Họ hô vang các khẩu hiệu đòi tự do lập hội ái hữu, nghiệp đoàn, đòithi hành triệt để luật lao động, đòi giảm thuế, chống phát xít , chống chiến tranh đế quốc,ủng hộ hòa bình và chống nạn sinh hoạt đắt đỏ
Đến giữa năm 1939, cuộc chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, các nước đế quốc xâu xé lẫnnhau, thời cơ giải phóng dân tộc sẽ đến Đảng thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhấtphản đế Đông Dương, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giảiphóng dân tộc, tạm thời hạ thấp khẩu hiệu phản phong
Tại Hội nghị Trung ương 6, họp từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939, Đảng ta chỉ rõ: "Cáchmệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền.Không giảiquyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế Trái lạikhông giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điềnđịa Hiện nay tình hình có đổi mới Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với áchthống trị phát-xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quantrọng…Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cảmọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy
mà giải quyết" Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đãdấy lên, tiêu biểu là ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương do các Đảng bộ ởnhững địa phương này lãnh đạo đã làm rung động bộ máy thực dân
Tháng 6-1941, Liên Xô tuyên chiến với Đức Sau đó, Đồng Minh quốc tế chống phát-xítgồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ ra đời Ở Việt Nam, thời cơ giải phóng dân tộc đangđến gần
Trang 10Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8 (họp ởPắc Bó, Cao Bằng).Tại Hội nghị này, Đảng đã hoàn thiện thêm một bước nữa việcchuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay khẩu hiệu "Phản đế" (của Hội nghị Trung ương 6)hay "Phản đế cứu quốc" (của Hội nghị Trung ương 7) bằng khẩu hiệu "Cứu quốc" Nghịquyết Hội nghị nêu rõ: "Chính sách của Đảng ta hiện nay là chính sách cứu quốc, cho nênmục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu Công hội từnay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy những người thợ Việt Nam muốntranh đấu đánh Pháp - Nhật, lại có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trongxưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức Nông hội từ nay gọi là Việt NamNông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốntranh đấu đuổi Pháp - Nhật" Đồng thời, Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế ĐôngDương chuyển thành ba mặt trận "cứu quốc" của ba dân tộc Việt, Miên, Lào.Ở Việt Nam,Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (tức Mặt trận cứu quốc, gọi tắt là Việt Minh) rađời Các đoàn thể cứu quốc phát triển rộng khắp cả ba kỳ Ngoài Công nhân cứu quốc,Nông dân cứu quốc, còn có Quân nhân (hay binh sỹ, du kích) cứu quốc, Thương gia cứuquốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong Như vậy, chiến lược cách mạng ngày càng được hoàn thiện và luôn đi đôi với những sáchlược cách mạng mềm dẻo, thêm bạn bớt thù (như thu hút cả cai ký, đốc công, phú nông,địa chủ chống Pháp - Nhật vào Mặt trận cứu quốc) Chiến lược, sách lược đó phù hợp vớiyêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, được cụ thể hoá trongChương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh Qua nhiều con đường bí mật và báncông khai, Chương trình thâm nhập vào đại chúng, tạo nên Cao trào tiền khởi nghĩa rộnglớn, rồi dẫn đến Tổng khởi nghĩa thành công (chứ không phải đó chỉ là phong trào "tựphát" của quần chúng như có người đã nói).
c Bố trí thế trận và sắp xếp lực lượng cách mạng phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử
Khi tình thế cách mạng có sự chuyển biến mau lẹ, đối tượng cách mạng luôn thay đổi,Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng một cách xuất sắc lýluận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào nhận thức xã hội Việt Nam để đề ra các quyết sáchchiến lược đúng đắn Đó là nhận thức rõ các mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếutrong xã hội, xác định rõ kẻ thù chính, kẻ thù phụ của cách mạng Việt Nam Cụ thể, lúcđầu mũi nhọn của cách mạng chĩa vào thực dân xâm lược Pháp và tay sai phong kiến.Khi Nhật vào Việt Nam, Pháp làm tay sai cho Nhật, kẻ thù chủ yếu của cách mạng làPháp - Nhật
Trang 11Từ năm 1943 trở đi, Nhật ngày càng lấn chân Pháp ở Việt Nam, kẻ thù chủ yếu của cáchmạng được xác định lại là Nhật - Pháp Từ ngày 9-3-1945 (ngày Pháp đầu hàng Nhật) trở
đi, kẻ thù chủ yếu của cách mạng chỉ còn là phát-xít Nhật và tay sai Điều này có tầmquan trọng rất lớn trong việc bố trí thế trận cách mạng và lực lượng cách mạng
Từ năm 1943, bên cạnh Mặt trận Việt Minh là lực lượng nòng cốt, Đảng còn thành lậpMặt trận Dân chủ chống phát-xít và tuyên bố gia nhập Đồng Minh quốc tế chống phát-xít Với sách lược này, ở trong nước có thể thu hút được các lực lượng dân chủ chốngphát-xít, kể cả Pháp kiều, Hoa kiều Ở ngoài nước có thể coi Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốcđều là bạn đồng minh
Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp từ ngày 25 đến ngày 28-2-1943 khẳngđịnh: "Từ Xô - Đức chiến tranh bùng nổ (22-6-1941), cuộc thế giới chiến tranh lần thứhai này đã tiến lên giai đoạn mới và đã thay đổi tính chất Nó không còn là đế quốc chủnghĩa chiến tranh nữa, mà là chiến tranh phát-xít xâm lược và chống phát-xít xâm lược"
Vì vậy, "Muốn cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát-xít Nhật - Pháp có thêm vâycánh, chúng ta phải ra sức tìm kiếm các phái đảng chống phát-xít của người ngoại quốc ởĐông Dương và đề nghị với Việt Minh liên minh với họ theo tinh thần bình đẳng vàtương trợ đặng chính thức thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương" Sách lược này tạo nên thế chính nghĩa cho Việt Minh trong sự nghiệp kháng Nhật, cứunước Khi giành được chính quyền từ tay phát-xít Nhật, cách mạng Việt Nam đã có thếhợp pháp là đứng vào hàng ngũ Đồng Minh chống phát-xít để ra Tuyên ngôn Độc lập vàtiếp đón quân Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật
d Thực thi phương châm chiến lược " kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang" , tiến từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa
Trong thế trận lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu địch mạnh, cách mạng Việt Nam vừa phát huytruyền thống vũ trang anh hùng, bất khuất của ông cha, vừa vận dụng hình thức đấu tranhchính trị của quần chúng Hình thức này đã nảy sinh từ cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930
- 1931) và phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939) Đến cuộc vận động cách mạngnhững năm 1939 - 1945, hình thức đấu tranh chính trị được vận dụng một cách phổ biếntrong đại chúng
Ngoài công, nông, còn vận động được cả tiểu thương, tiểu chủ, cai ký, đốc công cùngtham gia chống độc tài, phát-xít
Năm 1945, phát-xít Nhật - Pháp tăng cường vơ vét lương thực cho chiến tranh, gây nênthảm họa 2 triệu người Việt Nam chết đói, Đảng ta kịp thời ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn
Trang 12nhau và hành động của chúng ta”, phát động một cao trào đấu tranh kết hợp chính trị với
vũ trang: mít tinh, biểu tình đòi quyền sống, đi đôi với vũ trang phá kho thóc cứu đói, đẩymạnh phong trào chống Nhật cứu nước, lập các căn cứ địa và các chiến khu cách mạng,tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương, tiến tớiTổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc Với chủ trương đúng đắn, sự chỉ đạonhạy bén, kịp thời của Đảng, cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ trong cảnước Mặt trận Việt Minh có thêm hàng triệu đội viên Đội quân chính trị ở thành thị vànông thôn phát triển nhanh chóng Lực lượng vũ trang cách mạng được mở rộng, hoạtđộng mạnh mẽ, khởi nghĩa từng phần nổ ra ở nhiều địa phương và giành thắng lợi Đây là
cơ sở, điều kiện để Đảng ta và Mặt trận Việt Minh phát động Tổng khởi nghĩa, giànhchính quyền về tay nhân dân
Thực tế cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 cho thấy, mặc dù buộc phải đầuhàng đồng minh, nhưng quân Nhật ở Đông Dương chưa chịu buông vũ khí, thậm chí cónơi chúng còn ra tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Vì vậy, thực hiện sự chỉđạo của Tổng bộ Việt Minh và các Ủy ban khởi nghĩa, các đơn vị giải phóng quân, dukích quân từ căn cứ địa Việt Bắc và các chiến khu khác cùng tiến gấp về các địa phươngđánh địch, trực tiếp xóa bỏ chính quyền thực dân - phong kiến và thành lập chính quyềncách mạng Tại khắp các địa phương trên toàn quốc, nhất là ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn,dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng và ủy ban khởi nghĩa, đội quân chính trị to lớn củaquần chúng nhân dân được vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác, súng săn, lựu đạn,… đã nhất
tề nổi dậy giành chính quyền
Bằng sự kết hợp tiến công và nổi dậy của hai lực lượng chính trị, quân sự, cuộc tổng khởinghĩa đã liên tiếp nổ ra ở tất cả các địa phương trong khoảng thời gian rất ngắn, liên tụcgiành thắng lợi hết địa phương này đến địa phương khác, nhờ đó đã luôn luôn giành được
ưu thế áp đảo tinh thần quân địch đang trong cơn hoảng loạn Đảng đã khéo kết hợp cảthế và lực, cả lực lượng chính trị tinh thần và vật chất tạo ra ưu thế sức mạnh cách mạnghơn hẳn kẻ thù Ưu thế áp đảo này được thực hành vào thời cơ thuận lợi có một khônghai, đã tạo ra kết quả chắc thắng và thắng lợi hoàn toàn cho cuộc tổng khởi nghĩa
e Nắm đúng thời cơ, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, ít phải đổ máu
Cách mạng Tháng Tám nổ ra thành công và ít phải đổ máu là do những nhà lãnh đạo cáchmạng Việt Nam đã đứng vững trên thế chủ động chiến lược Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựđoán: năm 1945, cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam sẽ thành công Chương trìnhcứu nước của Việt Minh ra đời từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941) đã đến taynhững chiến sỹ cách mạng ở các địa phương, kể cả sự truyền miệng qua các lao tù “Các