1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

mối quan hệ giữa fdi và năng suất lao động tại singaporethời kì 2010 2015

14 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 456,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cơ sở lý thuyết về hiệu ứng tràn của FDI, các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động, và tới những số liệu thực tế đã thu thập được về tình hình phát triển kinh tế của Singapore, nhó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 2

ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ NĂNG SUẤT LAO

ĐỘNG TẠI SINGAPORETHỜI KÌ 2010-2015

NHÓM 13

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tư bản là một phần quan trọng đối với sự phát triển của một nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, tư bản và vốn không chỉ đến từ những nguồn tích lũy trong một quốc gia, mà còn luân chuyển giữa các quốc gia Một trong những nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất là FDI (Foreign Direct Investment), và vì thế nhóm nghiên cứu này đặt ra câu hỏi: Liệu nguồn vốn quan trọng này có làm thay đổi chất lượng lao động của quốc gia nhận vốn? Cụ thể hơn, nhóm nghiên cứu này sẽ đi vào tìm hiểu quan hệ và ảnh hưởng của FDI lên năng suất lao động ở quốc đảo Singapore trong thời kì 2010-2015, khi quốc gia này vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng của năm 2008 Từ cơ sở lý thuyết về hiệu ứng tràn của FDI, các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động, và tới những số liệu thực tế đã thu thập được về tình hình phát triển kinh tế của Singapore, nhóm nghiên cứu này hướng tới việc trả lời câu hỏi trên, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam

Trang 4

NỘI DUNG

I Cơ sở lý thuyết

1 Lý thuyết về năng suất lao động:

 Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mụch đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định

Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đó

Theo quan niệm truyền thống: năng suất lao động phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động Thực chất nó đo giá trị đầu ra do một lao động tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đầu ra

Như vậy :Năng suất lao động phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra (là sản phẩm) và đầu vào (là lao động) được đo bằng thời gian làm việc Từ nhiều khái niệm khác nhau về năng suất lao động chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát nhất “năng suất lao động

là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất ”

 Công thức tính:

 Trong đó

o W là mực năng suất lao động của một người lao động

o Q là tổng sản lượng tính bằng hiện vật

o T là tổng số lao động

2 Hiệu ứng tràn (Spillover Effect) và FDI:

 Hiệu ứng tràn được định nghĩa là: “Sự chuyển giao các phương thức quản lý, sản xuất, marketing và bất kì một loại kiến thức hay công cụ nào khác liên quan tới hàng hóa và dịch vụ” khi có sự dịch chuyển FDI vào một quốc gia (Gorodnichenko, Svejnar, Terrell, 2007)

 Hiệu ứng tràn xảy ra qua một số kênh:

• Các doanh nghiệp nội địa quan sát và học hỏi phương thức sản xuất của các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các doanh nghiệp FDI, hoặc thuê được các cựu nhân viên,

Trang 5

công nhân và chuyên gia nước ngoài của các công ty đa quốc gia (sự chuyển giao

tự nhiên)

• Các doanh nghiệp nội địa được hưởng lợi khi các chuỗi cung ứng chuyên nghiệp

và phát triển hơn xuất hiện khi có dòng FDI đi vào Các doanh nghiệp nội địa cũng

có thể nhận đầu tư trực tiếp từ các doanh nghiệp nước ngoài về công nghệ, tư bản hiện vật (sự chuyển giao trực tiếp)

• Các doanh nghiệp nước ngoài canh tranh ở môi trường nội địa trở thành xúc tác, thúc đẩy sự cải tiến trong sản xuất và quản lý của các doanh nghiệp nội địa

 Hiệu ứng tràn có thể xảy ra trên quy mô ngành hoặc quy mô doanh nghiệp, tùy theo mức độ dịch cuyển của FDI vào trong nội địa

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, FDI được coi là một phần của biến tư bản K, và năng suất lao động được đánh giá sản lượng bình quân trên lao động (y = Y/L).

