1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quản lí môi trường và thực hiên hạch toán đối với các ngành công nghiệp tác động đến môi trường tại malaysia

28 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 321,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Burritt, Hahn, và Schaltegger 2002 phân chia chi phí và những dòng vật lýthành những gì mà họ gọi là tiền tệ EMA MEMA và vật chất EMA PEMA.MEMA, như là một phần của việc phân biệt môi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC HIÊN HẠCH TOÁN ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TẠI MALAYSIA

GVHD: Trần Nhật Lam Duyên

Trang 2

2.4 Các sáng kiến của Chính Phủ trong việc thúc đẩy EMA

2.5 Báo cáo môi trường và EMA

CHƯƠNG 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung bài viết

3.1.1 Malaisia và môi trường

3.1.2 Quan điểm lí thuyết

3.1.3 Báo cáo môi trường ở Malaisia

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Mô tả phương pháp nghiên cứu

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu của bài viết

CHƯƠNG 5:

KẾT LUẬN

ÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỤC LỤC BẢNG

BẢNG 1: Số lượng các công ty truy cập

BẢNG 2: Số người tham gia công ty được phỏng vấn

BẢNG 3: Mức độ thực hiện EMA

BẢNG 4: Loại tác động môi trường hàng năm/các đánh giá kiểm toán khác

Trang 4

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 GIỚI THIỆU:

Hạch toán môi trường xuất hiện khoảng những năm 1970 qua nhận thức ngày mộttăng về môi trường và sự quan tâm tới an sinh xã hội-môi trường Có 3 đặc điểmquan trọng: hạch toán thu nhập quốc dân, kiểm tra các biện pháp kinh tế vĩ môtrong nền kinh tế quốc gia; hạch toán tài chính, bao gồm các công ty dự toán vàbáo cáo vấn đề môi trường đến công chúng; và hạch toán quản lý trong việc quyếtđịnh và thực hiện các dữ liệu môi trường

Hạch toán quản lý trong hạch toán môi trường là phần có sẵn qua các báo cáohằng năm, báo cáo phát triển bền vững và các phương tiện truyền thông Nhữngnghiên cứu về môi trường cũng được xem là tài liệu Ngược lại, thông tin hạchtoán quản lý liên quan đến hoạt động doanh nghiệp là những thông tin nôi bộ vàtiết lộ này sẽ không có ích hạch toán quản trị Ví dụ , các công ty có thể hànhđộng chủ động có thể ngăn chặn hoặc ít nhất là giảm thiểu nguy cơ suy thoái môitrường qua hoạt động của mình Một công cụ hạch toán quản trị chiến lược để đolường và giám sát những hành động này là hoạt động hạch toán quản lý môitrường (EMA) Nghiên cứu này xem xét việc thực hiện EMA trong việc ra quyếtđịnh trong ngành công nghiệp nhạy cảm với môi trường và sáng tỏ nhận thức củacán bộ chủ chốt tham gia trực tiếp việc xem xét, bảo tồn môi trường trong cáccông ty của họ

1.2 TÀI LIỆU:

-Mục tiêu của EMA là để tối ưu hóa lợi ích môi trường và kinh tế của công ty quaviệc sử dụng thông tin tài chính và phi tài chính Từ quan niệm đó , việc thực hiệnEMA đã được thống nhất dù lây lan chậm

- Học viện hạch toán quản lý (CIMA) đã thực hiện một cuộc khảo sát năm 2009cho thấy EMA ít sử dụng chiến lược hạch toán quản lý thứ hai và chỉ được sửdụng cho các công ty lớn phù hợp với quy định chặt chẽ như lượng khí thải carbon

và khí thải trong sản xuất kinh doanh

-Tương tự, mặc dù quy định rằng các công ty phải báo cáo đánh giá tác động môitrường (EIA) và được sự chấp thuận của các cơ quan có liên quan trước để xử lývấn đề môi trường tiềm năng khi được tiến hành các dự án chứ không phải là giám

sát và kiểm khi bắt đầu các dự án nhưng những báo cáo này chỉ bao gồm các công

Trang 5

ty có kế hoạch như thế nào soát quản lý thực tế (ví dụ: nhiên liệu , nước và chấtthải).

