TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TPHCM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH ------TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHỆP Đề tài: Tầm quan trọng của việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn đối với hoạt động của tổ
Trang 1TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TPHCM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHỆP
Đề tài: Tầm quan trọng của việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn
đối với hoạt động của tổ chức
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Đình Tịnh
Trang 2TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TPHCM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ DOANH NGHỆP
Đề tài: Tầm quan trọng của việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn
đối với hoạt động của tổ chức
Trang 3Mục lục
1 - Sự cần thiết của tổ chức quản lý 4
1.1 - Tổ chức quản lý là gì? 4
1.2 - Vì sao nói phải có sự cần thiết của tổ chức quản lý? 4
2 - Nội dung của nguyên tắc “nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng”.5 2.1 - Nhiệm vụ là gì? 5
2.2 - Trách nhiệm là gì? 6
2.3 - Quyền hạn là gì? 7
2.4 -Nguyên tắc “nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn phải tương xứng” được hiểu như thế nào? Và vì sao phải như vậy? 7
3 - Ý nghĩa của nguyên tắc ““nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng” 8 4 - Phương pháp phân chia bộ phận trong cơ cấu tổ chức 8
4.1 - Phân chia theo thời gian: 8
4.2 - Phân chia theo chức năng: 9
9
4.3 - Phân chia theo lãnh thổ 9
4.4 - Phân chia theo sản phẩm 10
4.5 - Phân chia theo khách hàng 11
11
4.6 - Phân chia theo quy trình hay thiết bị 11
5 - Thực trạng trách nhiệm người đứng đầu tổ chức trong hoạt động tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức 11
6 - Một số giải pháp đề cao trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức 13
6.1 - Hoàn thiện văn bản pháp lý nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người đứng đầu tổ chức 13
6.2 - Đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức 14
6.3 - Cần xây dựng cơ chế có hiệu lực, thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động của người đứng đầu trong các đơn vị sự nghiệp 15
7 - Kết luận: 16
Trang 51 - Sự cần thiết của tổ chức quản lý
1.1 - Tổ chức quản lý là gì?
Tổ chức quản lý là sự thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành
ở từng tổ chức sản xuất và trong cả doanh nghiệp (hoặc cả ngành, cả nền kinh tế)
Ví dụ như Hội đồng quản trị, giám đốc, các phòng ban, giám đốc phân xưởng, tổ trưởng sản xuất dịch vụ …
1.2 - Vì sao nói phải có sự cần thiết của tổ chức quản lý?
Để tồn tại và phát triển con người tiến hành (thực hiện) nhiều hoạt động Đó là những hoạt động trực tiếp bổ ích cho cơ thể, hoạt động tạo ra của cải vật chất, hoạt động kinh tế, hoạt động thuộc lĩnh vực tinh thần, quan hệ xã hội … thông thường hoạt động nào của con người cũng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu, cũng xuất phát từ mưu cầu lợi ích C Mac đúc kết: Người bình thường không ai làm gì ngoài mục đích thoả mãn nhu cầu của mình Như vậy, mục đích của hoạt động của con người là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển với cái giá (chi phí) thấp nhất có thể Sự tương quan so sánh giữa lợi ích do kết quả (sản phẩm) đem lại với phần các nguồn lực được huy động, sử dụng để tạo ra kết quả (Sản phẩm) đó gọi là hiệu quả hoạt động
Ở thời cổ sơ hoạt động của con người thường có quy mô và độ phức tạp không lớn Càng về sau tham vọng của con người càng lớn, mức độ dễ dàng của các điều kiện (yếu tố đầu vào) ngày càng giảm, mức độ cạnh tranh ngày càng cao Do đó, quy mô và mức độ phức tạp của hoạt động tạo ra vật phẩm bổ ích tăng dần Khi quy
mô và độ phức tạp của hoạt động tạo ra sản phẩm bổ ích tăng đến mức độ nhất định làm xuất hiện hoạt động chung của nhiều người Để đạt hiệu quả hoạt động có sự tham gia của nhiều người trong bối cảnh, hoàn cảnh cạnh tranh gay gắt và điều kiện