 Ta sử dụng hàm Cobb-Douglas biến đổi:

• ,

Với A là yếu tố tổng hợp năng suất (total factor of productivity), a=A/L Trong ngắn

hạn và trung hạn, tham số này thể hiện khả năng áp dụng công nghệ, tư bản hiện vật và năng suất lao động tăng cường, vì thế trong khuôn khổ nghiên cứu này, có thể coi A(a)

là một hằng số (a=const)

 Hiệu ứng tràn tích cực (positive spillover) được định nghĩa là sự gia tăng trong doanh thu khi có sự hiện diện của FDI, điều này có nghĩa là khi FDI (K) tăng thì năng suất lao động tăng, từ đó doanh thu (Y) Hiệu ứng tràn tiêu cực được định nghĩa ngược lại

 Trên thực tế, để hiệu ứng tràn mang tính tích cực, các doanh nghiệp (hoặc ngành) chịu tác động của FDI phải sở hữu khả năng tiếp thu nhất định đối với những yếu tố sản xuât được chuyển giao như công nghệ, kĩ thuật, nhân lực có kinh nghiệm Khả năng này được định nghĩa là tỉ lệ hấp thụ (absorption rate)

 Có thể coi � thể hiện tỉ lệ hấp thụ FDI của doanh nghiệp hay ngành Nếu �< 1, sự gia

tăng của k sẽ làm y giảm, thể hiện hiệu ứng tràn tiêu cực Nếu �> 1, k tăng sẽ làm y

tăng, thể hiện hiệu ứng tràn tích cực

 Hiệu ứng tràn và Singapore:

• Giả thiết chính ở đây là FDI không tác động đáng kể tới lực lượng lao động, song

sự biến đổi của lao động xảy ra do công nghệ và đầu tư vào yếu tố con người (giáo dục, cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng công nghệ,…) mới là hệ quả chính của hiệu ứng tràn

• Trên phương diện lý thuyết, Singapore là một nước có tỷ lệ hấp thụ FDI cao, vì thế

mà dự đoán của nghiên cứu này cho rằng Singapore sẽ nhận được hiệu ứng tràn tích cực trong giai đoạn 2010-2015

Trang 6

II Ảnh hưởng của FDI lên năng suất lao động tại Singapore trong thời kì 2010-2015

1 Tổng quan nền kinh tế Singapore:

 Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu chủ yếu đều phải nhập từ bên ngoài, hàng năm đều phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và nước ngọt để đáp ứng nhu cầu trong nước Tuy nhiên, Singapore đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp phát triển hàng đầu châu Á và trên thế giới như: cảng biển, hệ thống giao thông, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp linh kiện

 Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công Người dân Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa đa dạng, lành mạnh và không tham nhũng, thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thế giới Tuy nhiên, năm

2014 Singapore cũng được đưa vào danh sách 10 quốc gia đắt đỏ nhất thế giới

 Nền kinh tế Singapore phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện

tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm và lĩnh vực ngân hàng tài chính Năm 2012 do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP của Singapore chỉ đạt 1.3 % tuy nhiên đã tăng lên 3.7 % vào năm 2013, tỷ lệ lạm phát ở mức 1.5%

Trang 7

2 Các chỉ số về FDI và năng suất lao động giai đoạn 2010-2015

FDI vào Singapore tính theo cuối năm (tỉ USD):

Trang 8

Lực lượng lao động Singapore:

Lực lượng lao động

có việc làm tính tới

cuối năm (đơn vị:

ngàn người) 3,105.9 3,228.5 3,357.6 3,493.8 3,623.9 3,656.2

Trang 9

GDP của Singapore (triệu USD):

GDP tại mức giá

hiện tại (triệu

USD) 322,361.1 346,172.7 361,498.7 375,751 388,169.3 402,457.9

Tỉ lệ tăng

trưởng

năm-qua-măm (YoY

growth)

0% (mốc) 7.39% 4.43% 3.94% 3.30% 3.68%

GDP/ Đầu người lao động:

Năm

Trang 10

Capita (USD) 103,789.9 2 107,224.0 0 107,665.8 0 107,547.9 4 107,113.6 9 110,075.4 6