Trang 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1 Định nghĩa về EMA:

-Có nhiều định nghĩa về EMA Ví dụ như:

+ Savage, Ligon, và Lomsek (2001, p định nghĩa về EMA là: Việc gia nhập, tổnghợp, đánh giá, báo cáo nội bộ, và việc sử dụng những thông tin dòng vật lý ( ví dụ:vật chất, nước, và những dòng năng lượng), thông tin chi phí môi trường, vànhững thông tin tiền tệ khác cho việc ra quyết định thông thường và môi trườngtrong một tổ chức

+ Burritt, Hahn, và Schaltegger (2002) phân chia chi phí và những dòng vật lýthành những gì mà họ gọi là tiền tệ EMA (MEMA) và vật chất EMA (PEMA).MEMA, như là một phần của việc phân biệt môi trường kế toán thông thường, kếthợp chặt chẽ những tác động tiền tệ của công ty về môi trường tự nhiên PEMAtập trung vào những tác động vật lý của công ty, thể hiện bằng đơn vị vật lý, chẳnghạn như kg

-Một vài định nghĩa bao gồm những yếu tố bên ngoài như một thành phần hợpthành chi phí Những yếu tố bên ngoài là những chi phí mà “nằm ở bên ngoài côngty”, là những ảnh hưởng về môi trường và xã hội về cơ bản đã gây ra cho côngchúng (Jasch, 2003) Cả Schaltegger và Burritt (2000) và Liên Hợp Quốc DSD(2001) không đáp ứng đủ những yếu tố bên ngoài như một phần của chi phí EMAnói rằng họ chỉ là ảnh hưởng của những quyết định sai lầm Ví dụ, khi sự ô nhiễmnước là ảnh hưởng của việc vứt bỏ những chất thải độc hại xuống sông, các công

ty không nên tính đến việc dọn dẹp sựu ô nhiễm như một chi phí EMA

-IFAC tuyên bố rằng các yếu tố bên ngoài mà ảnh hưởng đến môi trường và xã hộinên được đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ thông qua việc sử dụng các biệnpháp chính trị như những thuế sinh học, mà nên được tích hợp vào những tính toánchi phí của công ty, và không được tính đến như một phần của chi phí EMA (HộiLiên Hiệp DSD, 2001) Graff và các cộng sự của mình (1998) tin vào việc thừanhận các chi phí vật chất và môi trường trong việc ra quyết định kinh doanh Họtin rằng việc liên kết các mục tiêu tài chính với mục tiêu môi trường sẽ cung cấpmột kết quả cuối cùng về sự cải thiện tài chính và môi trường, vì vậy cần tránhđánh giá thấp lợi nhuận Nhân tố quan trọng trong quan điểm này là xác địnhnhững gì được xem là chi phí môi trường

Trang 7

-Thay vì bỏ mọi chi phí thù và do đó làm cho các quyết định kinh doanh tốt hơn.Bennett và James (2000) quan tâm nhiều hơn về cách thông tin môi trường được

sử dụng trong kinh doanh ra quyết định Họ cho rằng mặc dù kế toán quản lý môitrường liên quan đến phụ thuộc nhiều vào thông tin phi tài chính, các thông tin rấthữu ích để hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đảm bảo kinh doanh môi trường, cáccông ty cần phải có khả năng phân bổ chính xác các chi phí này vào chi tiêu đặcbền vững

-Người ta có thể kết luận rằng, như các nhà quản lý của các công ty có khả nănghành động và đánh giá một cách thông minh và có trách nhiệm, quyết định hiệuquả và thận trọng dựa trên dữ liệu có liên quan và hiện tại, họ phải có trách nhiệm

và chịu trách nhiệm về những tác động của các quyết định đó Một cách để làmđiều này sẽ bao gồm yếu tố bên ngoài trong việc ra quyết định và không chỉ tiết lộnhững nỗ lực về môi trường và xã hội để hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh của

họ với thế giới

2.2 Sự quan trọng của EMA trong việc đưa ra quyết định:

-EMA đang được thực hiện dưới các hình thức khác nhau đã được khuếch tán vớithông lệ kế toán quản trị thông thường (Rikhardsson et al., 2005) Mối quan tâm

về việc thực hiện EMA thực sự sẽ làm tăng lợi nhuận và những lo ngại về sự cầnthiết phải đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng trước khi bắt đầu EMA có thể cản trở việcthực hiện (Nik Muhammad và cộng sự, 2004; Wagner và cộng sự, 2002) Tuynhiên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công ty đã thực hiện hạch toán môi trường đã

có thể thu được kết quả tích cực về môi trường và kinh tế của họ (Klassen vàMcLaughlin, 1996; Leal và cộng sự, 2003; Sulaiman và Nik Ahmad, 2006, EPA