có giới hạn không còn cách nào khác là phải trau dồi kiến thức, tìm hiểu thiên địa -nhân, xem xét nhận định xu hướng biến động của thời cuộc, tình hình thị trường, cân nhắc mọi mặt, quyết định lựa chọn sáng xuất, chuẩn bị và triển khai đồng bộ mọi mặt, mọi khâu, mọi việc… Phải chọn trúng hoạt động cần thiết, bổ ích, có nhiều triển vọng phát triển; lo tổ chức chuyên môn hoá, phân công lao động sao cho hợp lý; lo đảm bảo điều kiện làm việc và phối hợp hoạt động của các bộ phận, của
Trang 6những con người thành viên sao cho ăn khớp, nhịp nhàng; lo phân chia thành quả chung thành của ăn, của để một cách thông minh nhất để có phát triển , lo chia sao cho cân bằng nhất có thể… Những công việc (các thao tác tư duy, trí tuệ liên quan đến hoạt động ) đó hợp thành quản lý của mỗi hoạt động
Tiếp theo, để thực hiện một hoạt động có quy mô lớn bao giờ cũng có tổ chức
Do vậy, phải thiết kế trước một cách khoa học tổ chức đó Thiết kế và mặt tổ chức
là thiết kế lập ra phân hệ hoạt động chính, phân hệ phục vụ, phân hệ quản lý và phân hệ tương tác giữa các phân hệ đó Phân hệ hoạt động chính gồm có nhiều phần
tử vào quan hệ tương tác giữa chúng
Tuy mục tiêu, chương trình của hoạt động đã được đề ra, toàn bộ hệ thống đã được thiết kế, tổ chức nhưng sẽ không đạt được gì đáng kể khi chưa cho hoạt động các hệ “hô hấp”, “hệ tuần hoàn” , “hệ thần kinh”… Cần phải nạp nguyên liệu, cung cấp năng lượng… đảm bảo các yếu tố dầu vào cho các phân hệ hoạt động chính, phân hệ phục vụ, vận hành và phối hợp hoạt động của chúng nhằm thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ, thực tế hoá các mục tiêu, mục đích chung đac được đạt ra Để
có các yếu tố đầu vào đảm bảo cho hoạt động cần phải có và thực hiện tốt cơ chế huy động chúng, phải thiết lập, khai thông các quan hệ (bắc được các nhịp cầu nối liền bên có với bên cần)… Tất cả các công việc cần thiết và quan trọng đó hựop thành công tác quản lý Hay một cách khác, có thể nói tổ chức nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng
2 - Nội dung của nguyên tắc “nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng”.
2.1 - Nhiệm vụ là gì?
Chức năng (lâu dài) hoặc nhiệm vụ (từng việc) giao cho bộ phận hoặc cá nhân nào phải gắn với trách nhiệm mà bộ phận hoặc cá nhân đó phải đảm bảo hoàn thành Cần xác định và hiểu rõ: Chịu trách nhiệm về mặt nào và đến đâu, ai là người chịu trách nhiệm và trước ai? Chỉ khi nhận rõ trách nhiệm, mỗi người mới tận tâm tận lực, dám nghĩ dám làm và giám chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Và do
đó, chỉ giao nhiệm vụ khi xét thấy người thực hiện có đủ khả năng đảm đương
Tổ chức quản lý có 3 nhiệm vụ tổng quát sau:
Trang 7- Ra các quyết định chiến lược và chiến thuật, chính thức ban hành các chủ trương, chính sách quan trọng
- Hướng dẫn, cho tiến hành và phối hợp các hoạt động thừa hành
- Kiểm tra, đánh giá các kết quả bộ phận và kết quả chung
Cụ thể hơn, TCQL là thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thường xuyên theo dõi, nhận định chiều hướng thay đổi của thời cuộc, của môi trường, của thị trường … dự đoán những điều cần thiết có liên quan, đề ra chiến lược cho cộng đồng
- Trên cơ sở chiến lược xây dựng các loại kết hoạch, chương trình hoạt động
cụ thể cho từng giai đoạn, cho từng mặt, từng mảng công tác; Xác định ngân sách; Quy định các chuẩn mực đánh giá và hệ thống các biện pháp kiểm tra
- Tác động lên những người tham gia và hệ thống tổ chức để khả năng, năng lực của từng người, của cả tập thể, cộng đồng được sử dụng tốt nhất
- Tìm kiếm các sáng kiến nhằm khắc phục những sai lầm, lệch lạc, thúc đẩy
tổ chức phát triển không ngừng
- Tạo cơ hội, điều kiện để người dưới quyền không ngừng được phát triển Phải hoàn thành tốt đồng thời các nhiệm vụ thì mới thực sự là quản lý
Vì vậy cần phải xác định nhiệm vụ cụ thể , như thế nào, ra sao để có sự lựa chọn đúng đắn hơn
2.2 - Trách nhiệm là gì?
