Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế 2.1 Mô hình kinh tế và môi trường 2.2 Tăng trưởng kinh tế và tài nguyên môi trường 2.3 Nghèo và môi trường 2.4 Dân số và môi trường 3..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
VIỆT NAM VÀ SINGAPORE
Trang 2Mục lục
Trang
1. Các lí luận chung
1.1 Khái niệm phát triển kinh tế
1.2 Thuật ngữ “môi trường”, “ô nhiễm môi trường”, “bảo vệ môi trường”
2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế
2.1 Mô hình kinh tế và môi trường
2.2 Tăng trưởng kinh tế và tài nguyên môi trường
2.3 Nghèo và môi trường
2.4 Dân số và môi trường
3. Thực trạng về môi trường tại Việt Nam và Singapore trước và sau phát triển kinh tế
3.1 Thực trạng môi trường tại Việt Nam và Singapore sau khi giành độc lập
3.1.1 Thực trạng môi trường tại Việt Nam sau khi giành độc lập 3.1.2 Thực trạng môi trường tại Singapore sau khi giành độc lập 3.2 Thực trạng môi trường ở Việt Nam và Singapore trong quá trình phát triển kinh tế
3.2.1 Thực trạng môi trường ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế
3.2.2 Thực trạng môi trường ở Singapore trong quá trình phát triển kinh tế
4 Công tác bảo vệ môi trường trong thời kì phát triển kinh tế
4.1 Công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời kì phát triển kinh tế
4.2 Công tác bảo vệ môi trường ở Singapore trong thời kì phát triển kinh tế
5 Giải pháp, chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường
Trang 31 Các lí luận chung
1.1 Khái niệm phát triển kinh tế
Theo Wikipedia: Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt
của nền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi toàn diện hơn lien quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, thể chế Muốn phát triển kinh tế, đầu tiên phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân) Đi liền với đó là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế…thay đổi theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở nên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo.Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế
1.2 Thuật ngữ “môi trường”, “ô nhiễm môi trường”, “bảo vệ môi
trường”
Theo điều 3, chương I luật bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014, “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Cũng tại điều 3 chương I luật bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014, ô
nhiễm môi trường được giải thích là “sự biến đổi của các thành phần môi
trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Trang 42 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế
2.1 Mô hình kinh tế và môi trường
Môi trường thiên nhiên có 3 chức năng căn bản: cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho quá trình sản xuất và tiêu dùng; hấp thụ chất thải từ nền kinh tế; cung cấp cảnh quan, dịch vụ vui chơi giải trí cho các hộ gia đình.Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò vô cùng quan trọng như là đầu vào của quá trình sản xuất Mọi nền kinh tế đều cần năng lượng từ than đá, dầu mỏ hay thủy điện Người tiêu dùng trong nền kinh tế hàng ngày vẫn sử dụng thực phẩm trực tiếp từ môi trường thiên nhiên như các loại hải sản, sản phẩm nông nghiệp.vv…Bên cạnh
đó, phúc lợi của con người được nâng cao rất nhiều thong qua việc sử dụng các dịch vụ của môi trường thiên nhiên, chẳng hạn khí hậu mát mẻ và rừng thông
Đà Lạt là một dịch vụ điển hình mà môi trường thiên nhiên đem lại cho chúng ta
Vậy nền kinh tế và môi trường tương tác với nhau như thế nào? Trong bất kì nền kinh tế nào, những hoạt động cơ bản là sản xuất, phân phối và tiêu dùng đều diễn ra trong một thế giới tự nhiên bao quanh Một trong những vai trò của thế giới tự nhiên là cung cấp nguyên liệu thô và năng lượng đầu vào; mà nếu không
có nó thì sản xuất, tiêu dùng và bản thân cuộc sống cũng không thể tồn tại được Các hoạt động sản xuất, tiêu dùng tạo ra nhiều sản phẩm phế thải và những sản phẩm này cuối cùng sẽ quay về với thế giới tự nhiên dưới dạng này hay dạng khác Các chất thải này có thể gây ô nhiễm và suy thoái môi trường thiên nhiên
Biểu đồ: Hệ thống kinh tế - môi trường
Tài nguyên Chất thải
Nền kinh tế Hàng hóa và dịch vụ
Vốn và lao động
Nhà sản xuất
Hộ gia đình
Môi trường thiên nhiên
Trang 52.2 Tăng trưởng kinh tế và tài nguyên môi trường
Đối với nhiều người, sơ đồ tóm tắt ở trên để lại một câu hỏi lớn: liệu tài nguyên môi trường mà chúng ta đang có có đủ để tăng trưởng kinh tế hay không và chính nó, đóng vai trò như là nơi hấp thụ chất thải của các quá trình kinh tế, có cản trở quá trình tăng trưởng kinh tế hay không?