Úc, 2003 )

-Mặc dù nhận thức về môi trường ngày càng tăng và thái độ ' xanh ' trong khu vựcdoanh nghiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện các hoạt động môitrường thân thiện là thấp ( Gadenne , Kennedy , và McKeiver , 2009) Trường hợpnghiên cứu của Masanet - Llodra (2006 ) cho thấy phi lý có thể tồn tại giữa chiếnlược và môi trường của một công ty hành vi môi trường của nó được phản ánhtrong hành động Nói cách khác, một công ty có thể xuất hiện được đánh giá caomôi trường cam kết trong khi trong thực tế cam kết này đã không được dịch thànhhành động

Trang 8

-Trong một cuộc khảo sát về nhận thức và thực hành của các doanh nghiệp vừa vànhỏ môi trường (SMEs), Gadenne et al (2009 ) xem xét mối quan hệ giữa ảnhhưởng từ khác nhau

các bên liên quan và nhận thức về vấn đề môi trường Kết quả cho thấy rằng phápluậtkhông kết quả trong nhận thức môi trường nói chung và , do đó, công ty sẵnsàngthay đổi quy trình kinh doanh và chiến lược môi trường Tuy nhiên, một trởngại lớn cho chủ sở hữu / quản lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là thiếu nguồnlực tài chính để thực hiện môi trường hệ thống quản lý trong công ty của họ Do

đó, để nâng cao nhận thức môi trường và chuyển nó thành hành động , các công ty

có thể cần sự giúp đỡ bên ngoài và thậm chí cả một sự thúc đẩy từ khác các bênliên quan Hơn nữa, EMA phải được đáp ứng nhu cầu đặc biệt của công ty chứkhông phải hơn được áp dụng như một hệ thống chung ( Sendroiu et al , 2006).Rikhardsson et al (2005) khẳng định rằng cho dù sử dụng EMA là một sự lựachọn hiệu quả cho việc ra quyết định , kết quả của áp lực từ lực lượng khác hoặcmột hành động của sự đổi mới , tác động của EMA được tăng cường khi các công

ty sử dụng

-EMA như một công cụ để hỗ trợ việc ra quyết định , kết hợp nó trong tất cả cáccấp hoạt động , không chỉ sử dụng nó trong một thời gian ngắn thời gian hay vìnhững người khác đang làm nó

-Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên thực hiện EMA đang không khuyến khích vì

nó là xem xét thứ hai phổ biến nhất của các công cụ kế toán quản trị chiến lược 18( Ross & Kovachev , 2009) Ross và Kovachev (2009) cho rằng sự cần thiết phảituân thủ 7 quy định (ví dụ như lượng khí thải carbon , kinh doanh phát thải ) có thể

là lý do tại sao lớn hơn

Các công ty đang sử dụng EMA so với các công ty vừa và nhỏ Các CIMA (2009)khảo sát đặt ra câu hỏi liệu vấn đề môi trường đang được giải quyết trong ra quyếtđịnh quản lý và liệu kế toán quản lý môi trường liên quan đến Cần có quy địnhhoặc ít nhất là thúc đẩy bằng cách khuyến khích để đảm bảo môi trường hơn xemxét đang được giải quyết trong việc đưa ra quyết định nội bộ

2.3 Ứng dụng của EMA:

-Mục tiêu chung của EMA là bao gồm chi phí về môi trường (hoặc tiền tệ hoặc phitiền tệ) vào việc ra quyết định ở mọi cấp độ trong tổ chức Các chi phí này có thể

Trang 9

được bắt nguồn từ các sản phẩm cụ thể hoặc các trung tâm chi phí và khi họ khôngtheo dõi , họ có thể kết hợp và phân bổ chi phí trung tâm ( Burritt , 2000 ; Ditz ,Ranganathan , và ngân hàng , năm 2000; Schaltegger & Muller , 2000) Việc xácđịnh và bao gồm các chi phí môi trường trong quyết định làm có thể cung cấp cáctính toán chính xác chi phí mà sau đó cho phép kiểm soát hiệu quả và việc giảmcác loại chi phí ( Ferreira , Moulang , và Hendro , 2010) Sử dụng EMA cũng cóthể có một tác động tích cực trên cả hai môi trường và tài chính( Schaltegger &Muller , 2000).

