Hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu trên bình diện kinh tế, là một nội dung quantrọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta hướng tới việc kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức
Trang 1KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN:
ĐỀ TÀI:
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI , HỘI NHẬP
QUỐC TẾ THỜI KỲ ĐỔI MỚI
GVHD: Cô Đỗ Lâm Hoàng Trang
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
1.Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối 7
1.1.Hoàn cảnh lịch sử 7
1.2.Các giai đoạn hình thành, phát triển đường lối 12
1.2.1.Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế 12
1.2.2.Giai đoạn (1996- đến nay): bổ sung và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế 19
2.Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế 22
2.1.Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo 22
2.2 Một số chủ trương chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế 26
3.Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân: 31
3.1 Thành tựu, ý nghĩa 31
3.2 Hạn chế và nguyên nhân 38
Trang 3
ĐỀ TÀI:
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ THỜI KỲ ĐỔ MỚI
DANH SÁCH NHÓM 8:
13 Vũ Hoàng Thùy Dương 31121021059 1.hoàn cảnh lịch sử và quá trình
hình thành đường lối
25 Trần Thị Thúy Hồng 31121021026
40 Nguyễn Thị Lựu 31121020990
76 Đặng Thị Mỹ Phượng 31121021070
5 Nguyễn Thị Trâm Anh 31121021015 2 nội dung đường lối đối ngoại,
hội nhập quốc tế
44 Phạm Nhật Minh 31121021001
50 Nguyễn Thị Ngọc Ngà 31121021040
4 Nguyễn Thị Bảo Anh 31121021038 3 thành tựu, ý nghĩa, hạn chế,
nguyên nhân
23 Phan Ngọc Hiền (NT) 31121021039
114 Nguyễn Thị Hồng Trúc 31121020997
100 Lê Minh Toàn 31121021053 Mở đầu, kết luân, chỉnh sửa
powerpoint
Nhận xét của giảng viên hướng dẫn:
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủnghoảng nghiêm trọng và dần bị sụp đổ Bên cạnh đó, khoa học công nghệ hiện đại đã vàđang tác động đến tất cả các quốc gia dân tộc với mức độ khác nhau Các quốc gia trongcộng đồng thế giới đều điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình mới Trongbối cảnh quan hệ quốc tế chuyển từ đối đầu sang đối ngoại, thế cực bị phá hoại, từ đó làmnảy sinh xu hướng đa dạng hóa đa phương hóa trong quá trình toàn cầu hóa, phát triểnphụ thuộc lẫn nhau Việt Nam nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và ASEAN
là khu vực phát triển kinh tế năng động với tốc độ cao, chính trị tương đối ổn định
Hội nhập quốc tế được sử dụng để chỉ quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trườngcủa một quốc gia với nền kinh tế và thị trường và khu vực thông qua các biện pháp tự dohóa và mở cửa thị trường trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương
Hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu trên bình diện kinh tế, là một nội dung quantrọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta hướng tới việc kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước nhà
Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, hội nhập quốc tế ngày càng trở nên cấp báchđối với nước ta nhằm vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, đẩy lùi cuộc bao vây,cấm vận thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xây dụng bảo vệ tổ quốc
Trong bài tiểu luận này, chúng ta sẽ nghiên cứu đường lối đối ngoại, hội nhập quốc
tế trong thời kì đổi mới của Đảng và nhà nước ta
Bài tiểu luận của chúng em gồm ba phần:
Phần I: Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối
Phần II: Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế
Phần III: Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô Đỗ Lâm Hoàng Trang đã giúp đỡ chúng emhoàn thành bài tiểu luận này
Trang 51 Hoàn c nh l ch s và quá trình hình thành đ ảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối ịch sử và quá trình hình thành đường lối ử và quá trình hình thành đường lối ường lối ng l i ối.
1.1 Hoàn c nh l ch s ảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối ịch sử và quá trình hình thành đường lối ử và quá trình hình thành đường lối.
Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Những
biến đổi ấy vừa có ảnh hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm màViệt Nam có thể tham khảo với các mức độ khác nhau
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt làcông nghệ thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác đông sâu sắc đến mọi mặt đời sốngcủa các quốc gia , dân tộc, tác đông sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia , dântộc
Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật đã đưa lại những tiến bộ phi thường và nhữngthành tựu kì diệu:
Trong các ngành khoa học cơ bản như Toán học, Vật lí học, Hoá học, Sinhhọc có nhiều phát minh mới… Đặc biệt là tạo ra được cừu Đôli bằng phương pháp sinhsản vô tính (tháng 3-1997), lập được “Bản đồ gen người” (tháng 6-2000), giải mã hoànchỉnh bản đồ gien người (4-2003)
Trong lĩnh vực công nghệ đã xuất hiện những phát minh quan trọng, nhữngthành tựu to lớn:
Những công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động…)
Nguồn năng lượng mới (năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử…)
Vật liệu mới (chất pôlime, những vật liệu siêu sạch, siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn…)
Công nghệ sinh học (công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh, công nghệ emzim, dẫn tới cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp)
Trong lĩnh vực thông tin liên lạc và giao thông vận tải (cáp sợi thuỷ tinh quang dẫn, máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hoả tốc độ cao)
Chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ)
Trang 6 Công nghệ thông tin với sự hình thành mạng thông tin toàn cầu (Internet), được ứng dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế và hoạt động xã hội, đưa nền văn minh nhân loại sang một chương mới “văn minh thông tin”.
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc đến năm 1991,chế độ chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế trật
tự thế giới được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở 2 khối đối lập doLiên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu ( trật tự thế giới 2 cực) tan rã, mở ra thời kì hình thành trật
tự thế giới mới
Sự không thành công của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH
ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu là một bài học phản diện Sự sụp đổ đó là bằng chứng
về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn", sử dụng "liệu phápsốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ.Cái giá phải trả là rất đắt
Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột , tranhchấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hòa bình và hợp tác phát triển Các quốcgia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội đốingoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và đặcđiểm cũa thế giới
Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước , nhất là những nước đangphát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại,thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ quốc tế, mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để tranhthủ vốn , kĩ thuật , công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lísản xuất kinh doanh
Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia Thay thếcách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự, bằng các chi tiêu tổng hợp trong đósức mạnh kinh tế được đặt ở vị trí quan trọng hang đầu
Xu thế toàn cầu hóa và tác động của nó:
Trang 7Dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hóa là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kinh
tế quốc tế phát triển vượt qua các rào cản bởi biên giới quốc gia và khu vực, lan tỏa raphạm vi toàn cầu, trong đó hang hóa, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động … vận động thôngthoáng, sự phân công lao động mang tính quốc tế, quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, sựphân công lao động mang tính quốc gia, khu vực đan xen nhau, hình thành mạng lướiquan hệ đa chiều
Biểu hiện của toàn cầu hóa:
Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, giá trị tao đổi thương mại trên phạm
vi quốc tế đã tăng 12 lần Thương mại quốc tế tăng có nghĩa là của các nước trên thế giớiquan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới tăng
Sự phát triển và tác động to lớn của các công ti xuyên quốc gia
Theo số liệu của Liên hợp quốc, khoảng 500 công ti xuyên quốc gia lớn kiểm soáttới 25 % tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của những công ti này tương đương 3/4giá trị thương mại toàn cầu
Sự sát nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là cáccông ti khoa học kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong vàngoài nước Làn sóng sáp nhập này tăng lên nhanh chóng vào những năm cuối thế kỉ XX
Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế vàkhu vực như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại
Trang 8Thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp ước Thương mại tự do Bắc Mĩ(NAFTA), Hiệp ước Thương mại tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á
- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM),
Các tổ chức này có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giải quyếtnhững vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng( tháng 1-2011) nhậnđịnh: “ Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩyquá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”
Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa:
Đại hội lần thứ nhất IX của Đảng chỉ rõ:” toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế kháchquan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển
và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặttích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh
Những tác động tích cực của toàn cầu hóa:
Trên cơ sở thị trường mở rộng trao đổi hàng hóa tăng mạnh đã thúc đẩyphát triển sản xuất của các nước,nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lýcùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp tác
Làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau, nâng cao sự hiểu biết giữa các quốc gia,thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các nước
Những tác động tiêu cực:
Các nước công nghiệp phát triển thao túng, chi phối quá trình toàn cầu hoátạo nên sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế và làm gia tăng sự phân cực giữa nướcgiàu và nước nghèo
Trang 9 Toàn cầu làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống của con người kém antoàn hơn (từ kém an toàn về kinh tế, tài chính đến kém về an toàn chính trị), hoặc tạo ranguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia
Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồngthời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam, là nếu bỏ lỡ thời cơ sẽ tụt hậu nguy hiểm
Thực tế cho thấy rằng, các nước muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụthậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, đồngthời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn thận trong các yếu tốt bất lợi để vượt qua Dựbáo tình hình thế giới , Đảng nhận định: trên thế giới “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu thế lớn , nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khólường Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc ly khai, chiến tranh cụa bộ, tranhchấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt ”
Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Trong khu vực vẫn tồn tại những bất ổn như vấn đề hạt nhân, vấn đề tranh chấpchủ quyền biển đảo, tài nguyên và việc một số nước trong khu vực tang cường vũ trang ,nhưng châu Á – Thái BÌnh Dương vẫn được đánh giá là khu vực ổn định
Châu Á – Thái Bình Dương có tiềm lực lớn và năng động về phát triển kinh tế Xuthế hòa bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh
Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
Trang 10Chúng ta phải đối mặt với những hậu quả nặng nề và khó khăn thời hậu chiến
tranh; những khuyết điểm, sai lầm trong chỉ đạo, thực hiện đường lối, chủ trương chínhsách… Đó là những lí do khiến Đảng ta có những bước đột phá dẫn tới đổi mới và làmchín muồi nhận thức và quyết sách đổi mới, trong đó, đổi mới tư duy lí luận về chủ nghĩa
xã hội là khâu đột phá
Vấn đề giải tỏa tình trạng đối đầu, thù địch, phá thế bị bao vây, cấm vận, tiến tớibình thường hóa và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tạo môi trường quốc tế thuậnlợi để tập trung xây dựng kinh tế là nhu cầu cần thiết và cấp bách đối với nước ta
Nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế đạt ra gay gắt Để thu hẹp khoảng cách phát triểngiữa nước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trong nước,cần phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài , trong đó việc mở rộng và tăng cường hợptáckinhte61 với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương có ý nghĩa đặc biệtquan trọng
1.2 Các giai đo n hình thành, phát tri n đ ạn hình thành, phát triển đường lối ển đường lối ường lối ng l i ối.
1.2.1 Giai đo n 1986-1996: Xác l p đ ạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ng l i đ i ngo i đ c l p t ch , ối đối ngoại độc lập tự chủ, ối đối ngoại độc lập tự chủ, ạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ộc lập tự chủ, ập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ự chủ, ủ,
m r ng, đa d ng hoá, đa ph ở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế ộc lập tự chủ, ạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ương hoá quan hệ quốc tế ng hoá quan h qu c t ệ quốc tế ối đối ngoại độc lập tự chủ, ế
Vào cuối những năm bảy mươi của thế kỷ XX do những điều kiện khắc nghiệt củahoàn cảnh đất nước và cả do những khuyết điểm chủ quan trong lãnh đạo và quản lý màđất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.Trong bối cảnh đó Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã từng bước thử nghiệm tìm tòi conđường đổi mới để đưa đất nước phát triển Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõhơn về CNXH và về thời kỳ quá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sựđổi mới từng phần, lắng nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địaphương và cơ sở
Đại hội VI của Đảng ( 12 /1986) trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bật của thế giới
là cuộc cách mạng khoa - học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, đẩy nhanh quá trình quốc tếhoá lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “ xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các
Trang 11nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau,cũng là những điều kiện rấtquan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Từ đó Đảng chủtrương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và
đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủnghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức và tư nhân nước ngoài trênnguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Đại hội VI của Đảng đã xác định rõ chức năng quản lýnhà nước về kinh tế - xã hội của bộ máy Nhà nước, nghĩa là, Nhà nước thông qua hệthống pháp luật và chính sách để điều hành, quản lý nền kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô
Qua Đại hội VI, Đảng ta đã nhận thức rằng, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội phải trải qua một thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ đóphụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước “Thời kỳ quá độ ở nước
ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn” Thời kỳ quá độ lâu dài vớinhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”.Trong hàng loạt các quy luật khách quan, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơnquy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất, sửa chữa sai lầm trước đó là là đã đưa quan hệ sản xuất đi quá nhanh, quá xa trongkhi lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu, tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuấtthông qua thực hiện cách mạng khoa học - công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hóa, từ đó điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp Các quy luật vận động trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là các quy luật kinh tế đã từng bước nhận thức vàvận dụng đúng đắn và có hiệu quả hơn Khi quyết định đường lối đổi mới ở Đại hội VIĐảng ta đã nghiêm túc chỉ ra rằng, cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thểnóng vội làm trái quy luật Đại hội VI đã vận dụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh
tế nhiều thành phần Chính Lênin cũng cho rằng tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là
để khẳng định hướng tiến lên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàn toàn
là kinh tế xã hội chủ nghĩa Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phần kinh tếphát triển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan Đại hội VI khẳng định
Trang 12nước ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khuvực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhànước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủtrương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần Thực tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiều thành phần kinh tế đương nhiên là cónhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nướccùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
Cùng với đổi mới cơ cấu kinh tế, Đảng chủ trương đổi mới cơ chế quản lý dứtkhoát bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển sang hạch toán,kinh doanh và từng bước đưa nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lýcủa Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó chính là nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đạigắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phânphối
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng quản lýđiều hành của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Xâydựng và hoàn thiện Nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Củng
cố sức mạnh của hệ thống chính trị Đại hội VI của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng Đảngngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền, tăng cường sức chiến đấu, nănglực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn, đổi mới phong cách làm việc, đi sâu, đi sátthực tế, sát cơ sở, gắn bó với nhân dân Nâng cao trình độ trí tuệ, nắm bắt và vận dụngđúng đắn quy luật khách quan, hiểu biết sâu sắc những vấn đề kinh tế, xã hội
Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 12-1987, luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam được ban hành, khi nước ta còn trong vòng xoáy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội,lạm phát phi mã, sản xuất và lưu thông chậm phát triển, làm không đủ ăn, buộc phải dùngtem phiếu “phân phối sự thiếu thốn”; khi các nước “phương Tây” cấm vận đối với ViệtNam, quan hệ kinh tế đối ngoại hầu như chỉ bó hẹp trong khung khổ Hội đồng Tương trợ
Trang 13kinh tế với 12 nước xã hội chủ nghĩa (cũ) Luật Đầu tư nước ngoài 1987 được dư luậnquốc tế đánh giá cao Hoạt động FDI là khâu đột phá trong hội nhập kinh tế quốc tế nhờthị trường đầy tiềm năng của Việt Nam có sức hấp dẫn hàng trăm nhà đầu tư quốc tế,trong đó có các nước đang thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, điển hình là Mỹ.Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài tại Việt Nam – mở cửa để thu hút nguồn vốn, thiếtbị và kinh nghiệm tổ chức quản
lý sản xuất, kinh doanh và phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đốingoại trong tình tình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng vànhân dân ta là phải củng cố và giư vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triểnkinh tế Bộ chính trị đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tìnhtrạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triểncủa cách mạng khoa học – kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranhthủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợptác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Nghị quyết số 13 của Bộ chính trị đánh dấu sự đổi mới tư duy quan hệ quốc tế vàchuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta Sự chuyển hướng này đã đặt nềnmóng hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,mở rộng, đa dạng hoá, đa phươnghoá quan hệ quốc tế Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá
bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu So với chủ trươngcủa Đại hội V “ Nhà nước độc quyền ngoại thương và Trung ương thống nhất quản lýcông tác ngoại thương”, thì đây là bước đổi mới đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đối ngoạicủa Việt Nam
Đại hội VII của Đảng ( 6/1991) đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng cólợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hôi khác nhau, trên cơ sở cácnguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cảcác nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể Với Lào vàCampuchia, thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần
Trang 14bình đẳng Với Trung Quốc, Đảng chủ trương thúc đẩy bình thường hoá quan hệ, từngbước mở rộng hợp tác Việt – Trung Trong quan hệ với khu vực, chủ trương phát triểnquan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu chomột Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác Đối với Hoa Kỳ, Đaị hội nhấn mạnh yêucầu thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đạihội lần thứ VII của Đảng thông qua, đã xác định quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhândân tất cả các nước trên thế giới là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hộichủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
Các Hội nghị Trung ương (khoá VII) tiếp tục cụ thể hoá quan điểm của Đại hộiVII về lĩnh vực đối ngoại Trong đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ươngkhoá VII (tháng 6-1992) nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tê
Mở rộng cửa để tiếp thu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thịtrường thế giới, trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường, hạnchế đến mức tối thiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình mở cửa
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng
bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ , mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệđối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo là: giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủnghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực,phù hợp với đặc điểm từng đối tượng
Như vậy quan điểm chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra từ Đại hội lần thứ
VI, sau đó được các nghị quyết trung ương từ khoá VI đến khoá VII phát triển đã hìnhthành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệquốc tế
Ngày 3/2/1994: TT Hoa Kỳ Bill Clinton thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vậnthương mại đối với Việt Nam Từ đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển và có cơhội giao lưu thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 15Vào ngày 28/7/1995,Việt Nam chình thức trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọngtrong đường lối đối ngoại của Việt Nam Sự kiện này là một dấu son trên con đường hộinhập khu vực và thế giới, đưa nước ta tiến lên con đường phía trước trên con đường xâydựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc
tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế.Đồng thời chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới” Đại hội VIII xác định rõ hơn quan điểm đối ngọai với các nhóm đốitác như: ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chứcASEAN; không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan
hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết với cácnước đang phát triển, với phong trào không liên kết; tham gia tích cực và đóng góp chohoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tế So với Đại hội VII, chủ trươngđối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới: một là, chủ trương mở rộng quan hệ với cácđảng cầm quyền và các đảng khác Với những nội dung rất căn bản và chủ yếu trongđường lối đổi mới cùng với bản lĩnh chính trị vững vàng và trách nhiệm trước đất nước,giai cấp và dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước vượt qua những khó khăn,thách thức, kể cả tác động tiêu cực do sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nướcĐông Âu và Liên Xô đưa lại, không ngừng đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo con đườngcủa chủ nghĩa xã hội và qua những năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩalịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân.Qua Đại hội VIII Có thể thấy rõ thành tựu của những năm đổi mới cả về thực tiễn và nhậnthức lý luận để vững tin vào con đường đã lựa chọn và sự phát triển của đất nước
Về thực tiễn, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội từ 1996, kinh tế tiếp tục tăngtrưởng khá nhanh (GDP bình quân 1986-1990 là 3,9%, 1991-1995 là 8,2%, nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng, công nghiệp hoá, hiện đạihóa được đẩy mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội tăng lên đáng kể Hệthống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh công nhân - nông
Trang 16dân - trí thức do Đảng lãnh đạo ngày càng được tăng cường và củng cố Nền quốc phòngtoàn dân và an ninh nhân dân được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Quan hệ đốingoại được mở rộng Vì thế nước ta trên thế giới được nâng cao Sức mạnh tổng hợp từnguồn nội lực của đất nước tăng lên nhiều Nhân dân tin tưởng ở đường lối đổi mới và sựlãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tin tưởng ở tương lai phát triển của đất nước
Về lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam ngày càng rõ hơn Nhận thức rõ hơn về mục tiêu, mô hình của xã hội xã hội chủnghĩa ở Việt Nam, rõ hơn về chặng đường, bước đi khi đã hoàn thành những nhiệm vụ đề
ra cho chặng đường đầu trên của thời kỳ quá độ, cho phép chuyển sang chặng đường đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, rõ hơn về những công cụ, giải pháp để thựchiện mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, rõ hơn về những mối quan
hệ đặt ra cần được giải quyết một cách đúng đắn trên con đường đổi mới vì mục tiêu chủnghĩa xã hội, mà trước hết làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh
Qua những năm bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới đã có cơ sở để rút ra một sốbài học lớn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đó là các bài học: trong quá trình đổi mới phảikiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hìnhthức và cách làm phù hợp; đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, pháthuy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới;phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo,bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệthống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảmquyền lực thuộc về nhân dân
Trang 171.2.2 Giai đo n (1996- đ n nay ạn hình thành, phát triển đường lối ến nay ): b sung và hoàn ch nh đ ổ sung và hoàn chỉnh đường lối đối ỉnh đường lối đối ường lối ng l i đ i ối ối ngo i, ch đ ng, tích c c h i nh p kinh t qu c t ạn hình thành, phát triển đường lối ủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc t ộng, tích cực hội nhập kinh tế quốc t ực hội nhập kinh tế quốc t ộng, tích cực hội nhập kinh tế quốc t ập kinh tế quốc t ến nay ối ến nay
Đại hội VIII(diễn ra từ ngày
28/6-1/7/1996 tại Hà Nội) xác định rõ hơn quan
điểm đối ngoại với các nhóm đối tác như: ra
sức tăng cường quan hệ với các nước láng
giềng và các nước trong tổ chức ASEAN;
không ngừng củng cố quan hệ với các nước
bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với
các nước phát triển và các trung tâm kinh tế
-chính trị thế giới; đoàn kết với các nước đang phát triển, với phong trào không liên kết;tham gia tích cực và đóng góp cho hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốctế
Tiếp tục khẳng định mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, cáctrung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế
Đưa ra chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới:
Một là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác
Hai là, quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ
Ba là, lần đầu tiên trên lĩnh vực đối ngoại Đảng đưa ra chủ trương thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khoá VIII (tháng 12-1997), chỉ rõ:trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lựcbên ngòai Nghị quyết đề ra chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phánHiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO
Trang 18Đại hội IX của Đảng (diễn ra từ 19-22/4/2001) tại Hà Nội:
Đảng chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần pháthuy tối đa nội lực Lần đầu tiên, Đảng nêu rõ quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ”
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối,chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủphải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tếđối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp phát triển đất nước
Đại hội IX đã phát triển phương châm của Đại Hội VII là: “Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” thành “ Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Chủ trương xây dựng quan hệ đối tác được đề ra ở Đại hội IX đánh dấu bước pháttriển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới Tháng 11-2001, BộChính trị ra Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết đề ra 9 nhiệm vụ cụthể và 6 biện pháp tổ chức thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nghị lần thứchín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (ngày 5-1-2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bịtốt các điều kiện trong nước để sớm ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); kiênquyết đấu tranh với mọi biểu hiện của các lợi ích cục bộ làm kìm hãm tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (diễn ra từ ngày 18-25/4/2006) nêu quan điểm:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát
triển Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.
Điểm mới so với đại hội IX chủ trương “ chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế”
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:
Trang 19Chủ động quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế- xã hội nói chung vàhội nhập kinh tế quốc tế nói riêng Phải sáng tạo lựa chọn phương thức hành động đúng,
dự báo được những thuận lợi khó khăn khi hội nhập
Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế:
Khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên trong, từ phương thức lãnhđạo, quản lý đến hoạt động thực tiên; từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp
Khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch,đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinhtế,đổi mới cơ chế quản lí kinh tế hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế;
Tích cực, nhưng phải thận trọng, vững chắc
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí, quyết tâm của Đảng,Nhà nước, toàn dân, của mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và toàn xã hội.Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan
hệ quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996), đến Đạihội X (năm 2006) được bổ sung, phát triển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế, hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và pháttriển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dang hoá các quan hệ quốc tế
Đại hội XI (diễn ra từ ngày 12-19/1/2011 tại Hà Nội):
Tiếp nối và phát triển những quan điểm , chính sách đối ngoại mà Đảng ta
đã xây dựng và phát triển những quan điểm , chính sách đối ngoại mà Đảng ta đã xâydựng và phát triển trong suốt hơn 80 năm tổ chức và lạnh đạo cách mạng Việt Nam
Lợi ích quốc gia dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc cao nhất của cáchoạt động đối ngoại
Hội nhập quốc tế trở thành hướng đối ngoại lớn
Điểm mới so với đại hội X: chuyển từ chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
đến” chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.