1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng công ty bảo hiểm tại việt nam

36 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 144,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm góp phần ngăn ngừa và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống của con người antoàn, xã hội trật tự hơn: Trong quá trình tham gia bảo hiểm, các cơ quan, công ty bảo hiểmsẽ phối hợp với

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HCM

BÀI THUYẾT TRÌNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & CÁC

ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH

Chủ đề: CÔNG TY BẢO HIỂM

GVHD: ThS Nguyễn Phạm Thi Nhân

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn

Trang 2

MỤC LỤC Lời mở đầu I Bảo hiểm 1.1 Khái niệm 1

1.2 Bản chất của bảo hiểm 1

1.3 Vai trò của bảo hiểm 2

II Những nguyên tắc bảo hiểm

Trang 3

2.1 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm 3

2.2 Các nguyên tắc với từng loại bảo hiểm 4

2.2.1 Bảo hiểm kinh doanh 4

2.2.2 Bảo hiểm xã hội 4

2.2.3 Bảo hiểm thương mại 6

2.2.4 Bảo hiểm y tế 7

III Các loại hình bảo hiểm 3.1 Căn cứ vào các chủ thể cung cấp bảo hiểm ta có bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại 7

3.2 Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm ta có bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự 8

3.2.1 Bảo hiểm con người 8

3.2.2 Các loại cơ bản 8

3.3 Căn cứ vào nghĩa vụ của người được bảo hiểm ta có bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện 9

3.4 Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ bảo hiểm 9

3.5 Căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro được bảo hiểm 10

IV Các nghiệp vụ bảo hiểm chính 4.1 Bảo hiểm nhân thọ 11

4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ 13

V Thực trạng công ty bảo hiểm tại Việt Nam 5.1 Bảo hiểm phi nhân thọ 18

5.2 Bồi thường 19

5.3 Bảo hiểm nhân thọ 19

5.4 Hợp đồng có hiệu lực 21

5.5 Về tình hình tài chính 21

5.6 Về dự phòng nghiệp vụ 22

5.7 Môi giới bảo hiểm 22

VI Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam

Trang 4

6.1 Tìm hiểu chung về Dai-ichi Việt Nam 23

6.1.1 Quá trình hình thành 23

6.1.2 Hoạt động kinh doanh 24

6.2 Một số đặc điểm chủ yếu của Bảo Minh CMG và Dai-ichi Việt Nam 26

6.2.1 Lao động 26

6.2.2 Nguồn vốn của Dai-ichi Việt Nam 27

6.2.3 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức của Dai-ichi Việt Nam 28

6.3 Kết luận 29

VII Lời kết 30

Trang 5

Lời mở đầu

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, đượchưởng nhiều tiện ích của xã hội nhưng bên cạnh đó vẫn luôn có những rủi ro có thể xảy rabất cứ khi nào Những rủi ro này có thể đến với rất nhiều lý do như thiên tai, dịch bệnh, tainạn và nhiều lý do khác nữa mà con người không thể lường trước được Rủi ro thì đến bấtchợt, đến rồi đi nhưng hậu quả mà nó để lại về mặt tinh thần cũng như vật chất thì khôngthể đong đếm được Và câu hỏi đặt ra là liệu con người có cách nào để hạn chế đến mứcthấp nhất những tổn thất từ những nguy cơ rủi ro Chính vì vậy công ty Bảo hiểm đã rađời, nó ra đời không chỉ đáp ứng được những mong muốn trên mà còn là một kênh dẫnvốn hiệu quả cho nền kinh tế Bắt đầu là việc bảo hiểm hàng hải, rồi tếp theo là bảo hiểmnhân thọ, bảo hiểm hàng hóa… Và ngày nay đã phát triển với quy mô rộng lớn và co s vaitrò quan trọng trong cuộc sống con người Để hiểu rõ hơn về Bảo hiểm cũng như hoạtđộng của công ty bảo hiểm như thế nào chúng ta cùng tim hiểu chủ đề:”Công ty Bảohiểm”

Trang 6

Rủi ro là gì?: Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại hoặcmang lại kết quả không mong đợi.