Từ những năm 1960, nhiều nhà kinh tế học tin rằng tốc độ tiêu thụ năng nguyên nhiên vật liệu và tài nguyên thiên nhiên tăng tương đương với tốc độ tăng trưởng kinh tế Điều này đặt ra câu hỏi về giới hạn nguồn lực của tăng trưởng kinh tế Năm 1992, Ngân hàng Thế giới xuất bản một báo cáo về môi quan hệ giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, được biểu diễn bằng đường cong Kuznet môi trường
- Với những nền kinh tế đang bắt đầu quá trình tăng trưởng, nền kinh tế không có khả năng bảo vệ các chức năng của môi trường vì đang cần duy trì các nhu cầu thiết yếu khác Do đó trong giai đoạn này, các vấn đề ô nhiễm được xem như tác động phụ chấp nhận được của quá trình tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ tăng trưởng – suy thoái môi trường là đồng
Trang 6biến (giai đoạn 1 và 2), trong đó tốc độ suy thoái môi trường tăng nhanh hơn tốc độc tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn 1 và tăng chậm hơn ở giai đoạn 2
- Khi nền kinh tế đạt được mức phát triển cao hơn, người dân bắt đầu quan tâm đến môi trường và yêu cầu nhiều hơn các dịch vụ lien quan đến môi trường Nguồn lực sẽ được chia sẻ cho các hoạt động bảo vệ môi trường
Do vậy đây là giai đoạn mối quan hệ tăng trưởng kinh tế - suy thoái môi trường có thể nghịch biến (giai đoạn 3) Tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra trường hợp mối quan hệ nghịch biến không được giữ vững và đảo ngược thành giai đoạn 4
Nếu chấp nhận cách giải thích bằng đường cong Kuznets môi trường, ta có thể thấy rằng suy thoái môi trường chỉ là hiện tượng nhất thời gắn liền với một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhất định Và hơn nữa, không có sự đánh đổi giữa kinh
tế và ô nhiễm môi trường, chẳng hạn như khí thải gây hiệu ứng nhà kính, mà tăng trưởng kinh tế lại là giải pháp cho việc xử lí ô nhiễm Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm vẫn chưa xác nhận lí thuyết đường cong Kuznets môi trường như trên, vẫn có thể có nhiều trường hợp nền kinh tế có thu nhập càng cao càng làm ô nhiễm môi trường nhiều hơn
2.3 Nghèo và môi trường
Báo cáo của hội nghị Bruntland tuyên bố rằng nghèo là nguyên nhân chủ yếu gây ra suy thoái môi trường và giảm nghèo là điều kiện cần cho bất cứ chương trình cải thiện chất lượng môi trường nào
Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy kết luận như Bruntland ở trên là không thỏa đáng Một số nghiên cứu cho rằng không nhất thiết là nghèo đói mà quyền lực, sự giàu có, lòng tham cũng là nguyên nhiên gây suy thoái môi trường (Duraiapph, 1998) Ở Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao này, có thể thấy trên rất nhiều phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày những thông tin kiểu như “làng ung thư bên cạnh nhà máy sản xuất phân bón”,
“nước thải từ các nhà máy gây ô nhiễm sông, làm chết cá bè, giảm sản lượng hoa màu của người dân”.vv…Nguồn ô nhiễm môi trường trong các trường hợp như thế này là từ bộ phận có quyền lực về kinh tế, không phải từ người nghèo Hơn nữa, suy thoái môi trường lại làm hại người nghèo, thường là những người phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên môi trường lại nghèo thêm
Trang 7Do đó, từ quan điểm kinh tế, kết luận rằng nghèo là nguyên nhân gây suy thoái môi trường là không đủ
2.4 Dân số và môi trường
