1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài thị trường chứng khoán việt nam

17 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 599,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: + Thị trường tập trung sở giao dịch chứng khoán + Thị trường phi tập trung thị trường OTC - Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường: TTCK c

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2

1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 2

2 Khái niệm, vai trò, chức năng của thị trường chứng khoán 3

2.1 Khái niệm 3

2.2 Vai trò 3

2.3 Chức năng 4

3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 5

4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 5

5 Cách thức mở tài khoản và giao dịch chứng khoán 6

5.1 Cách thức mở tài khoản 6

5.2 Giao dịch chứng khoán 6

II THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 8

1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của TTCK ở Việt Nam 8

2 Một số đặc điểm của TTCK Việt Nam 8

3 Các trung tâm giao dịch chứng khoán tại Việt Nam 9

4 Tình hình hoạt động của TTCK Việt Nam 10

5 Các mặt thuận lợi và một số hạn chế của TTCK Việt Nam, nguyên nhân 12

6 Mô hình tổ chức TTCK Việt Nam 13

III NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 14

1 Giải pháp 14

2 Định hướng 16

KẾT LUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai, xuất phát từ nhu cầu đơn lẻ Vào giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi, mua bán các vật tư hàng hóa Lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành "thị trường" với việc thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước này được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường

"Phiên chợ đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại

đó một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là "Bourse" tức là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là Sở giao dịch

Vào năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự thịnh vượng do eo biển Even bị lắp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và chuyển qua thị trường Auvers (Bỉ) Ở đây thị trường phát triển rất nhanh và vào giữa thế kỷ XVI, một quan chức đại thẩm Anh quốc đã đến quan sát để về thiết lập mậu dịch thị trường tại London (Anh), nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu

Sự phát triển thị trường ngày càng mạnh cả về lượng và chất với số thành viên tham gia đông đảo với nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hóa, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai, thị trường chứng khoán với đặc điểm riêng của từng thị trường thuận lợi cho hoạt động giao dịch của những người tham gia thị trường

Quá trình các giao dịch chúng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự phát cũng tương tự ờ Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ

Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Cho đến năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyền vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán được chính phủ chính thức thành lập

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các phương thức giao dịch tại các Sở giao dịch chứng khoán cũng được cải thiện theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch Các Sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử

Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 160 Sở giao dịch chứng khoán phân

bố trên khăp các châu lục, bao gồm cả các nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á vào những năm 1960-1970 và những nước như Ba Lan, Hungari, Séc, Nga, Trung quốc vào những năm 1990

Trang 3

Quá trình hình thành và phát triển của TTCK thế giới cho thấy giai đoạn đầu thị trường phát triển một cách tự phát với sự tham gia của các nhà đầu cơ Dần dần về sau mới có sự tham gia của công chúng đầu tư Khi phát triển đến mức độ nhất định, thị trường bắt đầu phát sinh những trục trặc dẫn đến phải thành lập cơ quan quản lý nhà nước

và hình thành hệ thống pháp lý để điều chỉnh hoạt động của thị trường

2 Khái niệm, vai trò, chức năng của thị trường chứng khoán

2.1 Khái niệm

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp

pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, bao gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh

Thị trường chứng khoán là hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán dài

hạn (cổ phiếu, trái phiếu) có tổ chức, theo pháp luật (luật giao dịch chứng khoán) TTCK

là nơi chắp nối quan hệ cung và cầu vốn đầu tư dài hạn của nền kinh tế quốc gia và quốc

tế, là nơi gặp gỡ giữa những người cần vốn huy động đầu tư (người phát hành chứng khoán) với những người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư (người muốn mua chứng khoán) cũng như giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau

Phân loại thị trường chứng khoán

- Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn:

+ Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu

tư mua các chứng khoán mới phát hành

+ Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành

- Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường:

+ Thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán)

+ Thị trường phi tập trung (thị trường OTC)

- Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường:

TTCK cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh

2.2 Vai trò của thị trường chứng khoán

- TTCK có vai trò quan trọng trong huy động vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh

và các nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ

- TTCK là một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, một lĩnh vực mà hệ thốn ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng được cho các doanh nghiệp

- TTCK góp phần điều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều của nền kinh tế

- TTCK tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn

Trang 4

- Thông qua TTCK, các chủ thể kinh tế đều có thể trở thành nhà đầu tư trực tiếp vào nền sản xuất kinh tế quốc dân và trở thành những người chủ sở hữu một phần giá trị tài sản doanh nghiệp