1.2 Bản chất của bảo hiểm

Bằng sự đóng góp của số đông người vào 1 quĩ chung, khi có rủi ro,quĩ sẽ có đủ khảnăng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cầnđóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm Khi tham gia 1nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do gặp rủi ro được bảo hiểm gây ra, ngườiđược bảo hiểm sẽ được buồi thường Khoản tiền bồi thường này sẽ được lấy từ số phí màtất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp Tất nhiên chỉ có 1 số người tham gia bảohiểm tổn thất, còn những người không tổn thất sẽ mất không số phi bảo hiểm Như vậy, cóthể thấy được, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một sốngười cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Do đó, một nghiệp vụ bảohiểm muốn được tiến hành phải có nhiều người tham gia, tức là bảo hiểm chỉ hoạt độngđược trên cơ sở luật số đông, càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối vớimỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi

Với hình thức số đông bù cho số ít bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ giúp giảm thiểuthiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay từng đơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm được nguồn chingân sách nhà nước Như vậy mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mốiquan hệ giữ bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra nó là mối quan hệ tổng thểgiữa người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩbảo hiểm Quĩ bảo hiểm được thành lập thông qua việc huy động phí bảo hiểm, số người

Trang 7

tham gia càng đông thì quĩ càng lớn Quĩ được sử dụng trước hết là chủ yếu để bù đắpnhững tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đờisống xã hội và hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nền kinh tế Ngoài ra quĩ còn đượcdùng để trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội Bảo hiểm thức chất là cácquan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hìnhthái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi

ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tài sản xuất thường xuyên,liên tục

1.3 Vai trò của bảo hiểm

Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất do rủi ro gâyra: Rủi ro luôn hiện diện và gây tổn thất về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sảnxuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức Tổn thất đó sẽ được các cơ quan hay công tybảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậuquả, ổn định cuộc sống và sản xuất kinh doanh Từ đó, các hoạt động sẽ được khôi phục

và diễn ra bình thường Vai trò này đáp ứng được mục tiêu kinh tế của người tham gia nênđối tượng tham gia bảo hiểm ngày càng đông đảo

Bảo hiểm tạo nguồn vốn cho đầu tư tăng trưởng kinh tế: Các cơ quan và công ty bảohiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm.Điều đó cho phép họ có một số tiền rất lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyềnlợi cho người tham gia bảo hiểm Ngoài ra, luôn có một khoảng thời gian giữa thời điểmxảy ra rủi ro gây tổn thất và thời điểm chi trả hoặc bồi thường, có thể kéo dài nhiều năm,nhất là trong bảo hiểm nhân thọ Vì vậy, số phí thu được có thể được sử dụng để đầu tưvào các hoạt động kinh tế để sinh lời

Bảo hiểm đóng góp một phần cho ngân sách nhà nước: Với các loại quỹ bảo hiểm khácnhau, người tham gia bảo hiểm ngày càng nhiều Khi có tổn thất xảy ra, các cơ quan, công

ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời cho họ để ổn định đời sống và sản xuất Vìvậy, ngân sách nhà nước không phải chi tiền để trợ cấp cho các thành viên, các doanhnghiệp khi gặp rủi ro

Mặt khác, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại còn có tráchnhiệm đóng góp vào ngân sách thông qua các loại thuế mà các công ty bảo hiểm phải nộp.Điều này góp phần làm tăng thu cho ngân sách

Trang 8

Bảo hiểm góp phần ngăn ngừa và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống của con người antoàn, xã hội trật tự hơn: Trong quá trình tham gia bảo hiểm, các cơ quan, công ty bảo hiểm

sẽ phối hợp với người tham gia bảo hiểm để thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chếtổn thất thông qua các hoạt động như: tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp phòng tránhtai nạn, vệ sinh, an toàn lao động, xây dựng thêm các biển báo và các con đường lánh nạn

để giảm bớt tai nạn giao thông, tư vấn và hỗ trợ tài chính để xây dựng và thực hiện cácphương án phòng cháy, chữa cháy, tiêm chủng và chăm sóc y tế cộng đồng…Tất cả nhữnghoạt động nói trên của bảo hiểm đều giúp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất

Bảo hiểm góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa các nước: Thị trường bảo hiểm nộiđịa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thôngqua hình thức tái bảo hiểm giữa các công ty của các nước Nhờ vậy, quan hệ kinh tế giữacác nước sẽ được phát triển, góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho ngân sách

