1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quy luật chuyển hóa giữa lượng và chất vận dụng quy luật lượng chất vào việc phát triển hệ thống ngân hàng sacombank hiện nay

20 1,1K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 136,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy luật “từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại” là 1 trong 3 quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển.. Hê

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -Tên tiểu luận:

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -Teân

Trang 3

Lời cảm ơn

Chúng tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến trường ĐH CÔNG NGHIỆP TP.HCM đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập và nghiên cứu

Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy HUỲNH NGỌC BÍCH người đã trực tiếp giảng giạy và hướng dẫn, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn tiểu luận của chúng tôi sẽ còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy giáo và các bạn

Trang 4

A Lời mở đầu

Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện tượng, từ

đó hình thành nên khái niệm “quy luật’’ Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học, phản ánh sự liên hệ giữa các sự vật và tính chỉnh thể của chúng

Các quy luật của tự nhiên, của xã hội củng như của tư duy con người đều mang tính khách quan Con người không thể tự tạo ra hay tự ý xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhận thức và vận dụng nó trong thực tiễn

Quy luật “từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại”

là 1 trong 3 quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển Nhận thức được quy luật này rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật hiện tượng Nếu nhận thức không đúng quy luật này sẽ dẫn đến tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh Tả khuynh là phủ nhận sự tích lũy về lượng, muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh là khi chất đã biến đổi vượt quá giới hạn độ nhưng không dám thực hiện sự thay đổi căn bản về chất

Nước ta đang quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển của CNTB, việc

nhận thức đúng đắn quy luật lượng-chất sẽ có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành

và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trong phạm vi của tiểu luận này, tôi xin được trình bày những cơ sở lý luận chung về nội dung của quy luật lượng-chất, trên cơ sở đó rút ra quy luật thực tiễn của việc nhận thưc quy luật này, sự vận dụng quy luật này để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Đối tượng cụ thể ở đây chúng tôi sẽ nghiên cứu về việc vận dụng các quy luật trên vào hệ thống phát triển của ngân hàng SacomBank

Trang 5

B Nội dung Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

I PHẠM TRÙ “CHẤT” VÀ “LƯỢNG”

Theo Arixtốt, “chất” là tất cả những gì có thể phân ra thành những bộ phận cấu thành, còn “lượng” được phân thành hai loại: số lượng (là loại lượng mang tính rời rạc)

và đại lượng (là loại lượng mang tính liên tục) Ông cũng đạt được bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu phạm trù “độ”, xem “độ” là cái thống nhất, cái không thể phân chia giữa “chất” và “lượng”

Quan điểm biện chứng về “chất” và “lượng” đạt được bước phát triển mới trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt là trong triết học Hê ghen Với quan điểm biện chứng, Hêghen cho rằng chất phát triển từ “chất thuần túy” đến “chất được xác định”, chất phát triển đến tột độ thì ra đời lượng Lượng cũng không ngừng tiến hóa, “số lượng” là đỉnh cao nhất trong sự tiến hóa của lượng Hê ghen cũng xem xét tính độc lập tương đối giữa

sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất trong một khoảng nhất định, đó là cơ sở để hình thành phạm trù “độ”

Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác

Thuộc tính là một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật, nó được bộc lộ ra trong mối quan hệ qua lại với sự vật khác Do vậy, để nhận thức được chất với tư cách là

sự tổng hợp tất cả các thuộc tính vốn có của nó, chúng ta phải nhận thức sự vật trong tổng hợp các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với sự vật khác

Mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật cũng có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính lại trở thành một chất Điều đó cũng có nghĩa là mỗi sự vật có vô vàn chất Cho nên khi diễn đạt tính không thể tách rời giữa chất và sự vật cũng như tính nhiều chất của nó Ph Ăng ghen cho rằng, những chất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật

Trang 6

có vô vàn chất lượng mới tồn tại Mỗi sự vật có vô vàn thuộc tính Các thuộc tính khác nhau có vị trí không như nhau, trong đó, có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sự vật Ở mỗi một sự vật chỉ

có một chất cơ bản, đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật

Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc của sự vật, bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó Trong tự nhiên và trong xã hội có không ít sự vật, mà xét riêng về các yếu tố cấu thành, chúng hoàn toàn đồng nhất, nhưng các sự vật đó lại khác nhau về chất Việc nắm được tính cấu trúc của sự vật cho phép hiểu được vì sao sự thay đổi hay mất đi của một số thuộc tính này hay thuộc tính khác của sự vật nhưng không trực tiếp dẫn đến thay đổi

chất của nó Chẳng hạn, ngày nay do tiến bộ khoa học – công nghệ, do đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà sự quản lý trực tiếp của nhà tư bản đối với

doanh nghiệp có xu hướng giảm, giai cấp tư sản ở một số nước thực hiện chủ trương cổ phần hóa một bộ phận cho những người lao động, trung lưu hóa một bộ phận đáng kể dân

cư, nhưng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất vẫn tồn tại, quan hệ giữa tư bản với lao động vẫn là quan hệ bóc lột và bị bóc lột Bởi vì, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối vẫn do quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa quy định Có thể nói, tuy có một số thay đổi như nêu trên, nhưng ở các nước đó, chủ nghĩa tư bản vẫn là chủ nghĩa tư bản Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi những yếu tố cấu thành, nó còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó Tính xác định về chất của một loại đối tượng nào đó là tính như nhau của các đối tượng đó Giữa các đối tượng thuộc cùng loại

có thể có sự khác nhau về lượng Chúng có thể lớn hơn hay nhỏ hơn, chúng có thể khác nhau về thể tích, về đại lượng Như vậy ngoài tính quy định về chất, bất kỳ sự vật nào cũng có tính quy định về lượng Đối với các đối tượng cùng loại, lượng là cái nói lên mặt đồng nhất giữa chúng Trong thực tế, như trên đã đề cập, ngay các đối tượng cùng loại cũng có nhiều thuộc tính không như nhau Từ những đối tượng vốn rất đa dạng đó, muốn

Trang 7

tìm ra sự đồng nhất để từ đó đi đến ý niệm về lượng, đòi hỏi phải có sự trừu tượng hóa, tư duy bỏ qua tất cả những sự khác nhau vốn có thật của các đối tượng cùng loại

Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật

về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy

mô, nhịp điệu của sự vận động và phát triển – tức là được thể hiện trong các thuộc tính không gian, thời gian của các sự vật và hiện tượng Lượng cũng mang tính khách quan, con người không thể sáng tạo ra hay hủy bỏ được lượng của sự vật Những đặc trưng về lượng (đặc biệt là đại lượng) cũng được biểu hiện trong những mối quan hệ nhất định

Trong thực tế có những thuộc tính về lượng của sự vật không thể biểu thị một cách chính xác bằng số lượng hay đại lượng Thí dụ, trình độ giác ngộ cách mạng, phẩm chất

tư cách đạo đức của một người Trong những trường hợp như thế, để có tri thức đúng đắn

về lượng phải có sự trừu tượng hóa cao với một phương pháp khoa học Không chỉ chất

mà ngay cả thuộc tính về chất cũng có tính quy định về lượng Do vậy, một sự vật có vô vàn lượng

II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG VÀ THAY ĐỔI VỀ CHẤT

Bất kì sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt : lượng và chất Chúng gắn bó hữu cơ với nhau, quy định lẫn nhau trong đó lượng là cái thương xuyên biến đổi, chất là cái tương đối ổn định, lượng biến đổi đến một mức độ nhất định sự vật chuyển hóa, chất mới ra đời thay thế chất cũ,

Sự chuyển hoá cũng có thể diễn ra sau một quá trình tích luỹ những thay đổi về

lượng trong một khoảng giới hạn nhất định, mới dẫn tới sự thay đổi về chất.