- Là một kênh thu hút đầu tư và tạo tính thanh khoản cho chứng khoán

- Tạo môi trường để nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế xã hội

2.3 Chức năng của thị trường chứng khoán

2.3.1.Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của

họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

2.3.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

2.3.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu

quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao

2.3.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

2.3.5 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén, chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đàu tư các mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản

lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh

tế

Trang 5

3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

Nguyên tắc công khai

Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thế kiêm tra trực tiếp được các chứng khoán như những hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan Vì vậy TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy

đủ, trung thực và kịp thời những thông tin liên quan tới tố chức phát hành, tới đạt phát hành Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác

Nguyên tắc trung gian

Theo nguyên tấc này, trên TTCK, các giao dịch được thực hiện thông qua tố chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới, kinh doanh m à công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc két nôi các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình

Nguyên tắc đấu giá

Mọi việc mua bán chứng khoán trên TTCK đều hoạt động trên nguyên tắc đấu giá Nguyên tầc đấu giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định

4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

- Nhà phát hành: là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường

chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị

trường chứng khoán; bao gồm Chính phủ và chính quyền địa phương (phát hành các

trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương), Doanh nghiệp (phát hành các cổ phiếu

và trái phiếu doanhnghiệp), Các tổ chức tài chính (phát hành các công cụ tài chính như

các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ)

- Nhà đầu tư: là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu

tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

- Các tổ chức kinh doanh trên TTCK: Công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư chứng

khoán, Các trung gian tài chính

- Các tổ chức có liên quan đến TTCK gồm:

+ Ủy ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản

lý nhà nước đối với TTCK ở Việt Nam

+ Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCKNN

+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

+ Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

+ Các tổ chức tài trợ chứng khoán

Trang 6

5 Cách thức mở tài khoản và giao dịch chứng khoán

5.1 Cách thức mở tài khoản

Theo quy định của Luật Chứng khoán hiện hành thì việc mở tài khoản chứng khoán chỉ có hiệu lực pháp lý khi Hợp đồng được ký mực tươi (thêm dấu đỏ nếu là tổ chức) bản gốc của cả 2 bên (Khách hàng / Nhà đầu tư và Công ty chứng khoán) Căn cứ vào đó, thực tế ở Việt Nam đã phát sinh ra 2 cách mở tài khoản chứng khoán chính như sau:

a Mở tài khoản chứng khoán trực tiếp: đây là cách đơn giản nhất, bạn chỉ việc

cầm Chứng minh thư Nhân dân (CMND) lên Công ty Chứng khoán (CTCK) và yêu cầu

Mở tài khoản Chứng khoán cho mình Và sau đó cứ làm theo hướng dẫn là xong

b Mở tài khoản chứng khoán từ xa (Chỉ có một số CTCK áp dụng): do bị giới

hạn bởi điều Luật Chứng khoán như đã nói ở trên là Hợp đồng Mở tài khoản chứng khoán phải là chứng từ gốc nên thực sự là không có Online đúng nghĩa như nhiều CTCK vẫn quảng cáo, mà bản chất là bạn khai thông tin cá nhân trên website của họ, họ gởi cho bạn bản mềm qua email (hoặc bản cứng qua Chuyển phát nhanh), sau đó bạn in bản mềm

đó ra để khai thông tin, ký xác nhận và gởi bộ hồ sơ đó qua chuyển phát nhanh về CTCK, sau khi CTCK nhận được hô sơ thì sẽ kiểm duyệt và xác nhận, đóng dấu sẽ thông báo lại cho bạn biết là Hồ sơ Mở tài khoản Chứng khoán của bạn đã Hợp lệ và có hiệu lực, đồng thời gởi lại cho bạn 1 bản trong bộ Hồ sơ đó (Có thể là bản photo có dấu treo của Công ty nếu bạn chỉ khai ban đầu 1 bản)

5.2 Cách thức giao dịch chứng khoán

TTGDCK hoặc SGDCK tổ chức giao dịch chứng khoán thông qua hệ thống giao dịch theo 2 phương thức:

5.2.1 Phương thức khớp lệnh

Phương thức khớp lệnh là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán của khách hàng theo nguyên tắc xác định giá thực hiện như sau:

- Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất

- Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện nêu trên thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn

- Nếu vẫn có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện thứ hai thì mức giá cao hơn sẽ được chọn

a Nguyên tắc khớp lệnh

Trong khớp lệnh định kỳ, mỗi lần khớp lệnh sẽ hình thành một mức giá thực hiện duy nhất là mức giá thỏa mãn điều kiện thực hiện được một khối lượng giao dịch lớn nhất Để xác định những lệnh được thực hiện trong mỗi lần khớp lệnh, phải sử dụng nguyên tắc của ưu tiên khớp lệnh theo trật tự sau:

- Thứ nhất: Ưu tiên về giá (lệnh mua giá cao hơn, lệnh bán giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước)

- Thứ hai: Ưu tiên về thời gian (Lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước)

- Thứ ba: Ưu tiên về khách hàng (Lệnh khách hàng - lệnh môi giới được ưu tiên thực hiện trước lệnh tự doanh - lệnh của nhà môi giới)

- Thứ tư: Ưu tiên về khối lượng (Lệnh nào có khối lượng giao dịch lớn hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước)

Trang 7

Ngoài ra, các Sở giao dịch chứng khoán có thể áp dụng nguyên tắc phân bổ theo tỷ

lệ đặt lệnh giao dịch

Hệ thống giao dịch khớp lệnh hiện nay được các Sở giao dịch trên thế giới áp dụng rộng rãi do có những ưu việt hơn so với hệ thống đấu giá theo giá

b Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm

- Quá trình xác lập giá được thực hiện một cách có hiệu quả Tất cả các lệnh mua và bán cạnh tranh với nhau, qua đó người đầu tư có thể giao dịch tại mức giá tốt nhất

- Hệ thống đảm bảo được tính minh bạch của thị trường do lệnh giao dịch của nhà đầu tư được thực hiện theo những quy tắc ghép lệnh

- Kỹ thuật giao dịch đơn giản, dễ theo dõi, dễ kiểm tra và giám sát

- Bằng cách theo dõi thông tin được công bố, người đầu tư có thể đưa ra những quyết định kịp thời trước tình hình diễn biến của thị trường

Nhược điểm: Giá cả dễ biến động khi mất cân đối cung cầu

5.2.2 Phương thức thoả thuận

Phương thức thoả thuận là phương thức giao dịch trong đó các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch

5.2.3 Khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục

Có hai phương thức khớp lệnh trên hệ thống khớp lệnh: khớp lệnh liên tục và khớp lệnh định kỳ

a Phương thức khớp lệnh liên tục (continuous auction)

Khớp lệnh liên tục là phương thức giao dịch được thực hiện liên tục khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống

Ưu điểm

- Giá cả phản ánh tức thời các thông tin trên thị trường Hệ thống cung cấp mức giá liên tục của chứng khoán, từ đó tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia thị trường mộtcách năng động và thường xuyên vì nhà đầu tư có thể ngay lập tức thực hiện lệnh hoặc nếu không cũng nhận được phản hồi từ thị trường một cách nhanh nhất để kịpthời điều chỉnh các quyết định đầu tư tiếp theo

- Khối lượng giao dịch lớn, tốc độ giao dịch nhanh Vì vậy, hình thức khớp lệnh này phù hợp với các thị trường có khối lượng giao dịch lớn và sôi động

- Hạn chế được chênh lệch giữa giá lệnh mua và lệnh bán, từ đó thúc đẩy các giao dịch xảy ra thường xuyên và liên tục

Nhược điểm: Hình thức khớp lệnh liên tục chỉ tạo ra mức giá cho một giao dịch điển hình chứ không phải là tổng hợp các giao dịch

b Phương thức khớp lệnh định kỳ (call auction)

Khớp lệnh định kỳ là phương thức giao dịch dựa trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và bán trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó khi đến giờ chốt giá giao dịch, giá chứng khoán được khớp tại mức giá đảm bảo thực hiện được khối lượng giao dịch là lớn nhất (khối lượng mua và bán nhiều nhất)

Ưu điểm

- Khớp lệnh định kỳ là phương thức phù hợp nhằm xác lập mức giá cân bằng trên thị trường Do lệnh giao dịch của người đầu tư được tập hợp trong một khoảng thời gian nhất định nên khớp lệnh định kỳ có thể ngăn chặn được những đột biến về giá thường xuất hiện dưới ảnh hưởng của lệnh giao dịch có khối lượng lớn hoặc thưa thớt

