Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale tường trình với tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 rằng: “Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡ
Trang 1MỤC LỤC
Phần I : Mở đầu
1.1: Lý do chọn đề tài 2
1.2: Mục đích nghiên cứu 3
1.3: Phương pháp nghiên cứu 3
Phần II: Tổng quan nền giáo dục ở Việt Nam 2.1: Nền giáo dục Việt Nam trước 1975 4
2.2: Nền giáo dục Việt Nam sau 1975 6
2.3: Thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay 7
Phần III: Thực trạng thu học phí ở Việt Nam và các quốc gia đang phát triển 3.1: Thực trạng thu học phí ở Việt Nam 9
3.2: Thực trạng thu học phí ở các quốc gia đang phát triền .12
Phần IV: Có nên thu học phí hay không? 14
Phần V: Kết luận 19
Nguồn tài liệu tham khảo 22
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, chính phủ đã đưa ra nghị địnhmới, nội dung của nghị định này nhằm tăng học phí Sau khithông qua, thì nghị định này vấp phải nhiều ý kiến quan điểmkhông tán thành
Ý kiến đa số và đơn giản nhất chống lại nghị định này làcho rằng khi tăng học phí sẽ tăng gánh nặng cho những hộnghèo khi có con đang đi học Xét cho cùng mục đích của giáodục là tạo ra những ngồn lực tri thức cho toàn xã hội, từ đónhững tri thức đó dùng để sử dụng nhằm phát triển lại nềnkinh tế
Trong khi đó, ở các nước theo chế độ tư bản hiện nay nhưMỹ, Anh, Pháp, Thuỵ Điển…, hoặc ở các nước châu Á có nềngiáo dục tiên tiến như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapore… thì chuyện thu học phí ở các cấp phổ thông đốivới các trường công lập là không có
Vì vậy có thể nói thật không thoả đáng khi chúng ta phảiđóng học phí ở các cấp trung học, vậy câu hỏi chúng tôi muốnđặt ra trong bài viết này không phải là “có nên tăng học phíhay không?” Mà là “có nên thu học phí giáo dục hay không?”
1.1 Lý do chọn đề tài
Có thể thấy từ năm 1975 thì giáo dục Việt Nam đã trải quanhiều biến chuyển giai đoạn khác nhau, đã có nhiều chuyểnbiến mới nhất định, các nhà lãnh đạo đã nỗ lực cố gắng trongviệc đổi mới giáo dục cũng như phát triển hệ thống giáo dụccủa chúng ta Nhưng nền giáo dục mà Chính Phủ cung cấpvẫn được đánh giá là nền giáo dục yếu kém lạc hậu
Nói về nền giáo dục Việt Nam từ trước năm 1975 (cụ thể từ
1955 tới 1975), Arthur W Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại
học Yale tường trình với tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 rằng: “Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền
Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểmcủa nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợpnhững đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhấtđang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra”
Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng: “nền giáo dục Việt Nam
Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu giatăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người
Trang 3xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ởcác quốc gia phát triển”
Có rất nhiều thay đổi từ hai nền giáo dục nhưng một trong
số đó là chuyển đổi từ nên giáo dục miễn phí sang thu phí, vàliệu nó có ảnh hưởng gì tới nền giáo dục hiện tại của chúng tađang được thừa hưởng?