Thí dụ : Trạng thái (“chất”) của nước tương ứng với nhiệt độ toC (“lượng”) của

nó Trong khoảng OoC < toC < 100oC thì nước vẫn ở trạng thái lỏng (“chất cũ”) Chỉ khi

tới giới hạn toC = 100oC và tiếp tục cung cấp nhiệt lượng để duy trì nhiệt độ đó, nước

Trang 8

mới chuyển sang trạng thái hơi (“chất mới”) Khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi

về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi là độ

– Độ là một phạm trù triết học, dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.

Phạm trù độ cũng nói lên sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật Trong thí

dụ trên, khoảng từ OoC đến 100oC là đo tồn tại của nước ở trạng thái lỏng Tại điểm giới hạn (trong thí dụ trên là OoC và 100oC) Độ tiếp tục biến đổi tới một giới hạn nhất định

để làm thay đổi về chất, sự thay đổi tại điểm tới hạn gọi là Điểm nút

– Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó, sự thay đổi

về lượng đủ để làm thay đổi về chất của sự vật.

Sự vật phát triển thông qua những độ khác nhau, do đó tạo thành một đường nút của những quan hệ về độ trong quá trình phát triển Tại điểm nút, sự thay đổi vế chất của

sự vật được gọi là bước nhảy

– Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật Sự chuyển hoá được thực hiện là do sự thay đổi về lượng trước đó của sự vật gây ra.

Bước nhảy có thể là bước nhảy tiến bộ, cũng có thể là bước nhảy thoái bộ, tuỳ theo sự tích luỹ về lượng trước đó trong các trường hợp cụ thể khác nhau

Các hình thức của bước nhảy

Bước nhầy đột biến là bước nhảy thực hiện trong thời gian rất ngắn lamg thay đổi

chất của toàn bộ kết cấu sự vật

VD: lượng uranium 235 đuợc tăng đên giới hạn nhất định sẽ tạo ra vụ nổ nguyên tử

Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ từng bước băng cách tích

lũy dân dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi

Trang 9

VD: Từ chất của một sinh viên sang chất của một cử nhân phải có quá trình tích lũy kiến thức nâu dài suốt 4 năm

Căn cứ vào các hình thức của bước nhẩy có bước nhày toàn bộ và bước nhảy cục bộ

Bước nhảy toàn bộ là bước nhẩy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt các yếu tố

cấu thành sự vật

Bước nhảy cục bộ là bước nhảy thay đổi của những mặt những yếu tố riêng lẻ của

sự vật

+ Sự tác động trở lại của chất đối với lượng Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất là lượng Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng

III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi

- Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy

- Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy

- Phải thấy được tính đa dạng của các bước nhảy, nhận thức được từng hình thức bước nhảy, có thái độ ủng hộ bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thực hiện một cách kịp thời

- Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chín muồi

Trang 10

Phần thứ 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT CHUYỂN HÓA “LƯỢNG - CHẤT” TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG SACOMBANK HIỆN NAY.

I Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng Sacombank.

1 Giới thiệu chung

▪ Loại hình: Doanh nghiệp cổ phần.

▪ Ngành nghề: Tài chính tiền tệ.

▪ Thành lập: 5.12.1991.

▪ Thành viên chủ chốt: Đặng Văn Thành – Chủ tịch hội đồng quản trị.

▪ Tổng số tài sản: 4494 tỷ đồng.

▪ Nhân viên: 6000.

▪ Chi nhánh: Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch.