Trang 11

3 Mối quan hệ giữa FDI và năng suất lao động

a) Mối quan hệ định tính

 Như có thể thấy từ các bảng số liệu trên, năng suất lao động gia tăng xảy ra song song với sự gia tăng trong FDI, song sự gia tăng không đồng đều

 Nền kinh tế Singapore có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất từ năm 2010 tới 2011, song lại chũng lại và giảm tốc trong những năm tiếp theo, tốc độ tăng trưởng chỉ tăng vào năm

2015 Khi đó các thị trường hàng hóa của Singapore đã trở lại trạng thái cân bằng và chu kì dao động của tỉ lệ tăng trưởng lại bắt đầu

 Trong khi đó, FDI lại tăng đều trong 5 năm 2010-2014 Điều này cho thấy hiệu ứng tràn mà FDI có thể mang tới lại có hiệu quả giảm dần theo từng năm

 FDI tác động trực tiếp tới công nghệ và nhân lực Xét về nhân lực, tỉ lệ gia tăng nhân lực của Singapore đạt đỉnh trong năm 2012, sau đó thuyên giảm Như vậy, có thể nói

sự gia tăng trong FDI đã làm bão hòa sớm thị trường lao động của quốc đảo này

 Về công nghệ, FDI vào lĩnh vực hành chính, khoa học-kĩ thuật và các dịch vụ hỗ trợ

đã gia tăng đáng kể qua 5 năm, chứng tỏ rằng hạ tầng công nghệ của Singapore rất phát triển và không có dấu hiệu ngưng lại

 Như vậy có thể coi sự thuyên giảm nhẹ của GDP/đâu người lao động là một hệ quả ngắn hạn do sự bão hòa của thị trường lao động Mặt khác, do hạ tầng công nghệ được tích cực đầu tư hơn so với những lĩnh vực khác (mặc dù giá trị đầu tư không cao), nên năng suất lao động dài hạn của Singapore chắc chắn sẽ tăng Hiệu ứng tràn của FDI lên năng suất, thông qua công nghệ, có ảnh hưởng dài và rộng hơn so với thông qua lực lượng lao động hiện hữu

 Về mặt định tính đơn thuần, hiệu ứng tràn mà FDI mang lại ở Singapore là tích cực, song không có nhiều chứng cứ để cho rằng giá trị mà hiệu ứng tràn đem lại là đáng kể

b) Mối quan hệ định lượng:

Nhận xét về mô hình kinh tế lượng (Ảnh hưởng của FDI đến năng suất lao động của Singapore trong thời gian ngắn – 5 năm)

Ta đưa 2 biến độc lập là FDI và HDI vào mô hình trong đó chỉ số HDI có vai trò nói chỉ ra sự ảnh hưởng của yếu tố con người (chỉ số tổng hợp của tuổi thọ người dân, số năm hưởng giáo dục trung bình…) vào sự thay đổi của năng suất lao động

Từ mô hình Kinh tế lượng ngắn gọn dưới đây, ta có thể thấy chỉ số R square = 0.9535 khá lớn tuy nhiên chỉ số P value của mô hình = 0.0457 < 0.05 cho thấy sự tin cậy của

Trang 12

mô hình không quá cao nhưng chúng ta vẫn có thể rút ra được một số kết luận như sau:

- P value của biến FDI > 0.05, chỉ số t của biến FDI < t của mô hình cho thấy trong thời gian ngắn, sự thay đổi của FDI không gây ảnh hưởng đến sự thay đổi của năng suất lao động

- P value của biến HDI <0.05, chỉ số t của HDI > t của mô hình cho thấy HDI có tác động thật sự đến năng suất lao động trong thời gian ngắn

