1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khái niệm và các dấu hiệu đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng phân tích ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính

17 845 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 72,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vai trò quan trọng của ngân hàng trong nền kinh tế và sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh, để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh trong một thị trường đầy biến độ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

-*** -BÀI THUYẾT TRÌNH

ĐỀ TÀI:

KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU ĐÁNH GIÁ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI

RO THANH KHOẢN ĐẾN TÍNH TRUNG THỰC HỢP LÝ CỦA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I RỦI RO THANH KHOẢN 3

1.1 Khái niệm: 3

1.2 Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản 3

1.2.1 Về mặt định tính 3

1.2.2 Về mặt định lượng 4

II PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN CAO ĐỐI VỚI TÍNH TRUNG THỰC VÀ HỢP LÝ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA MỘT NGÂN HÀNH 5

2.1 Báo cáo tài chính 5

2.1.1 Nguyên tắc lập báo cáo tài chính 5

2.1.2 Mục đích của báo cáo tài chính 5

2.1.3 Bảng cân đối kế toán 5

2.1.3.1 Khái niệm 5

2.1.3.2 Nội dung và kết cấu 5

2.1.4 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 6

2.1.4.1 Khái niệm 6

2.1.4.2 Nội dung và kết cấu 6

2.1.5 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 7

2.1.5.1 Khái niệm 7

2.1.5.2 Nội dung và kết cấu 7

2.2 Tính trung thực và hợp lý của BCTC 7

2.2.1 Tính trung thực 7

2.2.2 Tính hợp lý 7

2.3 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản cao đối với tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính một ngân hàng 8

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 11

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

NHTM là loại tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất phục vụ công chúng Việc các NHTM nắm giữ các tài sản nhiều hơn mọi định chế tài chính khác hoặc các ngân hàng tượng trưng cho một gạch mối thiết yếu để chuyển các chính sách kinh tế của chính phủ đặc biệt là chính sách tiền tệ đến thành phần còn lại của nền kinh tế Tiền gừi ngân hàng còn là một nguồn cung tiền cho nền kinh tế và những thay đổi trong cung tiền có sự thay đổi chặt chẽ với giá cả hàng hóa dịch vụ Tín dụng và các dịch vụ của ngân hàng lại là nhu cầu thiết yếu của tất cả các chủ thể kinh tế Với vai trò quan trọng của ngân hàng trong nền kinh tế và sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh,

để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh trong một thị trường đầy biến động thì báo cáo tài chính phải đảm bảo tính trung thực và hợp lí Nhưng do tính chất phức tạp và khối lượng giao dịch lớn cùng với tính

dễ biến động của tiền tệ nên trong hoạt đông của mình ngân hàng thường gặp nhiều rủi ro Một trong những rủi ro nguy hiểm và dễ xảy ra nhất đó chính là rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản cao có thể ngân hàng có nguy cơ dẫn đến phá sản càng nhanh và sự sụp đổ theo của một hệ thống ngân hàng Vì vậy khi một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản cao sẽ có nguy cơ tìm cách che đậy rủi ro và làm đẹp báo cáo tài chính Như vậy kiểm toán viên cần chú ý đến rủi ro thanh khoản các dấu hiệu đánh giá rủi ro cũng như sự ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến tính trung thực và hợp lí của báo cáo tài chính

Trang 4

I RỦI RO THANH KHOẢN

Rủi ro thanh khoản là khả năng tổn thất trong việc chuyển các tài sản (bán/ thanh lý) thành tiển một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn (IAPS 1006)

Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng thiếu tiền để đáp ứng cho các nhu cầu rút tiền của khách hàng gửi/ vay tiền, nhu cầu thanh toán các khoản nợ trên thị trường liên ngân hàng (Hiệp ước Basel 2)

I.1.1 Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản

I.1.2 Về mặt định tính

Có thể đánh giá rủi ro thanh khoản thông qua yếu tố định tính như:

- Lòng tin của công chúng: Sự tin tưởng của công chúng là một

trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá khả năng thanh khoản của một ngân hàng tốt hay xấu Nếu công tác quản trị rủi ro của ngân hàng yếu kém, không duy trì đủ lượng tiển mặt hoặc không có khả năng hoàn trả các khoản tiền mà khách hàng yêu cầu ngay lập tức thì điều này sẽ

bị mất lòng tin của công chúng vào ngân hàng Do vậy, ngân hàng sẽ mất dần những khách hàng là người gửi tiền Ngược lại, nếu một ngân hàng có được sự tin tưởng của người gửi tiền thì điều này có nghĩa rằng khách hàng đã đặt niềm tin vào khả năng hoàn trả cả gốc và lãi của