-Trong điều kiện thực hiện , EMA khác các công cụ phổ biến chiến lược quản lý

kế toán, như phân tích SWOT hoặc Boston ma trận

-EMA là một công cụ thích hợp thực hiện , làm thay đổi theo phạm vi hoạt độngcũng như các loại chi phí có tác động đáng kể đến môi trường , trong đó có các chiphí mà cần phải được kiểm soát và theo dõi Nghiên cứu trên EMA cũng khanhiếm ( Rikhardsson , Bennett , Bouma , và Schaltegger , 2005) , trừ tổng hợp cácnghiên cứu của Bennett James (2000) , Schaltegger và Burritt (2000) vàRikhardsen , Bennett , Bouma và Schaltegger (2005) tiến hành tại các địa điểmkhác nhau và các loại hoạt động

*Tài liệu tham khảo:

Boston ma trận

Trang 10

Ngôi sao: nằm trên vị trí Cao của trục Tăng trưởng thị phần trên ma trận Sảnphẩm, dịch vụ đó có mức tăng trưởng thị phần tốt, chiếm thị phần nhiều, song việc

nó kiếm được nhiều tiền hay không vẫn còn có nhiều ẩn số bởi còn phải đợi xemhiệu số giữa doanh thu và chi phí Không hiếm sản phẩm có thị phần rất tốt songlại không đem lại lợi nhuận như mong muốn Tuy nhiên, dù có hiệu quả haykhông, nếu sản phẩm nằm được ở ô Sao này, nó cũng đang trở nên nổi bật trên thịtrường và chứa đựng nhiều hứa hẹn

Bò sữa: Ô này tương ứng với mức độ tăng trưởng chậm lại về thị phần, song lợinhuận lại khả quan nếu tính đơn thuần về hiệu quả kinh doanh của sản phẩm.Tương ứng với hình tượng con Bò sữa, sản phẩm ở trong vị thế này cho dòng tiềntốt, hiệu quả kinh doanh tốt như chú bò cho sữa

Chó mực: Sản phẩm hoặc không tiến lên nổi, hoặc và thường là) rơi vào tình trạngsuy thoái, cho lợi nhuận kém Dòng tiền sản sinh không đủ làm phát sinh lợi nhuận

và duy trì hoạt động kinh doanh lâu dài Nếu một sản phẩm từ ô bò sữa có nguy cơrơi vào ô này, những người quản lý cần nỗ lực hết sức để đưa nó trở lại ô Sao hayduy trì ở chính ô Bò sữa

vi.wikipedia.ogr

Trang 11

Mô hình SWOT

www.brandsvietnam.com

Ferreira và các cộng sự (2010) tranh luận rằng việc sử dụng EMA không phảiđược thúc đầy bởi qui mô của một công ty mà là bởi loại ngành công nghiệp gắnliền với nó Họ cũng đề xuất rằng “sự đổi mới là một tác động tiềm năng phát sinh

từ mục đích của EMA” và nhờ vào sử dụng EMA mà các công ty có thể “nhận biếtđược các cơ hội và có thể tạo ra phương pháp đổi mới” Họ đề xuất rằng việc sửdụng EMA có thể dẫn đến “sự phát hiện ra các cơ hội để cải thiện phương phápsản xuất” (trang 938)

Epstein và Roy (2000) giải thích bằng cách nào sự quan tâm đến môi trường xungquanh có thể gắn liền với sự thành công trong việc đầu tư nguồn vốn chính của

Trang 12

công ty Họ thừa nhận rằng các công ty nên nỗ lực vào các sự đầu tư công nghệ đểduy trì mối liên hệ với môi trường xung quanh và cải thiện hoạt động của môitrường Epstein và Roy (2000) nghĩ rằng các hậu quả của việc sản xuất mà khôngchú trọng đến giá cả có thể được xác định rõ ràng, bao gồm cả các chi phí bêntrong cho đến các chi phí giới thiệu công nghệ để giữ gìn môi trường bằng các vậtthay thế xấp xỉ với chi phí kiểm soát thiệt hại ( hậu quả của việc sản xuất màkhông chú trọng đến giá cả) và được tiếp thu bởi các công ty khi đưa ra các quyếtđịnh.