Trang 13

III Bình luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

 Có thể thấy nhờ khả năng hấp thụ hiệu ứng tràn rất cao mà năng suất lao động ở Singapore đã có sự cải thiện đáng kể So sánh với Việt Nam, những năm gần đây, Việt Nam cũng thu hút được một lượng FDI không hề nhỏ, và cũng có dấu hiệu của các hiệu ứng tràn tích cực Tuy nhiên các hiệu ứng tràn lại chưa xuất hiện nhiều thông qua hai kênh là di chuyển lao động và chuyển giao công nghệ, đồng thời trình độ lao động của nước ta vẫn còn khá thấp do đó gây trở ngại đến việc nâng cao năng suất lao động Bài viết sẽ đưa ra một số giải pháp để cải thiện tình hình này

 Đầu tiên cần tạo thêm các cơ hội xuất hiện cho hiệu ứng tràn tích cực bằng cách thu hút nguồn vốn FDI vào tất cả các ngành chứ không chỉ riêng một số ngành trọng điểm, qua đó tạo cơ hội để có được tác động lan tỏa cho các doanh nghiệp trong nước và nền kinh tế

 Nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo các lao động vừa có tay nghề, vừa có trình độ, có khả năng tiếp thu để tiếp thu được các tiến bộ công nghệ một cách hiệu quả nhất

 Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp tăng năng lực để có thể tự học hỏi, tiếp thu công nghệ mới và chuyển giao công nghệ từ đối tác liên kết sản xuất Các biện pháp hay được thực hiện trên thế giới là cung cấp thông tin miễn phí hoặc phí rất thấp cho các doanh nghiệp, tổ chức các cuộc gặp gỡ để các doanh nghiệp có thể trao đổi trực tiếp với nhau, tổ chức các lớp bồi dường, đào tạo cán bộ làm việc trong các doanh nghiệp này

 Tăng năng lực về R&D của doanh nghiệp trong nước để tăng khả năng hấp thụ công nghệ mới và thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua nhiếu biện pháp, ví dụ Nhà nước hỗ trợ đào tạo cán bộ R&D của doanh nghiệp bằng cách tài trợ các chương trình trao đổi chuyên gia giữa các viện nghiên cứu, trường đại học v.v và doanh nghiệp; thực hiện các chương trình nghiên cứu (ngành, sản phẩm mới) có sự tham gia và đồng tài trợ của các bên cùng hưởng lợi

 Nâng nhanh tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của cả nền kinh tế nói chung và của lao động trong các doanh nghiệp trong nước nói riêng để tăng khả năng đón nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới

Trang 14

KẾT LUẬN

Qua tìm hiểu và phân tích, nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận: Hiệu ứng tràn từ FDI lên năng suất lao động ở Singapore trong giai đoạn 2010-2015 là hiện hữu và mang tính tích cực, song không đáng kể so với những yếu tố khác tác động trực tiếp lên năng suất như quy mô và chất lược lực lượng lao động Tuy nhiên, FDI có tác động lâu dài lên năng suất lao động, bằng chứng là sự tăng trưởng trong dòng vốn quốc tế vào các lĩnh vực R&D, khoa học-công nghệ Nhóm nghiên cứu vẫn giữ quan điểm rằng hiệu ứng tràn tích cực dài hạn của FDI sẽ làm gia tăng năng suất lao động mạnh

mẽ hơn trong tương lai

Vì bản chất của hiệu ứng tràn là sự tác động gián tiếp của hoạt động đầu tư lên các chỉ số kinh tế khác, nên bài học kinh nghiệm đáng giá nhất cho Việt Nam là phải biết thu hút vốn FDI một cách hiệu quả và đúng múc tiêu Ngoài ra, để Việt Nam có được hiệu ứng tràn dài hạn tích cực từ FDI thì phải có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và kĩ thuật hơn nữa, đồng thời tập trung đẩy mạnh khả năng tiếp thụ FDI của các doanh nghiệp trong nước thông qua các biện pháp giáo dục, kĩ thuật hướng tới cải thiện mặt bằng chất lượng lao động vầ tỉ lệ lao động kĩ thuật cao trong nước Có như vậy thì Việt Nam mới thực sự tận dụng được tiềm năng của nguồn vốn FDI đang ngày càng chảy vào mạnh hơn trong những năm gần đây

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w