Dân số thế giới tăng thêm 2200 người cứ mỗi 15 phút Dân số tăng nhanh sẽ dẫn đến thiếu hụt đất canh tác, nước, chất đốt ở khu vực nông thôn, ô nhiễm nước, tình rạng tắc nghẽn ở khu vực đô thị Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tình trạng suy thoái môi trường như vậy là do chúng ta tiêu dung quá mức và tiêu dung theo cách không bền vững Dân số tăng nhanh cũng có thể là động lực
để cải tiến công nghệ, tăng năng suất nông nghiệp
Quan sát ở các nước đang phát triển cho thấy dân số tăng nhanh dẫn tới giảm sản lượng nông nghiệp, ảnh hưởng đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục
và dinh dưỡng cho người dân (Desta,1999) Cho nên giải quyết vấn đề dân số -môi trường ở các quốc gia đang phát triển không những cần tập trung kiểm soát tốc độ gia tăng dân số nhanh mà còn hướng tới việc kiểm soát tốc độ sử dụng tài nguyên môi trường hiệu quả hơn
3 Thực trạng về môi trường tại Việt Nam và Singapore trước và sau phát
3.1 Thực trạng môi trường tại Việt Nam và Singapore sau khi giành độc lập
3.1.1 Thực trạng môi trường tại Việt Nam sau khi giành độc lập
Mùa Xuân năm 1975, “cuộc chiến tranh dài ngày nhất trong lịch sử nước Mỹ” kết thúc nhưng hậu quả chiến tranh vẫn còn hiển hiện rất rõ Sự phá hủy cảnh quan tự nhiên trong chiến tranh là điều không mới mẻ, nhưng phạm vi của sự phá hủy tự nhiên trong chiến tranh Việt Nam là điều chưa từng xảy ra trong lịch
sử nhân loại Hậu quả của chiến tranh cũng đã làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn này Ở miền Bắc, hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đã tàn phá nặng nề, nền kinh tế bấy giờ sản xuất nhỏ còn phổ biến
và nền kinh tế còn lạc hậu Hậu quả của 30 năm chiến tranh (1945-1975) để lại cho miền Nam cũng hết sức nặng nề, nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá, bỏ hoang , chất độc hóa học và bom mìn còn bị vùi lấp nhiều nơi, số người thất nghiệp lên tới hàng triệu người, về cơ bản nền kinh tế vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài
Trang 8Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ tiến hành ở Việt Nam một cuộc chiến tranh hoá học với quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới Khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ và phát quang được rải xuống 24,67% tổng diện tích lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó phần lớn là chất độc màu da cam Số lượng rất lớn chất độc hoá học với nồng độ cao, được rải đi rải lại nhiều lần, không những đã làm chết các loài động, thực vật, mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên tại Việt Nam
Mỹ sử dụng chất độc màu da cam trong chiến tranh Việt Nam -Ảnh: BBC
Môi trường ô nhiễm điôxin ở Việt Nam rất rộng, ước tính có khoảng 366 kg điôxin được phun rải xuống miền Nam Việt Nam, chủ yếu là vùng nông thôn Dấu vết của điôxin vẫn được tìm thấy trong đất ở hầu hết các vùng bị nhiễm nặng - khoảng 25 “điểm nóng” Chất điôxin đã gây tác động nặng nề tới môi trường và dân cư địa phương cho đến bây giờ và đến tận tương lai sau này đặc biệt là đất canh tác bị ô nhiễm nặng gây khó khăn cho việc sản xuất, trồng trọt Chất diệt cỏ rải với nồng độ cao không chỉ phá hủy thành phần dinh dưỡng trong đất, làm cho đất bị cằn cỗi, mà với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, các khu rừng rất khó có thể tự phục hồi
Trang 9Vùng đất A Lưới bị hủy diệt bởi chất độc điôxin, sau 15 năm, 30 năm vẫn chỉ là