2.4 Các sáng kiến của Chính Phủ trong việc thúc đẩy EMA:

-Vì các chính phủ khác trên toàn thế giới đang đặt tầm quan trọng lớn hơn trongcác vấn đề về môi trường nên Gedeme và các cộng sự (2009) khẳng định rằng córầt nhiều sáng kiến đã được trình bày rõ ràng chính xác để làm tăng mức độ nhậnthức về môi trường

• Liên hiệp quốc thông qua Bộ phận Phát triển bền vững đã xúc tiến EMA vớichính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đến ứng dụng và hiểu thêm về lợi ích của

nó (UN DSD, 2001)

• Các nước phát triển dường như là tiên phong trong việc xúc tiến EMA Ở Châu

Âu, chương trình Trả tiền cho sự phòng ngừa ô nhiễm đã được thiết kế để phổ biến

ý tưởng của EMA, trong khi đó ở Mỹ, mức độ cao của khoản phải trả tiềm tàng đãthúc đẩy các công ty quan tâm nhiều hơn đến các chi phí môi trường của họ( Sendroiu và các cộng sự, 2006)

• Các nước trên toàn thế giới cũng đã đưa vào luật pháp, tăng thêm lượng tiền phạtcho những người vi phạm, bố trí những cảnh sát và đánh thuế để bảo vệ môitrường (Goh, Zailani & Nabsiah Abd, 2006) Tuy nhiên, những công việc này làcác phương pháp “xử lý cuối đường ống” một cách đơn giản trong việc trừng phạtnhững thủ phạm của sự suy thoái môi trường thay vì ngăn chặn nó xảy ra Nhữngchính quyền ở cả địa phương và trung ương có thể đưa ra nhiều sự khích lệ vàsáng kiến hơn nữa để cổ vũ cho cuộc trò chuyện về môi trường và các công ty cóthể thực hiện các đổi mới để đảm bảo các hoạt đông của họ không gây nguy hiểmcho môi trường bằng cách bắt đầu sản xuất sạch hơn (Scarvone, 2005)

Mia (2005) đã đưa ra miêu tả về vai trò của một chính phủ trong việc xúc tiếnEMA bằng cách cung cấp một cái nhìn toàn diện về sự nỗ lực của các nước đangphát triển để cổ vũ việc sử dụng EMA Cũng như chính sách phát triển của chínhphủ để hướng dẫn và cổ vũ các công ty thi hành EMA trong việc đưa ra quyết

Trang 13

định, Mia tin rằng phối hợp những nỗ lực của chính phủ, các ngành công nghiệp,các viện nghiên cứu và xã hội là chìa khóa để thành công trong việc sử dụngEMA.

2.5.Báo cáo môi trường và EMA:

-Tài liệu về báo cáo môi trường trước đây đưa ra bằng chứng về việc gia tăng xuhướng cho các công ty để báo cáo về thông tin môi trường (Llena và các cộng sự,2007; KPMG, 2005; Bennett và các cộng sự, 2002) Sự phát triển này bắt nguồn từviệc gia tăng ý thức công cộng và quan tâm về việc đưa ra quyết định kinh doanh

có trách nhiệm, những hành động của chính phủ để khuyến khích việc kinh doanhbền vững về phương diện môi trường cũng như các hoạt đông của các công tynhằm tình nguyện tiết lộ sự quan tâm về môi trường của họ và các hoạt động vớiđối tác và công chúng nói chung