2 Giai đoạn đầu (1991 -1998)

▪1991: Được thành lập tại TPHCM từ việc hợp nhất Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò

Vấp cùng với 3 hợp tác xã tín dụng là tân Bình, Thành Công và Lữ Gia

▪1993: Là ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương chi nhánh tại Hà Nội,

phát hành kỳ phiếu có mục đích và thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh từ Hà Nội đi TP.HCM và ngược lại

▪1995: Tiến hành Đại hội đại biểu cổ đông cải tổ, đồng thời hoạch định chiến lược phát

triển đến năm 2010 Ông Đặng Văn Thành được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng

▪1996:Khởi đầu với số vốn điều lệ ban đầu vỏn vẹn 3 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động chủ

yếu xung quanh các quận vùng ven TPHCM với 1 hội sở và 3 chi nhánh Với sáng kiến pháthành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá 200000 đồng/cổ phiếu, vốn điều lệ của

Trang 11

Sacombank đã tăng từ 23 tỷ đồng lên71 tỷ đồng với gần 9000 cổ đông tham gia góp vốn, qua đó bước đầu xác lập được năng lực tài chính đối với quá trình phát triển của Sacombank

▪1997: Tiên phong thành lập tổ tín dụng ngoài địa bànđể đưa vốn về nông thôn, góp phần

cải thiện đời sống của các hộ nông dân và hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nền kinh tế

3 Giai đoạn 2 (1999 - 2010)

▪ 1999 – 2001:Vốn điều lệ từ 71 tỷ đồng tăng lên 190 tỷ đồng, nâng cấp trụ sở các chi

nhánh trực thuộc, mở rộng mạng lưới đến hơn 20 tỉnh thành và các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời xác lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên khắp thế giới Đồng thời Sacombank trở thành thành viên của Hiệp Hội Viễn Thông Liên Ngân Hàng toàn cầu (SWIFT),Visa và Master Card

▪2001 – 2005: Với sự tham gia gópvốn của 3 cổ đông nước ngoài là các tổ chức tài chính

ngân hang mạnh trên thế giới và khu vực đã hỗ trợ Sacombank tiếp cận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản trị điều hành hiện đại, chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

▪ 2006:Cổ phiếu của Sacombank được niêm yết trên trung tâm giaodịch chứng khoán

TPHCM Đặc biệt trong giai đoạn 2000-2006, khi thị trường chứng khoán Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, đây cũng là giai đoạn Sacombank bùng nổ phát triển về vốn và các chi nhánh

▪ 2008:

- Tháng 11, thành lập công ty vàng bạc đá quý Sacombank – SBJ

- Tháng 12, là ngân hàng TMCP đầu tiên của VN khai trương chi nhánh tại Lào

▪ 2009:Khai trương chi nhánh tại PhnômPênh, mở rộng mạng lưới tại khu vực Đông

Dương

▪ 2010: Kết thúc thắng lợi các mục tiêu phát triển giai đoạn 2001 - 2010 với tốc độ tăng

trưởng bình quân đạt 64%/năm

Trang 12

4 Hiện nay

▪ Hiện nay, Sacombank có vốn điều lệlà 4.494 tỷ đồng, được coi là ngân hàng thương mại

cổ phần có vốn điều lệ và hệ thống chi nhánh lớn nhất Việt Nam

▪ Nâng cấp thành công hệ thống ngân hàng lõi (core banking) T24 từ phiên bản R8 lên R11 hiện đại nhằm phát huy năng lực quản lý, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và tăng cường sức cạnh tranh cho Sacombank

▪ Trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam hiện nay, Sacombank là một trong số các ngân hàng có quy mô tổng tài sản và mạng lưới lớn nhất Theo số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy hiện nay Sacombank có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động ổn định, hiệu quả, tuân thủ đầy đủ các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng theo quy định của NHNN

▪ NHNN với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với Sacombank khẳng định: Đến nay Sacombank vẫn đang tiếp tục hoạt động bình thường

▪ Trong quý II/2012, Sacombank thu về hơn 530, 6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 22,4% so với cùng kì năm ngoái Lũy kế 6 tháng đầu năm, con số này là 1296,1tỷ đồng, tăng gần 14% so với lũy kế cùng kì năm 2011

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w