Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái rừng ngập mặn ở huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.. Xác định đối tượng nghiên cứu Lịch sử hình thành khu du lịch sinh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch được xem là một trong những hoạt động tinh thần giúp chúng ta phát triển những
kỹ năng, kiến thức, mở mang tầm hiểu biết vì ông bà xưa có nói: “Đi một ngày đàng học mộtsàng khôn” Trên hết, du lịch luôn có một chức năng căn bản nhưng vô cùng quan trọng là mang
sự giải trí đến với con người
Qua nhiều năm tháng phát triển, ngành du lịch toàn cầu nói chung và ngành du lịch ViệtNam nói riêng đã tiến bộ không ngừng để giờ đây du lịch không còn là một hoạt động mang tínhthưởng ngoạn, tham quan, vui chơi thuần túy mà được nâng lên thành những hoạt động có tínhhọc thuật, thử thách Xưa kia, khi nhắc đến du lịch ai cũng đều liên tưởng là việc đi từ nơi nàyđến nơi khác sau đó trở lại với cuộc sống thường nhật Tuy nhiên hiện nay, khái niệm “du lịch”
đã mở rộng thành khái niệm của sự trải nghiệm; sự khám phá ở thiên nhiên, điểm đến; sự tìm tỏinghiên cứu trong những gì mà điểm du lịch mang lại cho chúng ta Vậy là theo nhịp phát triển,nhiều loại hình du lịch khác nhau đã ra đời để theo kịp khái niệm trên như: du lịch du học, dulịch công vụ hay gần gũi hơn là du lịch sinh thái
“Sinh thái” là từ để nói về tổng hòa sự phân bố, sinh sống của những sinh vật sống và sựtác động qua lại giữa chúng với môi trường sống (Wikipedia) Vậy kết hợp khái niệm “du lịch”
và “sinh thái” ta có thể hiểu nôm na “du lịch sinh thái” là những hoạt động du lịch đến những nơicòn dáng vẻ thiên nhiên, tương đối hoang sơ chưa bị biến đổi nhiều bởi bàn tay con người Haynói khác đi, du lịch sinh thái là quá trình chúng ta tìm hiểu về môi trường tự nhiên ở một nơi nào
đó, nghiên cứu môi trường sống của cây cỏ, động vật để thỏa mãn ý thích muốn tìm hiểu, học hỏicủa mình
Viêt Nam nước ta vẫn được xem là “Rừng vàng – Biển bạc”, nhưng liệu để phát triển dulịch sinh thái chúng ta đã khai thác thế mạnh này đến đâu ? Làm thế nào để khai thác hiệu quả
mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ? Và chọn nơi nào để khai thác là phù hợp ?
Nhóm chúng tôi đã dựa trên những số liệu thực tế về điều kiện tự nhiên, môi trường, dânsố, và đã thống nhất Cần Giờ là một trong những nơi rất phù hợp để phát triển loại hình dulịch này Vậy thực trạng hiện nay Cần Giờ như thế nào ? Hoạt động du lịch sinh thái ở đây phát
Trang 2triển hay chưa ? Giải pháp nào để khai thác đạt hiệu quả ? Rất mong quý vị theo dõi đề tài tiểuluận nhóm chúng tôi để cùng nghiên cứu, chia sẻ và tìm ra hướng đi phù hợp.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái rừng ngập mặn ở huyện Cần Giờ, Thành phố
Hồ Chí Minh
Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái rừng ngập mặn ở Cần Giờ
Đề ra những giải pháp cho sự phát triển du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái rừng ngập mặn ở Cần Giờ nói riêng
3 Xác định đối tượng nghiên cứu
Lịch sử hình thành khu du lịch sinh thái sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
Điều kiện tự nhiên và điều kiên kinh tế xã hội của khu du lịch sinh thái rừng ngập mặnCần Giờ
Các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở Cần Giờ, từ đó để khai thác hợp lý và ứngdụng vào việc phát triển du lịch sinh thái ở đây
4 Phạm vi nghiên cứu
Khu du trữ sinh quyển rừng ngập mặn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ CHí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế -xãhội và đặc biệt là nét đặc trưng của khu du lịch sinh thái Cần Giờ qua sách báo, internet,các luận văn của các thế hệ đi trước
Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, loại hình du lịch sinh thái đang được nhiều du khách quan tâm,đặc biệt là sự quan tâm của các nhà kinh doanh du lịch Các công trình nghiên cứu về du lịchsinh thái luôn thu hút các chuyên gia về du lịch Dưới đây là tổng quan tình hình nghiên cứu về
du lịch sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam
a) Thế giới
Từ những năm 1990 trở lại đây, các chương trình nghiên cứu du lịch sinh thái khá phổbiến trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Châu Á-Thái Bình Dương, Đông Nam Á Ta có thể kẻtên một số chương trình nghiên cứu của Hội Du lịch sinh thái ( 1992-1993 ); chương trình môitrường Liên hợp quốc ( 1979 ), Tổ chức du lịch thế giới ( 1994 ), đặc biệt là các công trình
Trang 3nghiên cứu của Burns, Holden ( 1995 ); PATA ( 1993 ); Cater ( 1993 ); Glaser ( 1996 ); wright( 1993 ) Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “ Du lịch sinh thái hướng dẫn cho các nhà lập kếhoạch và quản lý “ của Kreg Lindberg ( 1999 ) và các chuyên gia của Hội Du lịch sinh thái quốc
tế Những công trình nghiên cứu trên đã tạo cơ sở khoa học và mở hướng cho việc nghiên cứu dulịch sinh thái ở Việt Nam
b) Việt Nam
Ngành du lịch ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển trong khoảng 20 năm trở lại đây Chính
vì vậy việc nghiên cứu về các vấn đề du lịch vẫn còn hạn chế, đặc biệt là vấn đề du lịch sinh thái.Trong những năm qua, các công trình nghiên cứu như “ Đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam “
do Viện nghiên cứu và Phát triển Du lịch; công trình “ Đánh giá và khai thác các điều kiện tựnhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì ( Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch “ của Phó tiến
sĩ Đặng Duy Lợi( 1992 ); công trình “ Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theocác vùng lãnh thổ “ của Tổng cục du lịch (1993); và công trình “ Thiết kế các tuyến điểm du lịchtrong và ngoài TP Hồ Chí Minh đến năm 2010 “ của công ty Du lịch Sài Gòn Tourist (1995) chỉmới phác họa lên bức tranh du lịch ở Việt Nam và một phần nào đó đánh giá chung hiện trạngphát triển du lịch ở trong nước, nhưng chưa nói rõ về loại hình du lịch sinh thái.Bên cạnh đó, trong những năm gần đây,ở nước ta đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về dulịch sinh thái
Năm 1995, Viện nghiên cứu Phát triển du lịch đã thực hiện đề tài “ Hiện trạng và những địnhhướng cho công tác qui hoạch phát triển du lịch vùng ĐBSCL ( 1996-2010 ) với mục tiêu xác lập
cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển du lịch và đề xuất phương hướng phát triển du lịch vùngĐBSCL cùng các phương án phát triển cụ thể Nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã
đề xuất các loại hình du lịch vùng ĐBSCL như du lịch sinh thái, du lịch sông nước, tham quan,vui chơi giải trí và du lịch biển, nhưng chưa nghiên cứu sâu về loại hình du lịch sinh thái cụ thể
Cho đến năm 1998 đã có công trình nghiên cứu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thanh về “Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên và định hướng khai thác du lịch sinh thái ở ĐBSCL “ Côngtrình nghiên cứu này đã xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các điểm, tuyến, cụm du lịchsinh thái ở vùng ĐBSCL Các tác giả đã thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái đa dạng nhằmphát triển du lịch bền vững
Trang 4Năm 2000, bài báo cáo khoa học về “ Định hướng qui hoạch du lịch sinh thái tự nhiên vùngĐBSCL “ của Trần Văn Thành và Phạm Thị Ngọc đã điều tra bổ sung các điểm du lịch sinhthái , thiết kế các tuyến , cụm du lịch sinh thái tự nhiên vùng ĐBSCL.