-Các hoạt động báo cáo khác nhau của các công ty cũng như việc nghiên cứu thựchiện báo cáo về môi trường được phát triển vững vàng trong toàn thập kỉ qua(Llena và các cộng sự, 2007; Mathews, 1997) và bao gồm cả các khía cạnh khácnhau trong vấn đề báo cáo về môi trường, chất lượng của báo cáo (Adams, 2004)

và các nghiên cứu theo chiều dọc của báo cáo về môi trường (Grey và các cộng sự,1995).Lo ngại rằng các thông tin về môi trường được trình bày trong các báo cáobên ngoài được bắt đầu như một kết quả của việc truy tố cho sự vi phạm về môitrường cũng đã được lên tiếng ( Deegan et al ,Ví dụ , Herzig và Schaltegger(2006) khẳng định năm 2002 : Rằng báo cáo môi trường cân nhắc nổi lên trongnhững năm 1980 và đầu những năm 1990 sau khi lò phản ứng Chernobyl vàBhopal tai nạn Nguồn gốc của vấn đề môi trường được coi là nội bộ và chỉ đườngcho các công ty để loại bỏ các nhận thức tiêu cực :bằng cách tiết lộ của họ hoạtđộng môi trường cho công chúng và các bên liên quan thông qua báo cáo môi

-Đến nay , đã có những phát triển đáng kể trong chương trình nghị sự báo cáo môitrường ,đặc biệt là ở các nước châu Âu , như Đức , Na Uy và Anh , đã quy địnhcách trình bày các báo cáo môi trường cho các bên liên quan và công chúng( Herzig và Schaltegger ,2006) Cũng có những tiêu chuẩn khác nhau và quy địnhquốc gia , cũng như quốc tế hướng dẫn báo cáo , chẳng hạn như Global ReportingInitiative (GRI ) , cung cấp bên ngoài cấp giấy chứng nhận của công ty " báo cáo

môi trường Fifka (2012) xem xét sự phát triển của báo cáo xã hội và môi trường

1970-2011 Heconcludes cho rằng báo cáo nghiên cứu môi trường đã sử dụng

Trang 14

phân tích nội dung ( 79 phần trăm) , và , gần đây hơn , một sự thay đổi về bảng hỏi

và phỏng vấn Sự thay đổi về phương pháp , đặc biệt là ở tây bắc Châu Âu và Úc ,cho thấy rằng các nhà nghiên cứu đang quan tâm hơn vào việc tìm ra động lực vànhận thức công bố thông tin về môi trường Fifka (2012) cũng kêu gọi nghiên cứu

về nước đang phát triển trong đó đã có tiếp xúc rất hạn chế để báo cáo môi trường

- Công bố thông tin về môi trường tại Malaysia có được ủy quyền của BursaMalaysia ( Malaysia " trung ương chứng khoán ) cho niêm yết công khai

các công ty từ năm 2006 Bursa Malaysia cam kết khuyến khích các công ty niêmyết để công bố báo cáo môi trường như một bước tiến trong việc theo đuổi pháttriển bền vững Tuy nhiên, không nhiều công ty đi xa hơn so với tiết lộ thông tinCSR của mình trong một phần của hàng năm của họ báo cáo, đó là yêu cầu tốithiểu của Bursa Malaysia

-Nghiên cứu thêm về báo cáo CSR của Malaisia , báo cáo môi trường và phát triểnbền vững báo cáo trong những năm qua đã khám phá những gì thúc đẩy các công

ty để báo cáo Ví dụ, một nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động báo cáo môi trườngđang tụt hậu và mức độ tiết lộ phần lớn phụ thuộc vào kích thước và nguồn gốccủa công ty ( Teoh & Thông, 1984) Trong một đối thủ cạnh tranh về chất lượng

và tính toàn diện của các thuyết minh trên báo cáo CSR ,

-StarBiz - ICRM cho thấy đã có nhiều cải tiến trong hoạt động trách nhiệm xã hội

và tiết lộ của các công ty lớn và cỡ trung , với các công ty tham gia hận được điểm

số cao hơn so với những năm trước (Kinh doanh và Môi trường , tháng 4 năm

2010 ) Trong một cạnh tranh báo cáo CSR gần đây, ACCA Malaysia chia sẻquan điểm của mình rằng chất lượng của tính bền vững và trách nhiệm xã hội báocáo của các công ty Malaysia đã được cải thiện (ACCA Malaysia ,2011)

CHƯƠNG 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w