vùng cây cỏ dại (Ảnh: Gs Võ Quý) Khoảng 10 đến 15 triệu hố bom, chiếm 1% diện tích rừng Nam Việt Nam, gây nên sự bất ổn mặt đất, làm cho đất dễ bị xói mòn do mưa Hậu quả này còn tác động xấu tới 28 lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam: Có 16 lưu vực, trong đó rừng bị phá hủy chiếm tới 30% tổng diện tích tự nhiên; 10 lưu vực mất 30 – 50% diện tích rừng, và 2 lưu vực mất hơn 50% Hầu hết các con sông này đều ngắn và chảy theo địa hình phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp tới các khu vực
hạ lưu Hàng mấy chục năm sau khi chiến tranh kết thúc, lũ lụt vẫn thường xuyên tàn phá lưu vực các sông Hương, Thạch Hãn, Hàn, Thu Bồn, Trà Khúc, Côn, Vệ, Cầu và Ba, dẫn tới thiệt hại lớn về người và của
Những cách tay đói lả nhận thức ăn tại Ngã ba Tuần - Thừa Thiên Huế trong
ngày thứ 5 của trận lụt năm 1999 Ảnh: Tuổi Trẻ
3.1.2 Thực trạng môi trường tại Singapore sau khi độc lập
Trang 10Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm và chiếm đóng Singapore từ năm 1942 đến năm 1945 Khi chiến tranh kết thúc, Singapore trở lại dưới quyền cai trị của Anh Quốc, ngày càng được cấp quyền tự trị lớn hơn, đỉnh cao là việc Singapore hợp nhất với Liên hiệp bang Malaya để hình thành Malaysia vào năm 1963 Tuy nhiên, bất ổn xã hội và tranh chấp giữa Đảng Hành động Nhân dân cầm quyền tại Singapore và Đảng Liên minh cầm quyền tại liên bang khiến Singapore tách khỏi Malaysia Singapore trở thành một nước cộng hòa độc lập vào ngày 9 tháng 8 năm 1965
Sau khi độc lập, với rất ít tài nguyên thiên nhiên, Singapore là một nước không
ổn định về kinh tế và chính trị xã hội Singapore lâm vào khủng hoảng, tình trạng thất nghiệp tăng cao, người dân thiếu nhà ở, đất đai, giáo dục và y tế cũng còn nhiều bất cập Bên cạnh những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội Singapore còn phải đối mặt với tình trạng môi trường bị ô nhiễm nặng nề và thiếu nguồn nước ngọt trầm trọng
Theo Eco Business, trong những năm đầu của đất nước, do tình trạng thiếu đất đai, nhà ở mà hai phần ba dân số của đất nước này phải sống trong các khu phố
ổ chuột bẩn thỉu, thiếu điều kiện y tế, giáo dục, việc làm Đường phố thì ngổn ngang rác, bụi bẩn và mùi hôi thối đã làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân nơi đây
Không chỉ thiếu nhà ở, đất đai mà Singapore còn là nơi thiếu nước ngọt trầm trọng Toàn bộ người dân trên đảo sống trong cảnh thiếu nước ngọt triền miên Nguồn nước từ các con sông thì ô nhiễm nặng nề Hơn 30 về trước, con kênh Rochor – con kênh chảy qua nhiều khu vực trung tâm của Singapore ngày nay như trung tâm thương mại Sim Lim, đường Sungei, Little India chỉ là một con kênh bị ô nhiễm nghiêm trọng khi nước sông bốc mùi hôi thối và đầy rác rưởi dưới lòng sông
Hay như cảng Clarke là một trong những bến cảng có lịch sử lâu đời Cảng Clarke là bến đỗ bốc dỡ hàng hóa dọc sông Singapore từ những năm 1800 Bến cảng được đặt theo tên Sir Andrew Clarke, thống đốc Straits Settlements, vùng thuộc địa của Anh bao gồm Singapore, Penang và Malacca (Malaysia) Dọc bến cảng là những cửa hiệu xây dựng theo kiểu Triều Châu Ngày nay Clarke Quay
là khu vui chơi giải trí dành cho du khách trong và ngoài nước tham quan viếng thắm thành phố Singapore Tuy nhiên, trước năm 1977, con sông Singapore (Bến cảng Clarke nằm trên bờ sông Singapore) bị ô nhiễm nặng nề