Trang 8

- Tạo sự ổn định giá cần thiết trên thị trường, giảm thiểu những biến động về giá nảy sinh từ tình trạng giao dịch thất thường

Nhược điểm

Giá chứng khoán được xác lập theo phương thức khớp lệnh định kỳ không phản ánh tức thời thông tin trên thị trường và hạn chế cơ hội giao dịch của người đầu tư Khớp lệnh định kỳ thường được các Sở giao dịch sử dụng để xác định giá mở cửa, đóng cửa hoặc giá chứng khoán được phép giao dịch lại sau một thời gian bị ngừng giao dịch

II THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1 Sơ lược về sự hình thành TTCK ở Việt Nam

Ngày 10/7/1998, ban hành nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

- Ngày 20/07/2000, TTGDCK TP.HCM chính thức vận hành, phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000

- Ngày 08/03/2005, TTGDCK Hà Nội khai trương hoạt động Hoạt động ban đầu là

tổ chức đấu giá chứng khoán cho doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 14/07/2005

- Ngày 11/05/2007, TTGDCK TP.HCM chính thức chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và khai trương vào ngày 08/08/2007

- Ngày 02/01/2009, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập theo quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

2 Một số đặc điểm của TTCK Việt Nam

a Thị trường còn non trẻ

Tính từ khi TTGDCK HCM được thành lập (20/07/2000) đến thời điểm hiện tại thì TTCK Việt Nam mới trái qua chưa được 8 năm hoạt động So với các nước phương Tây thì ta đi sau họ đến hàng trăm năm Trong giai đoạn này không tránh khỏi những vướng mắc ban đầu như việc thiếu kinh nghiệm trong quản lý thị trường, xây dụng khung pháp

lý, điều tiết các hoạt động có liên quan Tuy vậy, chúng ta đang từng bước khắc phục và

đã đạt được những thành quà bước đầu

b Tính khó dự báo

Nói về TTCK, Ngân hàng thế giới (World Bank), Công ty tài chính quốc tế (IFC) và Morgan Stanley Capital International xếp Việt Nam vào nhóm thứ ba trong số ba nhóm thị trường mới nồi (Frontier Markets Indices) đang tồn tại những đặc điểm đáng lưu ý Một thị trường với mức độ biến động giá cô phiếu rất cao; rủi ro cao đồng nghĩa với nhà đầu tư kỳ vọng mức sinh lời cao hơn TTCK các nước phát triển; tính thanh khoản thấp và thị trường phổ thuộc vào những công ty niêm yết hàng đầu; mức độ mờ cửa ra thị trường thế giới còn nhiều hạn chế; tính minh bạch của các doanh nghiệp và thị trường còn thấp Chính những đặc điểm này tác động rất mạnh đến giá cổ phiếu trên thị trường và khiến

cho giá cồ phiếu trờ nên khó dự báo

Trang 9

c Phụ thuộc nhiều vào nhà đầu tư nước ngoài

Trên bình diện quốc tế nói chung, việc các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ một phân lớn, thậm chí chi phối hoàn toàn xu hướng thay đổi của TTCK một quốc gia nào đó đã trở thành hiện tượng phổ biến Điều này xảy ra ngay cà với những TTCK được coi là non trẻ như tại vài nước khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên nếu nhìn toàn cảnh TTCK Việt Nam

dù đã đi vào đã hoạt động được gần 8 năm, nhưng cho đến nay, sự chi phối và những tác động cổ thể của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường vẫn còn là những ẩn số Có rất nhiều ý kiến lo lắng cho rằng, thế mạnh của dịch vụ chứng khoán nước ngoài có thể làm lũng đoạn TTCK Việt Nam, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi hàng ngày trên thị trường khối lượng cố phiếu giao dịch mua vào của các nhà đầu tư nước ngoài luôn cao gấp 4-5 lần khối lượng bán ra

d Nhà đầu tư chủ yếu là cá nhân

Một đặc điểm của TTCK Việt Nam là các nhà đầu tư cá nhân vẫn là nhân tố chính tham gia thị trường, chiếm đại đa số trong hơn 300.000 tài khoản (hơn 90%) và gần 70% khối lượng giao dịch của toàn thị trường Điều này đã dẫn tới những quyết định đầu tư cũng khác nhau Nhà đâu tư cá nhân Việt Nam thường chú trọng đầu tư ngắn hạn, chỉ quan tâm tới lợi ích trước mắt Đây có lẽ cũng là một trong những hạn chế lớn nhất của thị trường