Trang 5

ngân hàng hay đồng thời với việc ngân hàng đó thừa nhận là có khả năng thanh khoản cao

- Sự vận động trong giá cổ phiếu: Khi giá cổ phiếu của ngân

hàng có xu hướng giảm, chứng tỏ tính hấp dẫn của chúng đối với nhà đẩu tư đã giảm đi, làm giảm giá trị thị trường của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền Người dân có xu hướng rút tiền khỏi ngân hàng để gửi tiền sang ngân hàng khác hoặc đầu tư vào những kênh

có lợi nhuận cao hơn, trong khi đó các khoản cho vay đến hạn thanh toán không được thanh toán hoặc không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản, dẫn đến cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản khiến cho ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản Và ngược lại khi giá chứng khoán của công ty tăng có thể thu hút nhiều nhà đầu tư vào ngân hàng làm cho ngân hàng có thể huy động được vốn nhiều hơn để đảm bảo nhu cầu thanh khoản

- Áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn thị trường: Tại sao

một ngân hàng lại chấp nhận áp dụng mức lãi suất huy động tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và chấp nhận mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất trên thị trường một cách bất thường hoặc phải đi vay với điều kiện về tài sản đảm bảo chặt chẽ hơn? Nếu xảy ra tình trạng như vậy thì chứng

tỏ một dấu hiệu là ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình

- Lỗ từ việc bán tài sản: Khi ngân hàng bán tài sản một cách vội

vã và sẵn sàng chịu lỗ lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp phải một vấn

đề nào đó trong vấn đề thanh khoản Bán tài sản có nghĩa là ngân hàng

sẽ phải chấp nhận mất đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai cũng như các chi phí giao dịch trả cho người mô giới liên quan đến việc bán tài sản

- Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng:

Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTM vì hoạt động này tạo thuận lợi nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển Do đó, khi ngân hàng không đáp ứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng tỏ ngân hàng đang thiếu nguồn cung thanh khoản

Trang 6

- Ngân hàng vay mượn số lượng lớn và thường xuyên vay vốn

từ các ngân hàng khác và ngân hàng trung ương: NHTW giữ vai trò

là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM Cho nên, khi một ngân hàng có dấu hiệu buộc phải đi vay NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên thì ngân hàng đó cần phải xem xét lại chính sách quản lý thanh khoản của mình để lấy lại niểm tin của công chúng

Nếu như xuất hiện bất cứ một dấu hiệu thị trường nào nêu trên đây

mà không có các biện pháp củng cố khả năng thanh khoản kịp thời thì nguy cơ ngân hàng đó rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là không nhỏ Các nhà quản trị ngân hàng cần phải tập trung xem xét lại cách chính sách và thực tiễn công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng để giải quyết xem những thay đổi gì cần phải thực hiện để cải

thiện khả năng thanh khoản và lấy lại niềm tin nơi công chúng

I.1.3 Về mặt định lượng

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = Tổngtài sản có rủi ro Vốntự có ∗ ¿100%

Tỷ lệ này phản ánh mức đủ vốn của NHTM trên cơ sở giá trị vốn tự có

và mức độ rủi ro trong hoạt động của mình NHTM phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.(Điểu 9- Thông tư 36/2014/TT-NHNN)

Tỷ lệ an toàn tối thiểu là 9%, nếu tỷ lê này thấp hơn 9% thì NHTM đang gặp phải rủi ro thanh khoản

- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản =TS có tính thanhkhoản cao Tổng nợ phải trả *100%

Các NHTM phải có tỷ lệ dự trữ thanh khoản >= 10%, các NHTM phải nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao để dự trữ đáp ứng các nhu cầu chi trả đến hạn và phát sinh ngoài dự kiến.( Khoản 2/ Điểu 15/ Thông tư 36/2014/TT-NHNN)

Nếu trong NHTM tỷ lệ này thấp hơn 10% thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro thanh khoản

- Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiển gửi:

Trang 7

Các NHTM thực hiện tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi theo đồng Việt Nam và các ngoại tệ được quy dổi sang đồng Việt Nam (theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày hoặc theo tỷ giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hạch toán nếu không có tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố), được xác định theo công thức sau: (Điểu 21/ Thông tư 36/2014/ TT-NHNN)

LDR: là tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi

L: là tổng dư nợ cho vay

D: là tổng tiền gửi

LDR <= 80% đồi với các NHTM Nếu tỷ lệ này cao hơn 80% thì các NHTM được xem là có rủi ro thanh khoản

- Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ Nợ xấu ∗ ¿100%

Tỷ lệ nợ xấu <=3%, nếu các NHTM có tỷ lệ lớn hơn 3% thì được xem

là có rủi ro thanh khoản

CAO ĐỐI VỚI TÍNH TRUNG THỰC VÀ HỢP LÝ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA MỘT NGÂN HÀNH

Trang 8

Việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ sáu nguyên tắc quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể so sánh và các yêu cầu quy định bổ sung tại chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 22 – Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự TCTD cũng phải thực hiện các nội dung cụ thể tại các Chuẩn mực kế toán Việt Nam khác có liên quan

Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một TCTD, đáp ứng yêu cầu quản lý của lãnh đạo TCTD, cơ quan quản lý nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế

Báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính của ngân hàng khái quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng vào ngày cuối năm

Bảng Cân Đối Kế Toán được thể hiện một cách tổng quát bao gồm 2 phần:

+ Phần Tài sản (Assets) của ngân hàng thể hiện sự sử dụng vốn (ngân quỹ) của ngân hàng, nó thể hiện hoạt động của ngân hàng

+ Phần Nợ phải trả & vốn chủ sở hữu (Liabilities and equity) được thể hiện một cách cụ thể từng nguồn hình thành nên ngân quỹ của ngân hàng Nợ phải trả không thuộc quyền sở hữu trong tài sản của

Trang 9

ngân hàng Vì vậy, vốn chủ sở hữu sẽ bằng giá trị tài sản trư đi giá trị

nợ phải trả VỐN CHỦ SỞ HỮU = TỔNG TÀI SẢN - NỢ

PHẢI TRẢ

A.1 2.1.4.1 Khái niệm

Là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, phản ánh thu nhập hoạt động chính và các hoạt động khác qua một kỳ kinh doanh (một kỳ kế toán) của NHTM Báo cáo kết quả kinh doanh được chi tiết theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính và các hoạt động tài chính, hoạt động bất thường Theo quy định ở Việt nam, báo cáo kết quả kinh doanh còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nước và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng

A.2 2.1.4.2 Nội dung và kết cấu

Báo cáo kết quả kinh doanh là loại báo cáo tài chính quan trọng của NHTM vì thông qua các chỉ tiêu của báo cáo này giúp cho lãnh đạo ngân hàng và các cơ quan quản lý, cơ quan thuế, kiểm toán nắm được thực trạng các khoản thu nhập, chi phí, kết quả tài chính của từng ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống Từ đó giúp cho công tác lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm toán có hiệu quả nhằm giúp các NHTM hoàn thành kế hoạch tài chính và kế hoạch nộp ngân sách quốc gia

Báo cáo kết quả kinh doanh của NHTM được trình bày gồm 2 phần:

Phần I: Lãi, lỗ

Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nước.

Trong phần I phản ánh các khoản thu và chi chính của NHTM như sau:

(1) Thu từ lãi: là những khoản thu từ hoạt động tín dụng, đầu tư,

từ khoản tiền gửi ở các TCTD khác, bao gồm: lãi cho vay, lãi tiền gửi, thu lãi góp vốn mua cổ phần, thu khác về hoạt động tín dụng…

Trang 10

(2) Chi trả lãi: gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay…

(3) Thu nhập lãi ròng = (1) – (2)

(4) Thu ngoài lãi: là những khoản thu nhập từ những dịch vụ NHTM cung cấp cho khách hàng và thu nhập do hoạt động kinh doanh khác tạo ra ví dụ thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu phí dịch vụ thanh toán…

(5) Chi ngoài lãi: gồm các khoản chi như chi khác về hoạt động huy động vốn, chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chi tham gia thi trường tiền tệ, bào hiểm tiền gửi…

(6) Thu nhập ngoài lãi = (4) – (5)