Bảo hiểm góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tạo nếp sống tiếtkiệm trên phạm vi toàn xã hội: Bảo hiểm góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xãhội, giải quyết được một lượng lao động nhất định Bên cạnh đó, bảo hiểm khuyến khíchmỗi gia đình, mỗi cơ quan, doanh nghiệp thực hiện tiết kiệm chỉ với những khoản tiền rấtnhỏ

Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế- xã hội: Chỉ vớimột mức phí bảo hiểm khiêm tốn mà các cơ quan, công ty bảo hiểm có thể giúp đỡ chocác cá nhân, các cơ quan, doanh nghiệp khắc phục hậu quả rủi ro cho dù đó là những rủi

ro khôn lường trong cuộc sống và sản xuất Điều này giúp họ yên tâm trong cuộc sống,sinh hoạt và sản xuất kinh doanh

II Những nguyên tắc bảo hiểm

2.1 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity notcertainty): Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của conngười chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (Utmost good faith): Tất cả các giao dịch kinh doanhcần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối Cả người được bảohiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề

Trang 9

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (Insurable interest): Quyền lợi có thể đượcbảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự antoàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người đượcbảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm

có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm

Nguyên tắc bồi thường (Indemnity): Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy

ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm

có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên khôngđược lợi dụng bảo hiểm để trục lợi

Nguyên tắc thế quyền (Subrobgation): Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm saukhi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòingười thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình

2.2 Các nguyên tắc với từng loại bảo hiểm

2.2.1 Bảo hiểm kinh doanh

- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm cũng như doanhnghiệp kinh doanh bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh

- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nóichung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng

- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít

- Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính

2.2.2 Bảo hiểm xã hội

- Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội, thông thường có một bên tham gia làNhà nước Nhà nước tham gia quan hệ này thông qua các cơ quan do Nhà nước thành lậphoặc các tổ chức được Nhà nước thừa nhận và trao trách nhiệm Các chủ thể đại diện choNhà nước thường tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội với tư cách là người thực hiệncác chế độ an sinh xã hội bằng nguồn lực của mình, ngân sách Nhà nước hoặc với tư cách

là người tổ chức và huy động các nguồn lực xã hội để nhà nước bổ sung cho các chế độ ansinh cố định trong những trường hợp cần thiết Như vậy, có thể hiểu Nhà nước vừa làngười đảm bảo tối thiểu các nhu cầu an sinh xã hội trong phạm vi quốc gia vừa là người

Trang 10

tạo phong trào thực hiện các họat động tương trợ cộng đồng để các thành viên trong xãhội, thông qua Nhà nước, bù đắp những khoảng trống mà pháp luật an sinh xã hội khôngthể đáp ứng được do tính nghiêm trọng của rủi ro cần chia sẻ trong những trường hợp cábiệt hoặc để mục đích an sinh xã hội đạt được ở mức độ cao hơn

- Thứ hai, tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành viên trong

xã hội không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào Để hưởng được một chế độ cụ thể nào đóchỉ phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật xác định, không có bất

kỳ một giới hạn hoặc một sự phân biệt nào khác Thậm chí, nhiều trường hợp không có sựphân biệt về quốc tịch như phần lớn các quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia điềuchỉnh

Ví dụ, khi có thiên tai, hoạn nạn xảy ra, mọi cá nhân trong phạm vi ảnh hưởng đềuđược nhận sự trợ giúp, không có sự phân biệt đó là người Việt Nam hay người nước ngoài

để xác định quyền hoặc mức độ đảm bảo quyền trợ giúp của xã hội đối với mỗi cá nhân,các quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập theo nhiều tầng nấc để tạo thành một

hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, đảm bảo an toàn ở những mức cần thiết trợgiúp cho tất cả các thành viên xã hội theo từng nhóm

Tất cả các thành viên trong xã hội, nếu có công với nước sẽ được hưởng chế độ ưuđãi xã hội, nếu tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được đảm bảo thu nhập khi ốm đau, tai nạn Ngay cả những người chưa được hưởng bất cứ một chế độ nào thì cũng không có nghĩa là

họ không được chính sách an sinh xã hội bảo vệ

- Thứ ba, chủ thể hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ pháp luật này ngay từkhi sinh ra Để đảm bảo quyền hưởng an toàn về đời sống cho các công dân và các thànhviên khác trong cộng đồng xã hội Nhà nước cho phép các cá nhân sinh sống trong phạm

vi lãnh thổ mà mình quản lý được tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội từ rất sớm,không phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay sự đóng góp cho xã hội của họ Nói cáchkhác, năng lực pháp luật hưởng an sinh xã hội của các công dân thường xuất hiện từ khimới sinh ra, không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ Đây cũng là đặc điểm rất riêngcủa quan hệ pháp luật an sinh xã hội so với nhiều quan hệ pháp luật khác