Có 4 loại trách nhiệm: Trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới và trách nhiệm cuối cùng
Trách nhiệm tập thể thực hiện trong cơ chế quyết định tập thể (ví dụ chế độ làm việc của Hội đồng quản trị), trong đó mọi thành viene tham gia quyết định phải cùng chịu trách nhiệm, kể cả thiểu số bất đồng Trong chế độ thủ trưởng ( hệ thống điều hành ) phải xác định trách nhiệm cá nhân của người phụ trách cũng như của người được phân công Đối với những bộ phận, những người có liên quan cần xác định trách nhiệm liên đới tức là một phần trách nhiệm gián tiếp Trách nhiệm cuối cùng là sự chia sẻ trách nhiệm chung đối với kết quả thực hiện cuối cùng theo mục tiêu của cả doanh nghiệp, chủ yếu nhằm động viên tinh thần và ý thức làm chủ hơn
Trang 8là chịu trách nhiệm cụ thể Trách nhiệm cụ thể có nghĩa là phải chịu xử lý về hành chính hoặc về pháp lý; Có trường hợp phải bồi thường thiệt hại gây ra
2.3 - Quyền hạn là gì?
Quyền hạn là một phần quyền lực được giao để có thể thực thi nhiệm vụ với trách nhiệm phải đảm bảo hoàn thành Giao quyền hạn có nghĩa là sự phân định quyền lực tương xứng với trách nhiệm, phải vừa đủ (không thiếu, không thừa) và phải rõ ràng
Giao quyền hạn không đủ sẽ không thể quy trách nhiệm, hậu quả là cấp trên phải tự gánh trách nhiệm lẽ ra được san sẻ; Tạo ra sự tập trung quá mức, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới, dễ sinh tệ quan liêu và lòng lẻo kỷ cương Giao quá nhiều quyền hạn sẽ tạo cơ hội cho sự lộng quyền, chuyên quyền; Dễ sảy ra các vi phạm vô nguyên tắc mà khó xác định trách nhiệm
Không xác định rõ quyền hạn (thả nổi quyền lực) là tình huống xấu nhất, tạo ra tình trạng không kiểm soát được hành động của cấp dưới; Hậu quả có thể theo hai hướng: Hoặc là không hoàn thành được nhiệm vụ, không quy được trách nhiệm (do không sử dụng quyền hạn cần có), hoặc là tuỳ tiện lạm dụng quyền lực, “lấn sân” và can thiệp vượt cấp Một nhà nghiên cứu về quản lý đã nhấn mạnh: “lãnh đạo chính
là ở chỗ biết phân định quyền lực”
2.4 -Nguyên tắc “nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn phải tương xứng” được hiểu như thế nào? Và vì sao phải như vậy?
Nguyên tắc này được hiểu một cách đơn giản như là “Cây nào thì quả đấy”, không phải vậy sao khi cây này là cây Táo nhưng quả của nó lại là quả Đào Cây như vậy, chúng ta trông thấy thì thực sự không hiểu cây này là cây gì và người trồng cây này không biết là họ trồng cây gì nữa Cũng như vậy, trong các hoạt động của mình cần phải hiểu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn, giả dụ: anh ta là một cảnh sát giao thông đường bộ, đáng lẽ ra anh ta có nhiệm vụ kiểm tra an toàn giao thông người đi bộ với trách nhiệm phải kiểm tra toàn bộ những phương tiện lưu hành trên đoạn đường mình phụ trách thì chúng ta lại cho anh ta cái quyền hạn kiểm tra cả đường thuỷ, đường hàng không Điều đó là không thể xảy ra bởi chuyên môn cũng như hiểu biết của anh ta chỉ giới hạn ở đường bộ, chứ không biết gì về đường thuỷ, hay hàng không Nếu điều đó cứ xảy ra thì sẽ gây ra những hậu quả
Trang 9không lường.Qua ví dụ trên, chúng ta sẽ trả lời câu hỏi vì sao như vậy, tức là
“nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng”
3 - Ý nghĩa của nguyên tắc ““nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn phải tương xứng”.
Ý nghĩa của nguyên tắc này không chỉ riêng ta mà tất cả mọi người đều hiểu rằng: áp dụng nó ra sao để đạt hiệu quả cao nhất trong mọi lĩnh vực, thật vậy: Hiệu quả như chúng ta đã biết, là mối quan tâm hàng đầu của mọi hoạt động kinh tế Nó được đặt ra như một mục tiêu thường xuyên của mỗi doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Để sản xuất hàng hoá dịch vụ cần phải có các yếu tố sản xuất , song chúng ta không thể sản xuất mọi thứ theo khối lượng mong muốn vì các nguồn tài nguuyên đều khan hiếm so với mong muốn của chúng ta Sự khan hiếm các tài nguốn lực dẫn đến nhu cầu tất yếu phải tiết kiệm các nguồn lực, nói cách khác, phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó cho thấy, thuật ngữ hiệu quả không chỉ là phương châm hoạt động của mỗi đơn vị kinh tế , mà còn là hường đích cho hoạt động của toàn bộ hệ thống kinh
tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường để có thể tồn tại và trụ vững, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải xem xét các kết quả của quá trình hoạt động so với các chi phí
bỏ ra Vì vậy trên phương diện lý luận chuẩn tắc, việc không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu tổng quát của các doanh nghiệp
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ sử dụng các yếu tố của nền sản xuất xã hội Tiêu chuẩn của nó là tối thiểu hoá chi phí hoặc tối đa hoá kết quả có tính tới toàn bộ nguồn lực hoặc các yếu tố ràng buộc của sự phát triển kinh tế
Hiện nay, việc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội công nhân ở nước ta, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của các hoạt động sản xuất kinh doanh ở mọi loại hình doanh nghiệp đểu quan trọng và cần thiết Tốc độ tăng hiệu quả kinh tế kéo theo mức tăng hiệu quả xã hội và ngược lại Đương nhiên phải đạt được hiệu qảu kinh tế thì mới có điều kiện để giải quyết một cách tích cực các vấn đề xã hội Từ đó, hiệu quả xã hội được nâng cao lại tác động kích thích làm tăng hiệu qủa kinh tế
Trang 104 - Phương pháp phân chia bộ phận trong cơ cấu tổ chức.
4.1 - Phân chia theo thời gian:
Một trong những hình thức phân chia bộ phận lâu đời nhất thường được
sử dụng ở cấp thấp trong tổ chức là việc nhóm gộp các hoạt động theo thời gian (theo ca, theo kíp) Hình chức phân chia này thường áp dụng ở những đơn
vị phải hoạt động liên tục để khai thác công suất máy với hiệu quả cao hơn 4.2 - Phân chia theo chức năng:
Việc nhóm gộp các hoạt động cùng chuyên môn thành các chức năng được
sử dụng khá rộng rãi trong thực tế, ví dụ như trong một xí nghiệp có thể thành lập các bộ phận đảm nhiệm các chức năng như kỹ thuật, kế toán, sản xuất, nhân sự và kinh doanh (Hình 7.3) Trong mỗi bộ phận đó, lại tiếp tục phân công và thành lập những đơn vị nhỏ lo việc nghiên cứu marketing, tuyên truyền quảng cáo, phát triển sản phẩm mới, cung ứng nguyên vật liệu v.v Ưu nhược điểm của cách thức này được chỉ ra trong Hình 7.3.
Trang 11
4.3 - Phân chia theo lãnh thổ
Là cách thức được áp dụng khi xí nghiệp hoạt động trên một địa bàn khá rộng và thường thì kinh doanh những sản phẩm giống nhau Cách thức này cũng được áp dụng trong việc thành lập các bộ phận hành chánh sự nghiệp theo lãnh thổ, ví dụ các Phòng Thương nghiệp ở Quận, Huyện Nhà quản trị chọn cách thức này khi những đặc điểm của địa phương là quan trọng đối với đầu vào của sản xuất, hoặc đối với sự tiêu thụ sản phẩm Hình 7.4 chỉ ra việc phân chia bộ phận theo lãnh thổ của một công ty kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam và những ưu nhược điểm của cách thức phân chia này.
4.4 - Phân chia theo sản phẩm
Là cách thức tổ chức trong đó xí nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh nhiều sản phẩm, thành lập nên những đơn vị chuyên doanh theo từng loại sản phẩm Cách thức này được áp dụng khi các sản phẩm có qui trình công nghệ sản xuất
và chiến lược tiếp thị khác nhau Ví dụ, các công ty xe hơi ở Mỹ thường thành lập các nhà máy theo từng loại xe hơi Ưu điểm của cách thức này là nâng cao trình độ chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh, nhưng đồng thời cũng có những nhược điểm như cách thức phân chia theo lãnh thổ.
Trang 124.5 - Phân chia theo khách hàng
Phản ánh sự quan tâm của xí nghiệp đối với việc thỏa mãn các yêu cầu khác biệt nhau của từng loại khách hàng Hình 7.6 (trang sau) chỉ ra sự phân chia theo khách hàng và những ưu nhược điểm của cách thức phân chia này.
Cách thức tổ chức này được áp dụng rộng rãi trong các cơ sở kinh doanh, và càng ngày càng được áp dụng nhiều trong các cơ sở hành chánh sự nghiệp.
4.6 - Phân chia theo quy trình hay thiết bị
Cách thức phân chia này có thể được minh họa bằng ví dụ xí nghiệp hình thành bộ phận phụ trách việc xi mạ, bộ phận phụ trách sơn phủ, hoặc bộ phận
vi tính.
Tóm lại, có nhiều cách khác nhau để phân chia các bộ phận trong một tổ chức Tuy vậy, không có cách phân chia bộ phận nào là tốt nhất cho mọi tổ chức và cho mọi hoàn cảnh Nhà quản trị phải lựa chọn cho phù hợp nhất với hoàn cảnh đặc điểm tình huống cụ thể của tổ chức mình.