(7) Thu nhập trước thuế = (3) + (6)

(8) Thuế thu nhập

(9) Lợi nhuận sau thuế = (7) + (8)

Đây là khoản thu nhập còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ với NSNN

Báo cáo thu nhập tập trung vào chỉ tiêu lợi nhuận, tuy nhiên một trong các hạn chế của nó là thu nhập sẽ lệ thuộc rất nhiều vào quan điểm của kế toán trong quá trình hạch toán chi phí Một hạn chế khác nữa là do nguyên tắc kế toán về ghi nhận doanh thu quy định, theo đó doanh thu sẽ được ghi nhận khi giao dịch đã hoàn thành trong khi đó việc thanh toán lại có thể xảy ra ở thời điểm khác Nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết của báo cáo lưu chuyển tiền tệ

A.3 2.1.5.1 Khái niệm

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ của NHTM về hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là nhằm trình bày tiền tệ đã sinh ra bằng cách nào và NHTM đã sử dụng chúng như thế nào trong kỳ báo cáo

A.4 2.1.5.2 Nội dung và kết cấu

Trang 11

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích sự khác nhau giữa lợi nhuận của NHTM và các dòng tiền có liên quan, cung cấp những thông tin về những dòng tiền gắn liền với những biến động về tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ NHTM có thể đánh giá khả năng tạo ra các dòng tiền từ các loại hoạt động của ngân hàng để đáp ứng kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, cổ tức cho các

cổ đông hoặc nộp thuế cho nhà nước Trên cơ sở báo cáo lưu chuyển tiền tệ, nhà quản trị ngân hàng có thể dự đoán các dòng tiền phát sinh trong hoạt động kinh doanh để có các biện pháp quản lý trong tương lai

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được tổng hợp từ kết quả của 3 loại hoạt động của NHTM tương ứng nội dung của nó gồm 3 phần: Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh; Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư; Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính

Tính trung thực của BCTC của một ngân hàng là số liệu kế toán, thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh Thông tin được phản ánh đúng với bản chất của nó, không bị bóp méo hay xuyên tạc dù là vô tình hay cố ý

Tính hợp lý của BCTC của một ngân hàng là thông tin tài chính

và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận

II.3 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản cao đối với tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính một ngân hàng

Thật sự, có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tính trung thực

và hợp lý của báo cáo tài chính Một trọng những nguyên nhân chủ yếu, quan trọng là ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản tại ngân hàng

Trang 12

Dưới đây là ví dụ điển hình từng xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu – Eximbank sẽ làm rõ nhận định trên:

Ngày 01/04/2016, Sở giao dịch Chứng khoán TPHCM đã chính thức ban hành Quyết định số 139/QĐ-SGDHCM về việc đưa cổ phiếu EIB của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Eximbank vào diện cảnh báo

Trong Báo cáo kiểm toán, chi nhánh Công ty TNHH KPMG tại Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2015 của Eximbank, nhấn mạnh: “Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập đoàn cho năm kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2014, trước những điều chỉnh được trình bài trong Thuyết minh số 41 của báo cáo tài chính hợp nhất, được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác và công ty kiểm toán này đã đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với báo cáo tài chính này trong báo cáo kiểm toán ngày 25 tháng 3 năm 2015” “Công ty kiểm toán khác” mà KPMG nhắc tới, đơn vị thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm 2014 của EIB – báo cáo có nhiều số liệu chưa hợp lý, vừa phải điều chỉnh hồi tố – là Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam

Tại báo cáo kiểm toán phát hành ngày 25/03/2015, kiểm toán viên của Ernst & Young đã tự tin khẳng định: “Theo ý kiến của chúng tôi, báo cáo tài chính hợp nhất đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính hợp nhất của Ngân hàng và công

ty con tại ngày 31 tháng 12 năm 2014, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất và tình hình lưu chuyển tiền tệ hợp nhất cho năm tài chính kết thúc cùng ngày, phù hợp với Chuẩn mực Kế toán Việt Nam,

Hệ thống Kế toán các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất” Nên biết, không chỉ là báo cáo tài chính năm 2014, Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam, còn là đơn vị kiểm toán các báo cáo tài chính năm của EIB, suốt giai đoạn “cực thịnh” của ngân hàng này, từ 2010 – 2013 Đáng nói

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w