- Thứ tư, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập chủ yếu trên cơ sở nhu cầu quản

lý rủi ro, tương trợ cộng đồng trong xã hội Có nhiều quan hệ được thiết lập để chia sẻ rủi

ro trong đời sống con người Trong đó, có những quan hệ hình thành trên cơ sở tình cảm,đạo đức hoặc sự tự nguyện vào lòng hảo tâm của cộng đồng xã hội; có những quan hệ

Trang 11

kinh doanh, dịch vụ trên cơ sở đáp ứng nhu cầu chia sẻ rủi ro của các cá nhân trong xã hội.Riêng các quan hệ pháp luật an sinh xã hội hình thành trên cơ sở nhu cầu chung của xãhội, để quản lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng, không phụ thuộc vào những quan hệ xãhội khác, không nhằm thực hiện mục đích khác Trên cơ sở này, Nhà nước xác định nhữnglọai quan hệ xã hội do pháp luật an sin xã hội điều chỉnh Điều đó giải thích vì sao nhiềuquan hệ mang tính chia sẻ rủi ro khác pháp luật an sinh xã hội không điều chỉnh song quan

hệ bảo hiểm xã hội chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp tài chính, có thực hiệncân đối thu chi lại vẫn thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội

- Thứ năm, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể là trợ giúp và được trợ giúp vậtchất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện Các lĩnh vực trong xã hội như giáo dục đào tạo,việc làm và thu nhập, đảm bảo điều kiện sống hòa bình cho người dân cũng là nhữngvấn đề rất quan trọng nhưng nó thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội nói chung Đời sống củacon người gắn liền với vấn đề: “cơm, áo, gạo, tiền”; nên khi gặp khó khăn về kiếm sốngnhư tuổi già, tàn tật, mất nguồn nuôi dưỡng, mất phương tiện sinh sống do thiên tai thì xãhội phải trợ giúp cho thành viên của mình nguồn vật chất để đáp ứng nhu cầu thiết thựcnhất đó Có thực mới vực được đạo; cũng là thực tế chung trong đời sống con người Vìvậy quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhất của các bên trong quan hệ pháp luật an sinh xã hộiđược Nhà nước đảm bảo thực hiện là trợ giúp vật chất cho người cần trợ giúp

2.2.3 Bảo hiểm thương mại

- Gắn liền với nguyên tắc thứ 2 nguyên tắc trung thực

- Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm Bên cạnh

đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo

đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và cũngkhông cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) làngười nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra.Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những ngườiđược bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm.Điều này đã tạo ra một rủi ro mới đe dọa mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng Dịch vụbảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm

có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết của mình hay không trong khi phí bảohiểm đã được trả theo "nguyên tắc ứng trước" Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảohiểm được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phía người được bảohiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm Như vậy, mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp

Trang 12

đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảonguyên tắc cơ bản thứ hai: Nguyên tắc trung thực.

2.2.4 Bảo hiểm y tế

- Vì quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và bảo đảm an toàn sức khỏe cho cộng đồng

- Chỉ bảo hiểm cho những rủi ro không lường trước được, không bảo hiểm những rủi rochắc chắn sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra

- Hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít

III Các loại hình bảo hiểm

Có nhiều loại hình bảo hiểm dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau

3.1 Căn cứ vào các chủ thể cung cấp bảo hiểm ta có bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm xã hội ( bảo hiểm phi

thương mại) Bảo hiểm thương mại

• Mục tiêu của bảo hiểm xã

hội không nhằm mục tiêulợi nhuận mà nhằm thựchiện các chính sách kinh tế,

xã hội của nhà nước, vì mụcđích an sinh xã hội

• Qũy được huy động từ bản

thân người lao động, giađình của họ và sự hỗ trợ củachính phủ

• Phạm vi hoạt động liên

quan trực tiếp đến conngười và các thành viêntrong gia đình họ và hoạtđộng trong phạm vi quốcgia

• Mục tiêu của bảo hiểmthương mại là lợi nhuận

• Qũy được hình thành từ sựđóng góp của các thành viêntham gia có tính tự nguyện

Qũy được thực hiện theo cơchế thị trường nghĩa là ứngvới mỗi mức tiền đóng bảohiểm sẽ nhận được mức bồithường tương ứng khi xảy ra

sự cố

• Phạm vi hoạt động rất rộngthuộc tất cả lĩnh vực kinh tế,con người, phạm vi hoạtđộng không chỉ trong quốcgia

Dù là bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm thương mại thì cả hai đều thực hiện trên nguyêntắc có đóng góp thì mới có hưởng lợi từ bảo hiểm, lấy số đông các chủ thể tham gia bảohiểm để bù đắp cho số ít các cá nhân bị thiệt hại, rủi ro Hoạt động của hai loại bảo hiểm

Trang 13

này đều nhằm bù đắp tài chính cho các cá nhân tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải nhữngrủi ro gây ra thiệt hại trong phạm vi của bảo hiểm đang tham gia.

3.2 Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm ta có bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự

3.2.1 Bảo hiểm con người

- Đối tượng chính được bảo hiểm là con người ( sức khỏe, tính mạng, tai nạn…)

- Các đối tượng bên mua bảo hiểm có thể mua Bảo hiểm:

+ Bản thân

+ Vợ/ chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm

+ Anh chị em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng

+ Người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm

3.2.2 Các loại cơ bản:

- Bảo hiểm nhân thọ: đối tượng là tính mạng của con người Bảo hiểm sẽ trả tiền khi có sự

cố tử vong của tính mạng được bảo hiểm

- Bảo hiểm y tế: Trợ cấp một số tiền nhất định cho đối tượng được bảo hiểm khi ốm đau,bệnh tật, nằm viện,… đối tượng được bảo hiểm là sức khỏe con người

- Bảo hiểm tai nạn cá nhân: Cung cấp tiền bồi thường cho người được bảo hiểm trongtrường hợp tử vong hoặc xảy ra tai nạn do biến cố bất ngờ Đối tượng được bảo hiểm làmột phần hoặc toàn bộ cơ thể con người Mức chi trả sẽ dựa trên mức độ thiệt hại thực tế

- Bảo hiểm tài sản:

+ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là các tài sản như xe cộ, máy móc, tiền,… Bảohiểm sẽ bù đắp cho người đươc babor hiểm những thiệt hại vật chất bị thiệt hại do: hưhỏng, mất cắp,…

+ Các loại đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản tại Việt Nam:

Trang 14

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:

+ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểmđối với người thứ ba theo quy định của pháp luật Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểmchỉ phát sinh khi có yêu cầu của người thứ ba yêu cầu được bồi thường thiệt hại do lỗi củangười đó gây ra cho người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm

+ Ví dụ : Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là50.000.000 đồng/1 người/1 vụ tai nạn

3.3 Căn cứ vào nghĩa vụ của người được bảo hiểm ta có bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện

- Bảo hiểm bắt buộc: Là hình thức bảo hiểm có điều kiện và mức phí bảo hiểm được nhànước quy định nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng và an toàn xã hội bắt buộc tất cả các cánhân tổ chức tham gia phải thực hiện đúng

+ Ví dụ: Pháp luật hiện hành quy định mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có sử dụnglao động có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên đều thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc không phân biệt số lượng lao động là bao nhiêu

+ Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

• Bảo nhiệm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, người vận chuyển hàng đốivới hành khách

• Bảo hiểm trách nghiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật

• Bảo hiểm của trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

• Bảo hiểm cháy, nổ

- Bảo hiểm tự nguyện: là loại hình hoàn toàn tự nguyện kí kết giữa bên bán và bên muabảo hiểm Các điều kiện và mức phí bảo hiểm do 2 bên tham gia thỏa thuận với nhau Ví

dụ bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm tài sản,…

3.4 Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ bảo hiểm

- Bảo hiểm theo nguyên tắc khoán: Là loại hình bảo hiểm mà số tiền chi trả của bên bảohiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra thiệt hại đã được xác định ngay từ đầu khi kí kếthợp đồng Ví dụ khi mua bảo hiểm nhân thọ 2 bên xác định với nhau về số tiền chi trả là

50 triệu VND, thì dù thực tế thiệt hại có cao hơn hay thấp hơn so với 50 triệu VND thì bênmua vẫn sẽ phải chi trả cho bên được bảo hiểm 50 triệu VND

Trang 15

- Bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường: Là loại bảo hiểm chi trả dựa trên thực tế thiệt hạikhi xảy ra biến cố Các loại bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm tài sản đều dựa trên nguyêntắc bồi thường.

3.5 Căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro được bảo hiểm

- Bảo hiểm nhân thọ: Là loại bảo hiểm mà doanh nghiệp phải chi trả một khoản tiền nhấtđịnh cho rủi ro về sinh mạng và trường hợp chết của con người

+ Người tham gia bảo hiểm sẽ đóng những khoản phí định kì trong một thời gian thoảthuận trước (5 năm 10 năm hay 15 năm), thấp nhất là 1 năm vào một quỹ lớn do công tybảo hiểm quản lí và công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền như đã thoả thuậntrong hợp đồng bảo hiểm khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi ro xảy ravới người được bảo hiểm

+ Có nhiều loại bảo hiểm nhân thọ như: bảo hiểm cá nhân, bảo hiểm nhóm, bảo hiểmsinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ,…

- Bảo hiểm phi nhân thọ: Là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp

vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ

+ Các loại bảo hiểm phi nhân thọ như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảohiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm nông nghiệp,…

Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Được thành lập tháng 7/2000 Với mục tiêu được đề ra là bảo vệ người gửi tiền và thamgia đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng

Người được bảo hiểm là các cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại các tổ chức thamgia bảo hiểm tiền gửi Các tổ chức bảo hiểm tiền gửi là các tổ chức tài chính nhà nước,hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách tiền gửi, góp phần duy trì sự

ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh cho hoạt độngngân hàng

Tiền gửi được gửi tại các cá nhân tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới nhiều hìnhthức như: Tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tền gửi,

kỳ phiếu, tín phiếu, các hình thức tiền gửi theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng

Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Trang 16

Như đã trình bày ở trên bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm bảo đảm thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập của người lao động do bị giảm hoặc mất thu nhập: ốm đau, tainạn,…

Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam thường được quản lý bởi một cơ quan chuyên tráchtrực thuộc chính phủ Tại Việt Nam, chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm

xã hội, Bộ Lao Động- Thương Binh và Xã Hội chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thựchiện quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội

IV Các nghiệp vụ bảo hiểm chính

4.1 Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến tính mạng hoặc sức khỏe conngười nhằm mục đích bảo vệ tài chính cho cá nhân và gia đình

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểmnhân thọ và khách hàng Theo đó, khách hàng cam kết đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệpbảo hiểm cam kết trả tiền hoặc bồi thường khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm đã được xácđịnh trong hợp đồng bảo hiểm

Phạm vi: Bảo hiểm con người dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống

Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: Đối với bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tửvong người được hưởng quyền lợi bảo hiểm không phải là nạn nhân của sự cố Ngườiđược bảo hiểm tử vong/thương tật toàn bộ vĩnh viễn, người được hưởng quyền lợi bảohiểm có thể là người thân của họ, Vợ/chồng/con cái hoặc bất kỳ ai và người thụ hưởngnày có thể thay đổi bất kỳ lúc nào, quyền quyết định phụ thuộc vào người chủ hợp đồngbảo hiểm

- Bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích

- Bảo hiểm nhân thọ là một chương trình hỗn hợp thỏa mãn được nhiều ước mơ và nguyệnvọng khác nhau của khách hàng:

+ Giá trị tiết kiệm, đầu tư

+ Quỹ bảo vệ toàn diện liên quan đến các rủi ro

+ Chương trình bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, hỗ trợ nằm viện

+ Quỹ học vấn cho con, quỹ hưu trí tự nguyện cho bản thân khi về già

Trang 17

Bảo hiểm nhân thọ bồi thường theo nguyên tắc "khoán" : một người được hưởng bảohiểm muốn gia đình hay người thân của anh ta hưởng một khoản tiền nhất định nào đó tuỳthuộc vào thu nhập hoàn cảnh gia đình của mình nhà bảo hiểm bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm giá của sự chăm sóc thuộc trách nhiệm của anh ta.