e Tâm lý "đám đông" của các nhà đầu tư Việt Nam

Đây là một đặc điểm dễ nhận thấy ờ TTCK Việt Nam Đặc biệt, TTCK ở Việt Nam còn quá non trẻ, thậm chí nền kinh tế cũng mới cải cách được hơn 20 năm Đối mặt với một

cơ hội kiếm tiền chưa bao giờ có , các nhà đầu tư Việt Nam chưa có đủ bản lĩnh, có đủ vốn kiến thức đê thể tự đánh giá, phân tích cũng tìm cho mình một lối đi riêng Cách duy nhất làm họ cảm thấy yên tâm là đi theo số đông, mua theo mọi người, bán theo mọi người Vì vậy, tâm lý "đám đông" là một điều dễ hiểu Nhà đầu tư có quyền và tiền của bản thân họ Sự xuất hiện của tâm lý "đám đông" chỉ là một sự khởi đầu tất yếu trong sự phát triển của một TTCK

3 Các trung tâm giao dịch chứng khoán tại Việt Nam

a Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tâm GDCK Tp.HCM được thành lập theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTG ngày 11/07/1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM đã được chính phủ ký quyết định số:599/QĐ-TTG ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM Ngày 08/08/2007 Sở GDCK TP.HCM chính thức khai trương

Trung tâm được chính phủ giao một số chứng năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản

lý điều hành hệ thông giao dịch chứng khoán tại Việt Nam Đó là: tổ chức, quản lý, điều

Trang 10

hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu ký

và thanh toán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác

b Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội(SGDCK Hà Nội) được thành lập theo quyết định số 01/2009/QĐ-TTg ngày 2/1/2009 của thủ tướng chính phủ trên cơ sở chuyển đổi,

tổ chức lại trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Ngày 11/7/1998, chính phải ra quyết định số:127/1998/QĐ-TTG thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc ủy ban chứng khoán nhà nước Theo đó trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp TTGDCK Hà Nội có nhiệm vụ sau: Tổ chức, quản lý , điều hành việc mua bán chứng khoán; Quản lý , điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán; Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán; Thực hiện đăng ký chứng khoán

4 Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

TTCK Việt Nam đã đi được chặng đường 15 năm - một chặng đường chưa phải là dài nhưng cũng đủ để nhìn lại các dấu mốc với nhiều cung bậc cảm xúc Cho dù đây đó vẫn còn những mối lo khi thị trường chứng kiến sự tăng giảm đan xen của các chỉ số chứng khoán trong thời gian qua, nhưng niềm tin về sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường vẫn hiện hữu khi những phiên giao dịch sôi động cuối tháng 5 và cả tháng 6/2015 đã đem lại tia hy vọng về một chu kỳ tăng trưởng mới của TTCK Việt Nam trong hai quý cuối năm 2015

Hiện nay TTCK trong nước đã trải qua 3/4 chặng đường đầy biến động của năm

2015 Kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của của tháng 9/2015, chỉ số VN-Index đứng ở mức 562,64 điểm, tức tăng 3,1% so với cuối năm 2014 Trong khi đó, chỉ số HNX-Index giảm mạnh 6% xuống còn 77,97 điểm

Tương tự như các năm trước, giao dịch của khối ngoại trong 9 tháng đầu năm

2015 tiếp tục có những ảnh hưởng đáng kể tới tâm lý nhà đầu tư cũng như diễn biến thị trường chung

Cụ thể, mặc dù bán ròng liên tục trong tháng 8 và tháng 9, tuy nhiên tính chung cho cả 9 tháng đầu năm 2015, khối ngoại vẫn mua ròng lên tới hơn 4.229,38 tỷ đồng, tương ứng khối lượng bán ròng đạt hơn 284,6 triệu cổ phiếu

Giao dịch của khối ngoại trên sàn HOSE và HNX trong 9 tháng vừa qua có phần sôi động hơn cùng thời điểm năm 2014, họ thực hiện mua vào hơn 1,9 tỷ cổ phiếu, trong khi bán ra là hơn 1,65 tỷ cổ phiếu Giá trị mua vào đạt hơn 54.777 tỷ đồng và giá trị bán

ra là hơn 50.547 tỷ đồng

Ngày đăng: 18/11/2017, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm