Trước năm 2012, tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Nghệ An kỹ thuậtphẫu thuật tim hở chưa được triển khai, các trường hợp bệnh lý tim mạch phảican thiệp phẫu thuật đều phải ra Hà Nội ho
Trang 11. Thực trạng vấn đề được đề cập:
Bệnh tim mạch ngày càng có xu hướng gia tăng, tại Nghệ An tỷ lệ trẻ sơsinh mắc bệnh tim bẩm sinh chiếm khoảng 2% (1000 trẻ sinh ra có 20 trẻ em mắcbệnh), hàng năm có trên 300 trường hợp bệnh tim mạch mắc phải được phát hiện,trên 1000 ca mắc bệnh tim cần phải phẫu thuật Các bệnh về tim mạch nếu khôngđược điều trị kịp thời (nội khoa và ngọai khoa) diễn biến ngày càng nặng dẫn đếnsuy tim và tử vong
Trước năm 2012, tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Nghệ An kỹ thuậtphẫu thuật tim hở chưa được triển khai, các trường hợp bệnh lý tim mạch phảican thiệp phẫu thuật đều phải ra Hà Nội hoặc vào thành phố Hồ Chí Minh đểphẫu thuật, điều đó làm cho người bệnh rất vất vả và tốn kém chi phí
Kỹ thuật phẫu thuật tim hở là kỹ thuật cao, đòi hỏi đủ điều kiện về nhânlực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật hồi sức tốt Từ năm 2012đến nay, kỹ thuật mổ tim hở được thực hiện tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoaNghệ An Thời gian đầu với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Bệnh viện Tim Hà Nội, độingũ bác sỹ và ê kíp phẫu thuật đã từng bước được nâng cao chuyên môn, từ năm
2015, Bệnh viện HNĐK Nghệ An đã chính thức làm chủ được kỹ thuật này
Việc phẫu thuật tim hở tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An đã tạođiều kiện cho người bệnh được thăm khám và tiến hành phẫu thuật tại tỉnh nhà,
đỡ tốn kém kinh phí, thời gian của người bệnh và giảm tải cho tuyến trên
Kể từ khi áp dụng kỹ thuật phẫu thuật tim hở, Bệnh viện HNĐK NA đãghi nhận những thành công nhất định, với 187 trường hợp phẫu thuật thànhcông, tỷ lệ tai biến rất thấp Những kết quả đó cũng là cơ sở giúp bệnh viện đánhgiá rút kinh nghiệm trong công tác phục vụ chẩn đoán, điều trị, phẫu thuật, hồisức sau mổ, để không ngừng phát triển và nâng cao kỹ thuật phẫu thuật tim hởtại Nghệ An, góp phần phát triển trung tâm y tế kỹ thuật cao vùng Bắc Trung Bộtại thành phố Vinh theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 30/7/2013 của BộChính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến 2020
2. Ý tưởng đề xuất:
Trang 2a) Trình bày ý tưởng
Đây không phải là phát minh kỹ thuật mới, mà là áp dụng thành tựu khoahọc vào lĩnh vực y tế tại Nghệ An Ý tưởng của nhóm tác giả nhằm đánh giá kếtquả, rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, trình độ kỹthuật phẫu thuật tim hở ở Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An
b) Hệ thống ý tưởng
- Khám sàng lọc bệnh nhân tại các tuyến y tế cơ sở
- Nhìn lại cách thức tiếp nhận bệnh nhân vào viện, tinh thần thái độ phục
vụ bệnh nhân
- Khám, chẩn đoán sàng lọc bệnh nhân vào nhập viện
- Chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng
- Chỉ định phẫu thuật đúng hay chưa đúng, phù hợp hay chưa phù hợp
- So sánh chẩn đoán trước mổ và sau mổ, đúng hay sai
- Trình độ kỹ thuật mổ đúng hay chưa đúng, hoàn thiện hay chưa hoàn thiện
- Hồi sức sau mổ và quá trình hậu phẫu
- Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán
và điều trị, trình độ kỹ thuật phẫu thuật tim hở ở Bệnh viện Hữu nghị đa khoaNghệ An
c) Tính khả thi của ý tưởng
Ý tưởng mang tính khả thi cao, thực tiễn để áp dụng hoàn thiện kỹ thuật
và nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị phẫu thuật tim hở tại Bệnh viện, đápứng nhu cầu điều trị các bệnh tim mạch của nhân dân không những trong tỉnh
mà còn trong khu vực
3. Cách thức triển khai thực hiện ý tưởng
- Đánh giá khái quát tình hình bệnh tim mạch tại Nghệ An
- Tình hình triển khai kỹ thuật phẫu thuật tim hở tại Bệnh viện
- Số lượng bệnh nhân được phẫu thuật tim hở
Trang 3- Đánh giá kết quả, qua đó rút kinh nghiệm về mặt chẩn đoán, chỉ địnhphẫu thuật, kỹ thuật mổ, so sánh chẩn đoán trước mổ và sau mổ, kỹ thuật gây
mê hồi sức, hồi sức, chăm sóc sau mổ
- Tăng cường công tác truyền thông phòng chống bệnh tim mạch (tuyêntruyền cho người dân biết và cũng một mặt để nhân dân biết tại Bệnh viện Hữunghị đa khoa tỉnh đã thực hiện được kỹ thuật mổ tim hở để bệnh nhân lựa chọn
- Kiến nghị, đề xuất về đào tạo cán bộ, mua sắm thêm trang thiết bị,…đểhoàn thiện và phát triển kỹ thuật phẫu thuật tim hở tại Nghệ An, đưa kỹ thuậtphẫu thuật tim hở thành kỹ thuật thường quy tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoaNghệ An, thuận tiện cho bệnh nhân, giảm tải cho tuyến trên
4. Kết luận:
- Dự đoán tính khả thi, lợi ích có được khi ý tưởng nêu trên được áp dụng:
Đề tài này mang tính thực tiễn khoa học, có ý nghĩa áp dụng thực tế vàocông tác khám, chữa bệnh nói chung và nâng cao kỹ thuật phẫu tim hở tại Nghệ
An, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân tỉnh nhà và các tỉnh lân cậntrong khu vực
- Những yêu cầu để có thể đưa ý tưởng trở thành hiện thực và được áp dụng thành công:
Nâng cao trình độ khám, chẩn đoán và chỉ định diều trị hợp lý, tăngcường công tác đào tạo cán bộ chuyên sâu về lĩnh vực tim mạch để phát hiệnsớm, chẩn đoán kịp thời Tăng cường chất lượng ê kíp phẫu thuật tim hở, bổsung thêm trang thiết bị công nghệ cao để phát triển chuyên nghành tim mạch,đặc biệt hoàn thiện kỹ thuật phẫu thuật tim hở, đáp ứng nhu cầu khám, chữabệnh của nhân dân ngày càng cao trong thời gian tới
Trang 4
Lịch sử phẫu thuật tim
- Năm 1948, Charles Bailey: hoàn thiện kỹ thuật tách van 2 lá bằng tay
- Năm 1953, John Gibbon: Phẫu thuật thông liên nhĩ với máy tim phổinhân tạo
- Năm 1955, John Ư.Kirklin và cộng sự bắt đầu phẫu thuật tim hở có sửdụng máy tim phổi nhân tạo dựa trên nguyên lý máy tim phổi nhân tạo củaGibbon
- Năm 1959, Nina Braunwald: Thay van tim nhân tạo thành công
- Năm 1960, Thành công đầu tiên thay van 2 lá cơ học bằng van StarrEdwards Harken thực hiện thành công 1 trường hợp thay van động mạch chủ
Sự ra đời của máy tim phổi nhân tạo vào đầu thập niên 50 của thế kỷ XXcho phép phẫu thuật sửa hay thay van tim trở nên hoàn chỉnh Với sự trợ giúpcủa máy tim phổi nhân tạo (hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể) thì tim và phổingừng hoạt động, quả tim được tách khỏi hệ tuần hoàn, và được bảo vệ bằngmột dung dịch làm liệt tim, sau đó mở vào các buồng tim để nhìn thấy rõ và xử
lý các thương tổn, sau đó khâu lại chỗ mở tim, tái lập sự kết nối giữa tim với hệtuần hoàn, và quả tim được kích thích đập trở lại Sự phát triển của phương phápbảo vệ cơ tim ngày càng hoàn thiện, từ việc dùng dung dịch tinh thể đến dung
Trang 5dịch nuôi tim máu lạnh, sau đó là dung dich liệt tim bằng máu nóng, tưới máumạch vành có thể liên tục, ngắt quãng xuôi dòng và ngược dòng được nghiêncứu và ứng dụng, tạo nên nhiều bước đột phá trong phẫu thuật tim hở.
- Năm 1964, thực hiện thành công ca vá thông liên nhĩ đầu tiên sử dụng
hạ nhiệt độ cơ thể và ngừng tuần hoàn tạm thời
- Năm 1965, phẩu thuật tim hở khâu trực tiếp lỗ thông liên nhĩ với máytuần hoàn ngoài cơ thể được tiến hành tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Từ năm 2000 đến nay, trên toàn quốc có khoảng trên 10 trung tâm phẫuthuật tim hở với đội ngũ nhân lực và trang thiết bị không ngừng được cải thiện
và nâng cao đã tăng số lượng các bệnh nhân được phẫu thuật Tuy nhiên hầu hếtcác trung tâm phẫu thuật tim hở này vẫn tập trung chủ yếu ở các bệnh việntuyến Trung ương, chỉ một số rất ít y tế tuyến tỉnh thực hiện được kỹ thuật nàynhư Bình Định, Kiên Giang, Bắc Giang, Khánh Hòa
1. Thuyết minh giải pháp của công trình:
6.1 Đặt vấn đề
Hàng năm số người mắc bệnh tim mạch ngày càng nhiều, nhu cầu đểchẩn đoán và điều trị người bệnh ngày càng lớn, đặc biệt đối với bệnh nhân timcần phẫu thuật đòi hỏi có đội ngũ cán bộ y tế chuyên sâu, trang thiết bị hiện đại
và chi phí tốn kém Nhu cầu được phẫu thuật tim ngày càng tăng, hiện tại đang
Trang 6tồn tại một số lượng lớn bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật vẫn phải chờ đợi, ảnhhưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống người bệnh và xã hội.
Nghệ An với dân số hơn 3 triệu người, có tỷ lệ bệnh tim mạch cao Trướcđây, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An phải chuyển một lượng lớn bệnhnhân lên các bệnh viện tuyến trên để phẫu thuật tim, gây tốn kém về tiền của vàthời gian cho nhân thân và bệnh nhân, khó khăn cho việc tái khám và kiểm soátbệnh nhân sau mổ Hiện nay, ước tính số lượng bệnh nhân cần được phẫu thuật timlên tới hàng nghìn người Từ nhu cầu thực tế đó, từ năm 2008 Bệnh viện Hữu Nghị
Đa khoa tỉnh Nghệ An đã chuẩn bị nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiếtbị… để phục vụ cho phẫu thuật tim Từ tháng 5 năm 2012, được sự giúp đỡ nhiệttình của BV Tim Hà Nội, với nỗ lực của lãnh đạo và ê kip phẫu thuật, Bệnh việnHữu Nghị Đa khoa tỉnh Nghệ An đã bắt đầu triển khai kỹ thuật phẫu thuật tim hở
và đến nay đã đạt được những kết quả nhất định Sau một thời gian triển khai phẫuthuật tim hở, nay chúng tôi kết lại nhằm mục đích ‘‘Đánh giá kết quả bước đầuphẫu thuật tim hở tại bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An”
6.2 Giải pháp thực hiện
6.2.1 Đối tượng nghiên cứu
187 bệnh nhân được phẫu thuật tim hở tại Bệnh viện Hữu nghi đa khoaNghệ An bởi một nhóm phẫu thuật viên thực hiện theo một quy trình thống nhất
từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 9 năm 2015
6.2.2 Phương pháp triển khai
* Công tác chuẩn bị:
- Đào tạo nguồn nhân lực: Êkip phẫu thuật tim hở được tham gia các khóa
học chuyên sâu về phẫu thuật, hồi sức hậu phẫu… tại Bệnh viện Tim Hà Nội từnăm 2010 Trong thời gian thực hiện kỹ thuật này tại Bệnh viện HNĐK Nghệ
An, êkip phẫu thuật luôn được tạo điều kiện để tham gia các khóa đào tạo liêntục, cập nhật kiến thức nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
- Đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ từ máy móc, phòngmổ… đảm bảo quy trình chuyên môn, kỹ thuật
Trang 7- Thời gian đầu triển khai, bệnh viện mời đội ngũ Bệnh viện Tim Hà Nội vềtrực tiếp giám sát các quy trình thực hiện, đánh giá và theo dõi sau mổ.
- Hoàn thành kế hoạch chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật tim hở giữa Bệnhviện Tim Hà Nội cho Bệnh viện HNĐK Nghệ An từ năm 2012 đến năm 2015.Sau khi kết thúc, Bệnh viện HNĐK Nghệ An độc lập thực hiện kỹ thuật này
* Lựa chọn bệnh nhân: Các bệnh nhân đều được chẩn đoán lâm sàng suy
tim trước mổ theo NYHA (New York Heart Association – Hội tim mạch họcNew York), và chẩn đoán cận lâm sàng siêu âm tim trước mổ tối thiểu 2 lần cóchỉ định phẫu thuật Chúng tôi lựa chọn những bệnh nhân suy tim độ I, II và III,bệnh lý tim bẩm sinh và bệnh tim mắc phải có tổn thương đơn thuần hoặc tổnthương phối hợp mức độ nhẹ
* Công tác triển khai phẫu thuật:
- Chuẩn bị mổ
• Phương tiện: phòng mổ vô khuẩn có đầy đủ trang thiết bị để gây mê nội khíquản, có kiểm soát thông khí, có máy tim phổi nhân tạo, có dụng cụ đo thânnhiệt trung tâm đặt qua đường hậu môn, catheter động mạch quay đo áp lựcđộng mạch, catheter tĩnh mạch dưới đòn đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, máy sốctim…
- Quy trình cuộc phẫu thuật:
- Bệnh nhân nằm ngửa, kê gối dưới 2 vai, gây mê nội khí quản, theo dõicác chỉ số huyết động liên tục qua huyết áp động mạch xâm nhập, và cathetertĩnh mạch trung ương, theo dõi nước tiểu
- Rạch da đường dọc giữa xương ức
- Báo bác sĩ gây mê ngưng thở để cưa xương ức, cho thở lại ngay sau khi
mở xong xương ức, mở màng tim bộc lộ tim
- Cho heparin liều 3mg/kg cân nặng
- Tiến hành thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể giữa động mạch chủ lên và 2tĩnh mạch chủ không hạ thân nhiệt
- Chạy tuần hoàn ngoài cơ thể, cặp động mạch chủ
Trang 8- Tiến hành liệt tim xuôi dòng bằng dung dịch máu nóng mỗi 15 phút,trường hợp bệnh nhân có hở van động mạch chủ nhiều sẽ được liệt tim xuôidòng kết hợp với ngược dòng liên tục.
- Mở nhĩ phải khâu đóng thông liên nhĩ hoặc vén van 3 lá để khâu lỗthông liên thất hoặc để sửa van 3 lá (sửa 3 lá bằng kỹ thuật Devega - khâu thuhẹp vòng van)
- Mở nhĩ trái, đánh giá tình trạng van 2 lá có thể sửa hoặc thay van 2 lá
- Nếu thay van động mạch chủ bệnh nhân sẽ được mở chéo ngang độngmạch chủ, cắt bỏ van chủ và thay bằng van nhân tạo bằng các múi chữ U rời
- Đối với thông liên thất phần phễu hoặc sửa Fallot thì mở gốc động mạchphổi hoặc phễu thất phải
- Đóng các buồng tim sau khi tiến hành xong các bước sửa chữa, đuổi khítrong các buồng tim
- Thả clampage động mạch chủ cho tim đập lại, nếu tim không đập lạingay có thể dùng thiết bị chống rung hoặc thuốc
- Cai và ngưng tuần hoàn ngoài cơ thể, có hoặc không cần dùng inotrop
6.3.1 Tuổi, giới, cân nặng
Bảng 1: Phân bố theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi < 16 16 – 40 41 – 60 > 61 Tổng số
Trang 9Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân được phẫu thuật nằm trong nhóm tuổi từ
41 đến 60 tuổi, chiếm 43,3% Tuổi trung bình trong nhóm phẫu thuật van tim là45.0 ± 13.3 Kết quả này có thấp hơn so với các nghiên cứu trong và ngoàinước
Biểu đồ 1: Phân bố bệnh nhân theo giới
Nhận xét: Có 115 bệnh nhân nữ chiếm 61,5% , 72 bệnh nhân nam chiếm
38,5% Tỷ lệ nam/ nữ = 2/3 Kết quả này cũng tương tự với các nghiên cứutrong và ngoài nước
Bảng 2: Phân bố theo cân nặng
Nhận xét: Trong thời gian đầu triển khai chúng tôi lựa chọn bệnh có cân
nặng ít nhất là 10 kg để dễ dàng trong việc gây mê cũng như hồi sức sau mổ
6.3.2 Tiền sử bệnh lý liên quan
Bảng 3: Tiền sử bệnh lý liên quan
Nhận xét và bàn luận: Về tiền sử bệnh chúng tôi khai thác được 15
trường hợp bệnh nhân hẹp van 2 lá có tiền sử thấp tim rõ ở thời kỳ thiếu niênvới biểu hiện sưng đau khớp gối có tính chất di chuyển Tuy nhiên tất cả các
Trang 10trường hợp này đều không được hướng dẫn và điều trị phòng thấp sau đó Trongnghiên cứu của Đặng Hanh Sơn, Phạm Mạnh Hùng, và 1 số nghiên cứu kháccho thấy bệnh lý van 2 lá chủ yếu do tổn thương van tim hậu thấp.
Có 2 bệnh nhân có tiền sử yếu ½ người do tai biến mạch máu năo, 2 bệnhnhân này trong mổ ghi nhận nhĩ trái có nhiều huyết khối Có 3 bệnh nhân có tiền
sử tách van 2 lá trong đó 01 trường hợp được nong bằng bóng qua da, 01 trườnghợp mổ tách van 2 lá qua mở ngực trái, trường hợp còn lại lần đầu được nongvan 2 lá bằng bóng sau đó được phẫu thuật tách van 2 lá bằng đường mở ngựctrái 02 bệnh nhân mổ tách van tim kín ghi nhận trong mổ có dính nhiều, tuynhiên chúng tôi đã gỡ dính thuận lợi, trong và sau mổ không có chảy máu Tỷ lệbệnh nhân có tiền sử tách van tim kín trong nghiên cứu thấp hơn nhiều so vớicác nghiên cứu khác do đây là giai đoạn đầu triển khai nên chủ yếu chúng tôichọn những bệnh lý tim mạch tổn thương đơn thuần, không chọn những bệnhnhân có tiền sử mổ tim lần trước đó
6.3.3 Phân độ suy tim trước mổ theo NYHA
Bảng 4: Phân độ suy tim trước mổ theo NYHA
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu gặp bệnh nhân suy tim
độ II và III, chiếm 93%, không có trường hợp nào suy tim độ IV Vì đây là giaiđoạn bước đầu tiếp cận và chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật tim hở nên chúng tôilựa chọn những bệnh nhân có mức độ suy tim nhẹ hơn để thuận lợi cho quá trìnhgây mê và hồi sức sau mổ
6.3.4 Siêu âm tim trước và sau mổ
Bảng 5: Chỉ số siêu âm tim trước mổ
Chỉ số siêu âm tim Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
Trang 11Nhận xét và bàn luận: Trong các bệnh tim bẩm sinh, thông liên thất chiếm
tỷ lệ cao nhất 20,9% Có 01 trường hợp vỡ túi phình xoang valsalva vào trongnhĩ trái, chúng tôi đã tiến hành khâu vách liên nhĩ, cắt và tạo hình lại xoangvalsalva, sau mổ siêu âm tim kiểm tra không có hở van động mạch chủ
Trong các bệnh tim mắc phải, tổn thương van 2 lá đơn thuần chiếm tỷ lệcao nhất 25,7% Theo Nguyễn Văn Phan, bệnh lý van tim chiếm tỷ lệ khá caotrong toàn thể bệnh tim ở Việt Nam, hầu hết là bệnh van tim hậu thấp, chiếm tỷ
lệ 96.4% trong tổng số bệnh van tim Tổn thương van hai lá do thấp gây dày lávan, dính mép van; xơ hóa, vôi hóa vòng van; dày, co rút, xơ hóa bộ máy dưới
Trang 12van Tổn thương van động mạch chủ do thấp ít gặp hơn so với van hai lá và kếthợp với tổn thương van 2 lá, các thương tổn bao gồm: dày lá van, dính mép van,
xơ hóa vôi hóa van, co rút lá van Trong nghiên cứu có 01 trường hợp vếtthương tim do hỏa khí, dị vật nằm trong buồng tim được mổ cấp cứu thànhcông
6.3.6 Các thông số trong mổ
Bảng 7: Phương pháp phẫu thuật
Nhận xét và bàn luận: Trong nghiên cứu của chúng tôi ngoài các kỹ thuật
đóng thông liên thất, thông liên nhĩ, thay van tim được tiến hành 1 cách thườngquy, chúng tôi còn tiến hành phẫu thuật sửa van 2 lá cho 8 trường hợp hở van 2
lá (trong đó có 3 trẻ em) và sửa van động mạch chủ cho 1 trường hợp bệnh nhi
hở van động mạch chủ Với các phẫu thuật sửa van tim đòi hỏi thao tác kỹ thuậttinh tế và phức tạp Các trường hợp sửa van này có kết quả siêu âm tim sau mổ
1 tháng cho kết quả rất tốt Đây là một kết quả rất đáng khích lệ
Chúng tôi có 1 trường hợp vào cấp cứu vì vết thương do đạn bắn từ thànhsau ngực trái ra trước Bệnh nhân vào viện trong bệnh cảnh tràn máu màng phổiphải, tràn máu màng ngoài tim nhưng huyết động tương đối ổn định Chúng tôi
Trang 13tiến hành cho bệnh nhân chụp xquang tim phổi thẳng nghiêng, chụp cắt lớp vitính ngực xác định có mảnh kim khí hình đầu đạn nằm trong tim Sau đó bệnhnhân rối loạn huyết động tăng dần, chúng tôi quyết định huy động nhân lựctrong đêm và tiến hành mổ cấp cứu cho bệnh nhân Sau mổ bệnh nhân ổn định
và xuất viện sau 2 tuần
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả nghiên cứucủa Trần Thanh Hùng ở bệnh viện đa khoa Bình Định, đó là tỷ lệ bệnh lý thôngliên thất và bệnh lý van 2 lá chiếm tỷ lệ chủ yếu Điều này được giải thích do bấtthường thông liên thất thường gặp nhất trong các bệnh lý tim bẩm sinh, van 2 látổn thương do thấp tim gặp nhiều hơn tổn thương của van động mạch chủ Điềunày phù hợp với các nghiên cứu khác ở Việt Nam và trên thế giới
Bảng 8: Thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể, thời gian kẹp động mạch chủ
Tác giả Thời gian chạy máy Thời gian kẹp động mạch
Nhận xét và bàn luận: Thời gian chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể và thời
gian cặp động mạch chủ của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu củacác tác giả trong và ngoài nước Điều này có thể do giai đoạn đầu chúng tôichọn lựa các mặt bệnh đơn giản, hơn nữa các bệnh nhân phẫu thuật ở trong cácnghiên cứu khác có một tỷ lệ lớn các bệnh nhân mổ gỡ dính do tiền sử trước đây
đã mổ sửa hoặc thay van, tách van tim kín nên thời gian phẫu thuật ở các tác giảtrên cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi
6.3.7 Kết quả điều trị phẫu thuật:
* Thời gian nằm viện sau mổ
Trang 14Ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất 21 ngày, trung bình là 14.63 ± 3.28 ngàyNghiên cứu của tác giả Trần Thanh Hùng trên 55 trường hợp được phẫuthuật tại bệnh viện đa khoa Bình Định cho thấy thời gian nằm viện ngắn nhất 7ngày, dài nhất 21 ngày, thời gian nằm viện trung bình 12 ngày So với tác giảnày thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thời gian nằm viện sau mổ dài hơn.
Nhận xét và bàn luận: Trong nghiên cứu của chúng tôi có 11 trường hợp
có biến chứng sớm sau mổ, chiếm tỷ lệ 5.9% trong đó: Chảy máu nhiều qua dẫnlưu phải mổ lại để cầm máu chiếm 2.1%, có 1 trường hợp mổ lại vì xương ứcmất vững, 4 trường hợp tràn máu màng phổi lượng phải đặt dẫn lưu màng phổitại phòng hồi sức sau mổ
Tử vong sau mổ có 2 trường hợp, chiếm 1.1% , trong đó 1 trường hợp tửvong hậu phẫu thay van 2 lá ngày thứ 6 vì viêm phổi nặng trong hội chứngARDS do sặc sữa Trường hợp còn lại là bệnh nhân sau mổ thay van 2 lá và vanđộng mạch chủ ngày thứ 3 thì đột ngột ngừng tim, hồi sức không hiệu quả khảnăng có thể do bít tắc động mạch vành
Trong nghiên cứu của Trần Thanh Hùng có 1 trường hợp tử vong sớm sau
mổ, chiếm 1,82% Đây là trường hợp được mổ lại để cầm máu xương ức sau đóbệnh nhân suy tim nặng lên không hồi phục, suy đa phủ tạng dẫn đến tử vong.Theo Nguyễn Đức Hiền tỷ lệ tử vong do thay van 2 lá cơ học tại bệnh việnTrung ương Huế chiếm 1,6% Nghiên cứu của Danh Trung trên 121 bệnh nhânđược phẫu thuật tại bệnh viện da khoa tỉnh Kiên Giang ghi nhận không cótrường hợp nào tử vong