Trong bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền cùng một lúc, khách hàng có thể thamgia nhiều loại hình bảo hiểm con người và nếu có xảy ra sự cố nào đó thuộc phạm vi bảohiểm của nhiều hợp đồng thì họ được nhận tất cả các khoản bồi thường từ các hợp đồngkhác nhau Người được hưởng quyền lợi từ bảo hiểm con người có thể đồng thời nhậnđược các khoản bồi thường từ các hợp đồng mà họ tham gia và khoản bồi thường củangười gây ra thiệt hại

Trong bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc đóng góp là khi tham gia nhiềuhợp đồng Bảo hiểm nhân thọ tại một hoặc nhiều công ty Bảo hiểm khác nhau trong trườnghợp không may xảy ra rủi ro khách hàng sẽ được chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm cam kếttrên từng hợp đồng

Duy nhất trong bảo hiểm nhân thọ cho phép đảm bảo cùng một lúc hai sự cố đối lậpnhau là "tử vong và sống" Tham gia bảo hiểm nhân thọ rủi ro hay không rủi ro bạn vẫn cólời, nếu rủi ro bạn sẽ nhận ngay một số tiền để gia đình tiếp tục duy trì và ổn định cuộcsống còn nếu tất cả mọi sự đều ổn thỏa thì đến ngày đáo hạn hợp đồng bạn sẽ nhận lạitoàn bộ số tiền đã đóng + lãi suất

Nghiệp vụ bao gồm: Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểmhỗn hợp; Bảo hiểm trả tiền định kỳ; Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủquy định

+ Bảo hiểm trọn đời: ( bảo hiểm trường sinh) là nghiệp vụ bảo hiểm cho trườnghợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời người đó.Hợp đồng bảo hiểm trọn đời là dạng hợp đồng dài hạn, không bị giới hạn ngày hết hạnhợp đồng Mức lãi chia được trả thuộc nhóm cao nhất trong các sản phẩm bảo hiểm nhânthọ có chia lãi, nên hợp đồng hiệu lực càng nhiều năm Giá trị hoàn lại sẽ càng lớn Trongkhoảng thời hạn hợp đồng bảo hiểm bên mua bảo hiểm có thể nhận giá trị hoàn lại củahợp đồng tại bất kỳ thời điểm năm nào nếu muốn

+ Bảo hiểm sinh kỳ: Bảo hiểm sinh kì là loại hình bảo hiểm cho trường hợp sốngcủa người được bảo hiểm Khi người được bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được quyđịnh trong hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm

Trang 18

+ Bảo hiểm tử kỳ: Bảo hiểm tử kì là loại hình bảo hiểm nhân thọ chỉ bảo hiểm chokhả năng chết xảy ra trong thời gian đã được quy định cụ thể trong hợp đồng Khi ngườiđược bảo hiểm chết trong thời gian đó, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm Đây

là quyền lợi cơ bản của sản phẩm bảo hiểm tử kì Trong thực tế, để tăng thêm quyền lợicho khách hàng, các công ty bảo hiểm có thể bổ sung thêm một số quyền lợi khác

+ Bảo hiểm hỗn hợp: Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm kết hợp trường hợpsống và trường hợp chết Theo đó, công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đãđược ấn định trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồnghoặc khi người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng

+ Bảo hiểm trả tiền định kỳ: Bảo hiểm trả tiền định kì là loại hình bảo hiểm theo đócông ty bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền cố định cho người được bảo hiểm, bắtđầu từ một độ tuổi nhất định

4.2 Bảo hiểm phi nhân thọ

Tính chất chủ yếu là bồi thường cho các hậu quả của một sự cố tiêu cực, không lườngtrước Tham gia năm nào bảo hiểm năm đó và chỉ một số ít người nhận được số tiền bảohiểm khi có rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra

Phạm vi: Con người, tài sản và trách nhiệm dân sự

Người thụ hưởng: là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự cố

Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảohiểm con người phi nhân thọ

+ Bảo hiểm tài sản: Đây là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố địnhhay lưu động) của người được bảo hiểm Bao gồm:

• Bảo hiểm vật chất xe cơ giới: bảo hiểm tài sản mang tính chất tự nguyện vớiđối tượng bảo hiểm là những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trênlãnh thổ quốc gia khi gặp tai nạn do đâm va, lật đổ, cháy nổ, mất cắp…

• Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh: bảo hiểm cho lợi nhuận bị mất đi vì hoạtđộng sản xuất kinh doanh của người được bảo hiểm gián đoạn do tài sản,máy móc thiết bị của người được bảo hiểm phải chịu ngưng hoạt đọng theophán quyết của tòa án

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w