Năm 2001, công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của Ngô Văn Phong về “ Phân tích cảnhquan vùng ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu và giải pháp quản lí, phát triển cảnh quan thiên nhiên đểphục vụ cho du lịch sinh thái “ Tác giả đã ứng dụng phương pháp luận trong phân tích cảnhquan để cung cấp những cơ sở khoa học cho việc tổ chức không gian du lịch sinh thái theo 3vùng với 4 cụm du lịch sinh thái và đề xuất các giải pháp quản lí du lịch sinh thái về cơ chế quản
lí, thị trường, quy hoạch, đào tạo, xã hội
Gần đây, Phân viện điều tra qui hoạch rừng II đã xây dựng nhiều dự án đầu tư phát triển VườnQuốc Gia, các khu Bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn giá trị đa dạng sinh học và khai thác du lịchsinh thái ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐBSCL, trong đó có các Vườn Quốc Gia TràmChim ( 1999 ), Phú Quốc ( 2001 ), U Minh Thượng ( 2001 ), khu Bảo tồn thiên nhiên Lung NgọcHoàng ( 2002 ) Các dự án này đã phác thảo các sản phẩm du lịch sinh thái cần được đưa vàokhai thác du lịch sinh thái
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã phần nào thể hiện được hiện trạng
du lịch sinh thái ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa đi sâu vào mô hình
du lịch sinh thái, bên cạnh đó cũng chưa nghiên cứu rõ về du lịch sinh thái ,đặc biệt ở Cần Giờ
Trang 5CHƯƠNG 1: CẦN GIỜ VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
1 Vị trí địa lý
Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh nằm án ngữ ở vùng cửa biển phía Đông Nam của thành phố, cách trung tâm thành phố khoảng 50 km Bán đảo Cần Giờ là phần duyên hải cực Nam, với bờ biển dài 13km từ mũi Cần Giờ đến mũi Đồng Tranh Diện tích tự nhiên của huyện Cần Giờ là 71.361 ha (chiếm trên 30% diện tích của toàn thành phố), trong đó trên 31% là diện tích mặt nước; 46,4% (tương đương 33.129 ha) là đất rừng và rừng.
2 Điều kiện tự nhiên
Có hệ thống kênh rạch khá chằng chịt, thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản
Về khí hậu, nằm trong khu vực gió mùa cận xích đạo Trong năm có một mùa mưa vàmột mùa nắng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, bắt đầu khoảng 20-25/5, mùa khô từ tháng 12đến tháng 4 năm sau, bắt đầu khoảng 20-25/12 Nhiệt độ tương đối cao, trung bình tháng từ 25,7– 28,8 oC
II Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái huyện Cần Giờ
1 Tài nguyên thiên nhiên
Rừng ngập mặn Cần Giờ với diện tích 37.162,53 ha, chiếm hơn ½ diện tích tự nhiên toànhuyện Sau 30 năm phục hồi và phát triển, hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ ngày càng đadạng, phong phú về thực vật cũng như động vật; tài nguyên thiên nhiên của rừng ngập mặn
không ngừng tăng lên, tạo nên môi trường sinh thái trong sạch “lá phổi xanh”, “bức tường
xanh” của thành phố, có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hòa khí hậu Rừng có chức năng
chính là phòng hộ nhưng đồng thời cũng mở ra những triển vọng to lớn về du lịch sinh thái, năm
2000 rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế
giới”.
Hệ thực vật vùng ngập mặn Cần Giờchiếm đa số là cây đước có nguồn gốc phát tán từInđônêsia và Maylaysia; gồmnhiều kiểu phụ thổ nhưỡng nước mặn, nước lợ và phụ thứ sinh nuôitrồng nhântạo Thành phần các loài cây này tương đối đơn giản và có kích thước các thể ởdạngtrung bình
Trang 6Hệ thực vật rừng tự nhiên khảng 12.000 ha bao gồm: Chà là, Ráng, Giá, Mấm, Dà Vôi…tất cả đều sống trên vùng đất ít ngập nước Trong đó, Ráng thường được hỗn giao với Chà là,Cóc kèn mọc trên đất gò, ít ngập nước Mấm điển hình là các loại trắng, đen mọc ven sông đấttrũng, bãi bồi cao hơn 0,2m so với mực nước biển; Dà vôi, Mấm phân bố trên đất sét chặt, ẩm.
Hệ thực vật rừng trồng hơn 20.000 ha, bao gồm: bạch đàn, keo lá tràm trồng trên nền đất,dừa lá trồng ở vùng đất phèn mặn và nước lợ; đước được trồng thử nghiệm; chà là, phi lao, bạchđàn, keo lá tràm… được trồng dọc theo đường trục chính Rừng Sác và những giồng cát ven biển
Hệ động vật rừng ngập mặn Cần Giờ có giá trị cao về mặt bảo tồn đa dạng sinh học vớitrên 200 loài động vật, trong đó có 11 loài bò sát có tên trong danh sách đỏ của nước ta Cụ thểnhư sau:
+ Loài thủy sinh: 125 loài tảo, 55 loài động vật nổi, 55 loài động vật nổi đáy, 18 loài tôm,
Bên cạnh đó, trong Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố(khoá VIII) thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)
về Chiến lược biển Việt Nam, đã khẳng định huyện Cần Giờ đóng vị trí, vai trò chủ lực trongthực hiện Chiến lược biển của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Diện tích sông ngòi, kênh rạch ở Cần Giờ là 22.161 ha, chiếm 31,49% diện tích toànhuyện Nước từ biển đổ vào hệ thống sông chủ yếu qua vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái, dùcách thành phố chỉ khoảng 50 km nhưng với hệ thống sông rạch bao quanh Cần Giờ giống như
Trang 7hòn đảo nhỏ yên tĩnh, tách biệt với sự ồn ào, náo nhiệt của thành phố.Vì vậy, Cần Giờ rất phùhợp với loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng.
Tài nguyên khoáng sản: ngoài than bùn, khoáng sản duy nhất của huyện Cần Giờ là cátmặn tập trung ở hai lòng sông Lòng Tàu và Nhà Bè, chất lượng kém, lẫn nhiều sét, tuy nhiên nếurửa mặn có thể dùng phục vụ trong xây dựng
Cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái rừng, biển của huyện Cần Giờ tương đốiphong phú là cơ sở nền tảng để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch mang tầm cỡ vùng vàquốc gia Với diện tích gần 38.000 ha rừng ngập mặn, sau 30 năm phục hồi và phát triển (đượcUNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyễn” thế giới đầu tiên ở Việt Nam) đã tạo nên một hệsinh thái tự nhiên với nhiều chủng loại động thực vật Rừng Sát phong phú và đa dạng Bên cạnh
đó, Rừng phòng hộ Cần Giờ cũng đã trở thành Khu Bảo tồn thiên nhiên, với cảnh quan thiênnhiên xanh, sạch, đẹp, không khí trong lành; với truyền thống, tập quán hiếu khách của ngườidân địa phương cùng với các hoạt động văn hoá, lễ hội đặc trưng và các sản vật đặc sắc riêng đãhấp dẫn và thu hút khách tham quan du lịch đến Cần Giờ ngày càng đông
2 Tài nguyên nhân văn
a Về văn hóa
Bên cạnh đó, huyện Cần Giờ có một nền văn hóa lâu đời với tài nguyên nhân văn kháphong phú và đa dạng Cụ thể, được chia thành 5 nhóm sau:
Di tích Giồng Am: thuộc thị trấn Cần Thạnh, cách trụ sở Ủy ban nhân dân huyện khỏang
200m về hướng Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 49 km theo đường chim bay vềhướng Đông Nam Tại di tích Giồng Am có trên 6.289 hiện vật và mảnh thu được trong cuộckhai quật, cùng có chung một chất liệu duy nhất là đất nung
Di tích Giồng Phệt: nằm trên một Giồng đất đỏ thuộc xã Long Hòa, diện tích khoảng
10.000m2, dấu tích văn hóa vật chất của di tích có mặt khắp giồng đất Di tích Giồng Phệt đượcViện bảo tàng lịch sử Việt Nam với sự tham gia của cán bộ Viện khảo cổ học tiến hành cuộckhai quật vào tháng 12 năm 1993 Di tích cao hơn mặt nước trung bình từ 1-2m
Di tích Giồng Cá Vồ: diện tích khoảng 7.000m2 thuộc tả ngoạn sông Hà Thành Đây là
di tích có quy mô lớn và khá nguyên vẹn có tầng văn hóa dày 1,5m Năm 1993, một hố thám sát
đã được mở ở phía Bắc của Giồng và người ta đã tìm thấy được 38 mộ chum (trong đó, 23 mộ
Trang 8còn cốt người) bằng gốm, đá, thủy tinh, võ nhuyễn thể, sắt, đồ trang sức… Di tích Giồng Cá Vồ
có độ cao khoảng 1,5m
Như vậy, với vị trí thật đặc biệt của Cần Giờ là hạ lưu của các dòng chảy quan trọngtrong khu vực: sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn…, đồng thời Cần Giờ với vị thế củamột vịnh kín gió, yên bình từ ngàn xa xưa đã chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng trong chiếnlược phát triển kinh tế biển của thành phố và giao lưu văn hóa với các tỉnh lân cận
Cần Giờ có rất nhiều di tích văn hóa tôn giáo-tín ngưỡng bao gồm: đình thần, chùa, thánhthất, nhà thờ, miễu và Lăng Ông Mỗi cơ sở tôn giáo đều có nét đặc trưng riêng Trong đó, Lễhội Nghinh ông được nhân dân tổ chức diễn ra hàng năm vào tháng 8 âm lịch (trùng với Tếttrung thu) là sự kiện văn hoá đặc trưng của huyện Cần Giờ, qua đó thu hút được rất nhiều khách
du lịch đến tham quan, vui chơi, giải trí Để tiếp tục duy trì và làm phong phú thêm truyền thống
Lễ hội, hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao cho Sở Văn hoá và Thông tin phối hợp vớicác sở-ban-ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ nghiên cứu xây dựng đề ánnâng cấp Lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ thành Lễ hội Văn hoá - Du lịch quy mô cấp thành phố
b. Về lịch sử
Cần Giờ là nơi ghi nhận những sự kiện lịch sử quan trọng như cuộc thuỷ chiến của nghĩaquân Tây Sơn chống nhà Nguyễn ở cửa sông Sài Gòn, đặc biệt là trận Thất Kỳ giang năm 1872.Khu Rừng Sác là nơi Đoàn 10 Đặc công thuỷ Quân giải phóng đã chọn làm căn cứ địa chốngPháp và Mỹ Cần Giờ bao gồm khu căn cứ địa cách mạng, nơi chôn giấu vũ khí, đạn dược để chờthời cơ và củng cố lực lượng như căn cứ địa Giồng Chùa (xã Thạnh An); Chiến khu trù mậtĐộng Hang Nai cạnh sông Đồng Tranh; khu căn cứ địa Núi Đất (xã Lý Nhơn) và khu căn cứ địacách mạng thuộc khu vực Đảo khỉ bây giờ
c. Các làng nghề truyền thống
Cần Giờ có ba làng nghề truyền thống mang tính chất đặc trưng của một huyện biển đảothuộc thành phố, đó là Làng rừng tập trung ở Tam Thôn Hiệp và An Thới Đông; Làng chài tậptrung ở các bến chài Cần Thạnh, Long Hoà, Thạnh An và Làng muối tập trung tại ấp Tân Điền
xã Lý Nhơn Các làng nghề truyền thống luôn được giữ gìn và tôn tạo, đánh dấu sự phát triển củacác dạng quần cư, một nét đẹp văn hoá ở Cần Giờ
3 Tiềm năng nguồn nhân lực
Trang 9Dân số toàn huyện Cần Giờ năm 2009 là 68.213 người Mật độ dân số trung bình thấp(96 người/km2), phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các trung tâm đô thị như: thị trấn CầnThạnh có mật độ dân số cao nhất (470,04 người/km2), xã Bình Khánh (410 người/km2), thấp nhất
là xã Thạnh An (36,52 người/km2)
Dân số dự kiến: Năm 2015 – 200.000 người
Năm 2025 – 300.000 người
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
I Đánh giá thực trạng việc phát triển du lịch sinh thái ở Cần Giờ
1 Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển du lịch của mình, Cần Giờ cũng đã xác địnhphải tập trung thu hút các nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vật chất kỹ thuật phục vụ pháttriển bền vững khu du lịch bền vững, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống giao thông Bước đầu, tuyếnđường Rừng Sác - Cần Giờ nối xuyên suốt từ phà Bình Khánh đến mũi Cần Giờ đã được nângcấp và đạt chất lượng cao, dài 36 km với 6 làn xe có tổng giá trị đầu tư hơn 1.500 tỷ đồng đãđược đưa vào khai thác từ năm 2010 Tuyến này đường được đưa vào sử dụng góp phần hoànthiện mạng lưới giao thông hướng ra biển, kết nối khu vực trung tâm TP Hồ Chí Minh với CầnGiờ, tạo điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung
Cần Giờ đang tiếp tục đầu tư xây dựng đường vành đai kết nối 4 xã phía bắc Tam ThônHiệp, Bình Khánh, An Thới Đông và Lý Nhơn; xây dựng tuyến đường dọc biển Cần Thạnh –Long Hòa Với đặc điểm là diện tích mặt nước, sông rạch chiếm tới hơn 30% diện tích toànhuyện, Cần Giờ cũng tập trung phát triển hệ thống giao thông thủy và xem đây là một thế mạnhcủa mình như đầu tư xây dựng các bến thủy nội địa, bến phà và các bến tàu du lịch tại các điểmTắc Xuất (thị trấn Cần Thạnh), Dần Xây, Tam Thôn Hiệp và Lý Nhơn để thu hút khách du lịchđến tham quan bằng đường thủy, phát triển du lịch đường sông
2 Số lượng khách du lịch trong những năm gần đây