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp một cái nhìn tổng quát về nền giáo dục của ViệtNam trước và sau năm 1975 Ảnh hưởng của việc thu họcphí tới những người dân nghèo khó của Việt Nam
- Đưa ra nhiều cái nhìn đa chiều về việc thu học phí ở ViệtNam
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu vấn đề chủ yếu làphương pháp bàn giấy - thu thập, tổng hợp, phân tích tàiliệu thứ cấp (Báo, Tạp chí, Các báo cáo của Chính Phủ, Cácbài nghiên cứu về chuyên đề về nền giáo dục trong thờigian vừa qua )
Trang 4PHẦN II: TỔNG QUÁT NỀN GIÁO DỤC Ở
VIỆT NAM
2.1 Nền giáo dục Việt Nam trước năm 1975
Tổng quan:
Từ năm 1917 chính quyền thuộc địa của Pháp ở Việt Nam
đã có hệ thống giáo dục hoàn toàn miễn phí ở cả ba miềnBắc, Trung, Nam và cả Lào cùng Cao Miên Hệ thống giáo dụcthời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học.Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửađổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam,dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngônngữ phụ Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào ngày 17tháng 4 năm 1945, chương trình học của Việt Nam - còn gọi
là chương trình Hoàng Xuân Hãn ban hành trong khoảng thờigian từ 20 tháng 4 đến 20 tháng 6 năm 1945 dưới thời chính
dụng ở miền Trung và miền Bắc Riêng ở miền Nam, vì có sựtrở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếptục cho đến giữa thập niên 1950 Đến thời Đệ nhất Cộnghòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam đểthay thế cho chương trình cũ của Pháp Cũng từ đây, các nhàlãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnhđạo thực sự của mình
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộnghòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã bắtđầu xây dựng nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốcgia, tìm câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu.Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục,chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập,vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trườnghọc, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị Nhìnchung, người ta thấy mô hình giáo dục ở miền Nam ViệtNam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnhhưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu
tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, đểchấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng
và thực tiễn
Trang 5Triết lý giáo dục:
Theo Nguyễn Thanh Liêm trong một công trình nghiêncứu xuất bản tại Santa Ana năm 2006, và theo tài liệu Chínhsách văn hóa giáo dục của Hội đồng Văn hóa Giáo dục Việt
thể hiểu như sau:
Nhân bản: Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa
vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc,lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm cănbản; xem con người như một cứu cánh chứ không phảinhư một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêucủa bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác
Đề cao những giá trị thiêng liêng của con người Chủtrương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗingười và mọi người Triết lý nhân bản chấp nhận có sựkhác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhậnviệc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, vàkhông chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo,địa phương, tôn giáo, chủng tộc Với triết lý nhân bản,mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền đượchưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục
Dân tộc: Giáo dục tôn trọng giá trị đặc thù, các truyềnthống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệtới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia Giáo dục phảibiểu hiện, bảo tồn và phát huy được những tinh hoa haynhững truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc đểkhông bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóakhác Giáo dục còn nhằm bảo đảm sự đoàn kết vàtrường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàndiện của quốc gia
Khai phóng: Tinh thần dân tộc không nhất thiết phảibảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa Ngược lại, giáodục phải không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọngtinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thứckhoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinhthần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân
Trang 6loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xãhội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thếgiới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc
tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại
Mục tiêu:
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền ViệtNam Cộng hòa đề ra những mục tiêu chính cho nền giáo dụccủa mình Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lờicho câu hỏi: sau khi nhận được sự giáo dục, những người đihọc sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đốivới gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại:
Phát triển toàn diện mỗi cá nhân Trong tinh thần tôntrọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáodục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhântheo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quyluật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý Nhâncách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúngmức Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện
để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thôngtin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếutrung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào
Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh Điều nàythực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh
xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúphọc sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sởmình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của ngườidân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúphọc sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách
có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quêhương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia,những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp họcsinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phongtục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tựtin, tự lực, và tự lập
Trang 7Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học Điềunày thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức nhữngnhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thầncộngđồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phánđoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp pháttriển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh cókhả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
2.2 Nền giáo dục Việt Nam sau năm 1975
Tổng quan:
Nền giáo dục này là một sự tiếp nối của giáo dục thờiViệt Nam Dân chủ Cộng hòa và thừa hưởng một phần di sảncủa giáo dục Việt Nam Cộng hòa Khi hai miền Nam và Bắcthống nhất năm 1976 thì khuôn mẫu giáo dục ở miền Bắctiếp cận với hệ thống giáo dục đã được thiết lập ở miền Nam;
cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học ở miềnBắc phải phù hợp với học trình 12 năm ở trong Nam Hai hệthống này song hành; Miền Bắc tiếp tục hệ 10 năm và miềnNam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm 1981 thì cho ápdụng hệ 12 năm cho toàn quốc Năm 1975 cũng là năm giảithể tất cả những cơ sở giáo dục tư thục từng hoạt động ởmiền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa
Triết lý giáo dục:
Giáo dục Việt Nam sau năm 1975 chưa có lời phát biểu
rõ ràng và chính thức về triết lý giáo dục của mình Có ngườicho rằng Việt Nam cần thiết phải có một triết lý giáo dục vàđặt vấn đề là phải chăng giáo dục Việt Nam chưa có một triết
lý phù hợp với nhu cầu đổi mới và hội nhập Tháng 9 năm
2007, Học viện Quản lý Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đàotạo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Triết lý giáo dục ViệtNam" nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi: Triết lý giáo dục
là gì? Việt Nam đã có triết lý giáo dục chưa? Tại sao triết lýgiáo dục lại quan trọng? Ở hội nghị này, nhiều đại biểu cho
Trang 8rằng nền giáo dục Việt Nam từ trong truyền thống và hiệnđại đều có triết lý giáo dục, thể hiện qua những câu như:
"Không thầy đố mày làm nên"; "Muốn sang thì bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu mến thầy"; "Học thầy không tàyhọc bạn"; "Tiên học lễ, hậu học văn"; "Học phải đi đôi vớihành"; "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm nămtrồng người"; "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"; Tuyvậy, theo tường trình của Tạp chí Cộng Sản, hội nghị này vẫnchưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về triết lý giáo dụccủa Việt Nam
có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vữngnhững quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội, có năng lựctổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết nhữngvấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tế nước
ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuậttiên tiến trên thế giới"
2.3 Thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay.
Lâu nay giáo dục Việt Nam luôn chú trọng tới việc sốlượng sinh viên mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệthanh niên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát
Trang 9triển đất nước Hàng loạt kỹ sư, cử nhân Việt Nam ra trườngnhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được trình độ kỹ thuậtcủa kỹ sư? Bao nhiêu người dùng được? Bao nhiêu người làmviệc theo đúng ngành nghề mình đã học, đó là một sự lãngphí lớn Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hoá -hiện đại hoá, và đang chuẩn bị cho cuộc hội nhập quốc tế, vìvậy đòi hỏi trình độ sinh viên cũng như những doanh nghiệpphải tăng cao.
Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh
mà không chữa trị, đua nhau nhồi nhét học thuộc lòngtheo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, nămnào thi cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặclang thang trên đường phố, ma túy trong học đường, ýthức công dân rất kém Càng nói càng thấy nguy cơ,nhưng không thấy xã hội thật sự quản ngại vì bao nhiêunăm rồi chưa thấy biện pháp giải quyết, chỉ nghe đượcnhững hứa hẹn cải cách Giáo dục Việt Nam muốn pháttriển phải giải phẫu đúng bệnh Bệnh chẩn đoán đúngnhưng không chịu giải phẫu thì làm sao chữa trị? Thực tế,các cơ quan chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáodục nước nhà Trong các cuộc hội thảo, hầu như mỗi vấn
đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sainhưng điều lạ lùng là nó không được đúc kết để đưa vàothực hiện thực tế Tình trạng “nói” nhưng không “làm” làcăn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội chứ không phải của riêng ngành giáodục Việt Nam
Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cậpchậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp,quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng;
so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nộidung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạchậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt vớiđời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huytính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
Trang 10Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút,nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quantâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề”vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lốisống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thựchành, kỹ năng sống…
Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém,bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu củanhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậmđổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau,nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực kháccủa đất nước
Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầuđổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dụcchưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứukhoa học giáo dục còn nhiều bất cập
Có thể nói rằng giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu,thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư, nâng cấp
Trang 11PHẦN III : THỰC TRẠNG THU HỌC PHÍ Ở VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN
3.1 Thực trạng thu học phí ở Việt Nam
Chi tiêu cho giáo dục ở VN năm 2005 chiếm 8,3% GDP,vượt cả Mỹ chỉ có 7,2% Trong chi tiêu trên, dân các nướcphát triển cao chi trả 20%, còn ở Việt Nam dân chi trả tới40% Phần còn lại là nhà nước chi trả Tuy nhiên, do việcquản lý tổ chức giáo dục bất hợp lý, trường phải thu thêm,trò phải học thêm nên so với lương chính thức năm 2004 củagiáo viên tính bình quân chỉ có 14 triệu đồng, thu nhập thậtgồm lương chính thức và phụ thu bình quân một giáo viên cóthể đạt ít nhất là 31 triệu đồng, tức là hơn gấp đôi lươngchính thức Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục cao như thế, nhưngmôt điều đáng lo lắng mà ít người để ý là số học sinh tiểuhọc, cơ sở của bất cứ một nền giáo dục nào, hình như đang
bỏ học hoặc không đi học Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, số HStiểu học đang giảm, từ 9,7 triệu (năm 2000) xuống 7,8 triệu(năm 2004) trong khi dân số vẫn tăng Tình hình này khóhiểu Phải chăng dân nghèo không đủ sức gửi con đến trườnghay là do một lý do nào khác? Bộ GD - ĐT cần có một câu trảlời về vấn đề này
Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trên GDP là 8,3% vượt xa cácnước phát triển cao thuộc khối OECD kể cả Mỹ, Pháp, Nhật
và Nam Triều Tiên Có người cho rằng cần phải so sánh dựatrên chi phí tính bằng tiền đô la Mỹ, và như thế chi phí chomột HS ở Việt Nam rất thấp Nhưng điều này không hợp lý vìcác nước có trình độ phát triển khác nhau Chỉ có so sánhdựa vào khả năng chi phí của nền kinh tế mới có giá trị phântích: đó chính là tỷ lệ chi phí trên GDP
Trên một tờ báo của BBC nói trước những năm 1975 ởmiền Nam chính quyền đã tập chung cho nền giáo dục tiểuhọc và mần non Thâm chí những trẻ em ở thời kỳ này cònđược ăn bánh mỳ và uống sữa miễn phí Ngoài ra nhờ chia sẽtrách nhiệm với tư nhân, chính phủ đã cung cấp một đời sống
cơ bản cho nền công chức giáo dục Nhờ đó giáo dục miềnNam đã xây dựng được nền giáo dục có giá trị quốc tế lúcbấy giờ Đến năm 1975, hằng ngàn trường tư thục và cácviện đại học đã bị tịch thu và nhập vào hệ thống giáo dục
Trang 12theo mô hình Xô Viết Hệ thống này đến nay cũng không
mấy thay đổi, vẫn độc quyền và chính trị hóa giáo dục
Vậy học phí đã tăng như thế nào qua các năm gần đây
Từ năm 2015-2016 thì học phí sẽ không chia theo từng
cấp học như trước nữa mà chia theo khu vực sinh sống của
học sinh cụ thể được thể hiện theo các bảng sau:
Mức trần học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ
thông (đơn vị nghìn đồng/tháng/học sinh):
300.000 Học phí được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng bình quân hàng năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo
120.000 Học phí được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng bình quân hàng năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo
60.000 Học phí được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng bình quân hàng năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo
Trang 13Mức trần học phí qua các năm đối với cơ sở giáo dục
đại học công lập chưa tự chủ tài chính (triệu
Nông - Lâm - Thuỷ sản
Khoa học xã hội, kinh tế, luật
Mức trần học phí đối với giáo dục đại học công lập
được tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên (đơn vị
triệu đồng tháng/sinh viên):
Khối ngành, chuyên ngành đào tạo
Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản
Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch
Y dược
Như vậy có thể thấy được, trong tương lai học phí giáo
dục của Việt Nam hiện nay sẽ tăng qua từng năm, trong khi
đó các nước phát triển lại có xu hướng giảm học phí về con
số 0 như Đức, Phần Lan, Pháp, Thuỵ Điển…
3.2 Thực trạng thu học phí ở các quốc gia đang phát
triển.
Đức:
Bắt đầu từ đầu tháng 10/2014, các đại học tại Đức miễn
học phí cho sinh viên Trước đó, mức học phí đại học tại đây
đã luôn ở mức thấp Hiện nay, công dân Đức và ngay cả
người nước ngoài, đều được miễn học phí đại học
Giải thích về sự thay đổi này, thượng nghị sĩ tại TP