MỤC LỤCCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA DANH 1.1.2.Đối tượng nghiên cứu của địa danh học và vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 1 1.2... Tác giả đã định nghĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Bộ môn Ngôn ngữ học Khóa: 2015 - 2019
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA DANH
1.1.2.Đối tượng nghiên cứu của địa danh học và vị trí của địa danh học trong ngôn
ngữ học
1
1.2 Vài nét sơ lược về địa danh vùng Tây, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Trung Bộ 41.2.1 Địa lý tự nhiên và nhân văn vùng Tây, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Trung Bộ 4
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH VÙNG TÂY, BẮC BẮC BỘ VÀ TÂY
BẮC TRUNG BỘ
7
3.2.2 Một số thành tố vốn là tên các con vật 143.2.3 Một số yếu tố vốn là tên các đồ vật, sự vật 153.2.4 Một số thành tố chỉ hoạt động 153.2.5 Một số yếu tố biểu thị đặc trưng, tính chất 15
3.2.7 Vài thành tố chỉ người và thần thánh 163.2.8 Một yếu tố chỉ đơn vị đo lường 16
Trang 5
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA DANH VÙNG
TÂY, BẮC BẮC BỘ VÀ TÂY BẮC TRUNG BỘ
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Định nghĩa địa danh
Tùy theo cách nhận định và theo hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu, hiện tại vẫnchưa có một định nghĩa thống nhất nào về địa danh Vì vậy đã có nhiều thuật ngữ khácnhau khi gọi về đối tượng này
Theo Nguyễn Văn Âu (1993), thì “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc,
… hay là tên đất, các địa phương, các dân tộc,…” Tác giả đã định nghĩa: “Địa danh học(Toponymic) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương”
trong Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam năm 2000 Theo hướng tiếp cận này,
Nguyễn Văn Âu đã nhìn nhận địa danh ở góc độ địa lý, văn hóa Tác giả Hoàng Văn Ma(2002) cũng đưa ra định nghĩa địa danh là “tên gọi địa hình, địa vật, địa điểm cư tụ dâncư…trong một khu vực, một lãnh thổ nhất định được cộng đồng người nói thừa nhận vàđược chuẩn hóa và cần được chuẩn hóa”
Ở phương diện tự nhiên và xã hội, tác giả Bùi Đức Tịnh (1999) đã nhìn nhận: “Địadanh là một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phânbiệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vịđược xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự”
Căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên cũng như theo ngữ nguyên của địadanh, tác giả Lê Trung Hoa đã định nghĩa địa danh: “Địa danh là những từ hoặc ngữ,được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùnglãnh thổ, các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều và những vùng khônggian không xác định”
(Địa danh học Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, 2006, trang 18)
Ngoài ra vẫn còn vô số định nghĩa khác về địa danh Từ các định nghĩa đó, nhómnghiên cứu có thể hình dung được đối tượng và cách phân loại địa danh như thế nào Mặtkhác, trước địa danh có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó Ví dụ: sôngTiền, đường Điện Biên Phủ, thành phố Hồ Chí Minh, hồ Ba Bể, nhà thờ Đức Bà,…
1.1.2. Đối tượng nghiên cứu của địa danh học và vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ
học
• Đối tượng nghiên cứu của địa danh học
Khi đề cập đến một ngành khoa học, công việc đầu tiên là phải xác định được đối
5
Trang 6tượng của ngành khoa học ấy Việc xác định này giúp cho việc nghiên cứu đi đến đúngmục tiêu, không bị lạc hướng Đó là cơ sở để phân biệt ngành khoa học này với ngànhkhoa học khác Đối tượng nghiên cứu của địa danh học chính là địa danh Đó là những từ,ngữ được dùng để gọi tên các địa hình tự nhiên, các công trình xây dựng nghiên về khônggian hai chiều, các đơn vị hành chính và những vùng không gian không xác định Địadanh chỉ được xác định khi đứng sau các yếu tố chung chỉ loại sau đây:
1. Địa danh chỉ địa hình: núi, đồi, gò, sông, kênh, rạch, khe, cồn, cù lao, động, suối, bãi,bàu,…
Ví dụ: rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, cù lao Thới Sơn, động Phong Nha,…
2. Địa danh chỉ các đơn vị hành chính: ấp, xã, phường, huyện, quận, tỉnh, làng, khu phố,…
Ví dụ: tỉnh Tiền Giang, quận Thủ Đức, khu phố Tân Lập, ấp Bắc (Tiền Giang),…
3. Địa danh chỉ các công trình xây dựng: bến xe, cảng, cầu, đường, bến đò, chợ, cống, côngviên,…
Ví dụ: bến Nhà Rồng, bến xe Chợ Lớn, đường Võ Văn Kiệt,…
4. Địa danh chỉ vùng: vùng, miền, xứ,
Ví dụ: vùng Bàn Cờ, xóm Chùa, khu cầu chữ Y,…
• Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học có ba ngành chính là ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Trong
từ vựng học có một ngành nhỏ là danh xưng học (onomasiologie/ onomastique), chuyênnghiên cứu tên riêng Danh xưng học gồm hai ngành nhỏ hơn là Nhân danh học và địadanh học Trong đó nhân danh học chuyên nghiên cứu tên riêng của người, còn địa danhhọc nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và cả những chuyển biến của địa danh Trên lýthuyết, trong danh xưng học, có thể có một ngành khoa học nữa là hiệu danh học, chuyênnghiên cứu tên riêng của các thiên thể, các nhãn hiệu sản phẩm, các biển hiệu,… Nhưngtrong thực tế, ngành khoa học này không phát triển bằng nhân danh học và địa danh học
Địa danh học chia làm nhiều ngành nhỏ hơn.Các ngành chỉ nghiên cứu tên sông rạch(thủy danh) và tên núi đồi (sơn danh) gọi là thủy danh học và sơn danh học Ngànhchuyên nghiên cứu tên của các địa điểm quần cư được gọi là phương danh học Cònngành chỉ nghiên cứu các đối tượng trong thành phố như tên đường, tên phố,… được gọi
Trang 71.1.3. Phân loại địa danh
Theo Địa danh học Việt Nam của PGS.TS Lê Trung Hoa, tác giả phân loại địa danh
dựa trên các tiêu chí: ngữ nguyên (nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh đó) và đối tượng(địa danh được nhắc đến)
• Theo ngữ nguyên, ta có thể chia địa danh thành bốn nhóm lớn:
- Địa danh thuần Việt
Ví dụ: tỉnh Bến Tre, huyện Chợ Gạo (Tiền Giang),…
- Địa danh Hán Việt
Ví dụ: thành phố Tân An (Long An), cầu Bình Triệu, đại lộ Đông Tây,…
- Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số: bao gồm địa danh gốc các ngôn ngữdân tộc thiểu số như Chăm, Khmer, Ba Na, Ê Đê,…
Ví dụ: thành phố Cần Thơ,…
- Địa danh bằng các ngoại ngữ: chủ yếu là địa danh gốc Pháp, một số là địa danhgốc Indonesia, Malaysia,…
Ví dụ: đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, đường Calmette,…
• Theo đối tượng, ta có thể phân ra như sau:
- Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên (gọi tắt địa danh chỉ địa hình)
- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều (địa danhcông trình xây dựng)
- Địa danh chỉ các đơn vị hành chính (địa danh hành chính)
- Địa danh chỉ vùng (địa danh vùng)
1.2 Vài nét sơ lược về vùng Tây, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Trung Bộ
1.2.1 Địa lý tự nhiên và nhân văn vùng Tây, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Trung Bộ
7
Phố danhhọc
Phương danhhọc
Thủy danhhọc
Sơn danh
học
Hiệu danh họcĐịa danh học
Nhân danhhọc
Trang 8Vùng Tây, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Trung Bộ là vùng đất ở phía tây miền Bắc, từ HàTĩnh trở ra, bao gồm 13 tỉnh Có 10 tỉnh nằm trọn vẹn trên địa bàn vùng Tây Bắc: HàGiang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Cạn, Lai Châu, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Bái, TháiNguyên, Sơn La Còn 3 tỉnh chỉ có phía tây nằm trong vùng Tây Bắc: Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh
- Địa lí tự nhiên:
+ Địa hình: Đây là nơi có địa hình cao nhất, bị chia cắt nhất và hiểm trở nhất Việt Nam.Các dạng địa hình phổ biến ở đây là các dãy núi cao, các thung lũng sâu hay hẻm vực,các cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình: dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180km, rộng30km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000m; dãy núi Sông Mã dài 500km, cónhững đỉnh cao trên 1800m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà(còn gọi là địa máng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ
và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà còn có một dãy caonguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các caonguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Cũng có các lòng chảo như: Điện Biên, Nghĩa Lộ,Mường Thanh
+ Khí hậu: đặc biệt do chịu sự tác động của địa hình Sự thay đổi của khí hậu xảy ra trêntừng khu vực nhỏ Những thay đổi về khí hậu ở khu vực miền núi mang tính chất cựcđoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoáihóa Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũquét, hạn hán vào mùa khô thường xảy ra
+ Tài nguyên: đa dạng, phong phú với các loại tài nguyên như khoáng sản (Đất hiếm,Crômit, Thiếc, sắt,Ti tan, đá quý, đá vôi,…), rừng, sông ngòi có giá trị lớn về thủy điện
- Địa lí nhân văn:
+ Trên địa bàn này có hàng chục dân tộc sinh sống, trong đó có các dân tộc tiêu biểu như:Tày (1.477.514 người), Thái (1.328.725 người), Mường (1.137.515 người), Nùng(856.412 người), Mông hay Mèo (787.604 người), Dao (620.538 người),… (1999)
+ Tây Bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao (đỉnh núi) lànơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao, Tạng Miến, với phươngthức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiênnhiên; vùng rẻo giữa (sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn -Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một
số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộcnhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Thái - Kadai, điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát
8
Trang 9triển nông nghiệp và các ngành nghề khác Sự khác biệt về điều kiện sinh sống vàphương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn Mặc dù văn hóachủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường.
+ Các ngôn ngữ ở Tây Bắc khá đa dạng:
Tiếng Thái thuộc nhóm Thái hay nhóm Thái Tây Nam, họ Thái-Ka đai
Các ngôn ngữ Tày và Nùng thuộc nhóm Tày hay nhóm Thái Trung tâm, họ Thái-Ka đai
Tiếng Việt và tiếng Mường thuộc nhóm Việt-Mường, nhánh Mon-Khmer, họ Nam Á
Tiếng Mông thuộc nhánh Mèo; tiếng Dao thuộc nhánh Dao; cả hai thuộc họ Mèo-Dao.Chính sự đa dạng về thành phần dân tộc, ngôn ngữ và sự cộng cư đan xen nhau khiến cho
hệ thống địa danh vùng này khá phức tạp
1.2.2 Số liệu thống kê
Qua nhiều tài liệu thành văn, nhóm nghiên cứu đã thu thập được 983 địa danh
Vì nhiều văn bản không ghi rõ địa bàn xuất hiện của địa danh và nhiều yếu tố chung vừaxuất hiện trong địa danh hành chính vừa xuất hiện trong địa danh chỉ núi đồi, sông suốinên nhóm nghiên cứu đã tạm xếp như sau (các biến thể xếp chung trong một hàng):
9
Trang 10CHƯƠNG 2:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH VÙNG TÂY, BẮC BẮC BỘ VÀ TÂY
BẮC TRUNG BỘ 2.1 Về đối tượng của địa danh
Vùng Tây, Bắc Việt Bắc và Tây Bắc Trung Bộ là nơi có địa hình cao, núi non trùngđiệp, có nhiều núi cao, thung lũng sâu, đồng bằng chiếm diện tích rất nhỏ, có các đồng
13,8
13,012,911,310,09,76,66,24,64,53,51,51,41,21,01,00,91,60,70,60,60,60,50,50,50,40,30,30,30,30,20,2
Trang 11bằng nhỏ chạy dọc ven biển Nơi đây có nhiều tài nguyên phong phú nên có nhiều dân cưtập trung sinh sống.
Địa bàn các dân tộc như Mường, Mèo, Thái, Dao,… cư trú phần lớn ở núi rừng trùngđiệp Xen giữa các núi đồi là ao, hồ, sông, suối,… Vì vậy bên cạnh các địa danh hànhchính, số địa danh chỉ núi đồi và sông suối chiếm số lượng khá lớn Do đó, chúng tôi tậptrung nghiên cứu vào ba loại địa danh trên Đó là ba đối tượng chủ yếu của địa danh vùngnày
2.2 Về ngôn ngữ tạo địa danh
Về trong các địa danh ở vùng này, ngoài số do người Kinh tạo ra, số địa danh đượccấu tạo bởi bốn ngôn ngữ sau đây chiếm số lượng lớn hơn cả: Thái, Tày, Nùng, Mường,bởi dân số của bốn dân tộc này đông hơn và địa bàn sinh hoạt của họ cũng rộng lớn hơn
+ Người Thái còn được gọi là Tày Khao (Thái Trắng),Tày Đăm (Thái Đen), TàyMười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc Họ đã
có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là con cháu người Thái di cư từ vùngđất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bây giờ Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3
ở Việt Nam, có mặt trên 63 tỉnh thành phố Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhómngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai Ở Việt Nam, 8 sắc tộc ít người Bố Y,Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái
+ Người Tày với các nhóm địa phương là Pa dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, là một dântộc thiểu số trong 54 dân tộc tại Việt Nam Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộcngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai Họ chủ yếu sống ở trung du và miền núi phíaBắc, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam có dân số1.626.392 người và có dân số đứng thứ 2 ở Việt Nam, có mặt trên 63 tỉnh thành phố.Lạng Sơn (259.532 người, chiếm 34,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tạiViệt Nam), Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41% dân số toàn tỉnh và 25,5% tổng sốngười Tày tại Việt Nam), là nơi tập trung chủ yếu của họ
+ Người Nùng với các nhóm địa phương: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, NùngLòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín là một trong số
54 nhóm sắc tộc được chính phủ Việt Nam chính thức phân loại Người Nùng nói tiếngNùng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Ta-Kadai Theo Tổng điều tra dân số vànhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người là dân tộc có dân sốđứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố Người Nùng cư trú tậptrung tại các tỉnh: Lạng Sơn (314.295 người, chiếm 42,9% dân số toàn tỉnh và 32,4%tổng số người Nùng tại Việt Nam), Cao Bằng (157.607 người, chiếm 31,1% dân số toàntỉnh và 16,3% tổng số người Nùng tại Việt Nam), Bắc Giang (76.354 người),… Tộc danh
"Nùng" chính thức được gán cho những nhóm người này ở Việt Nam bắt đầu từ thời điểm
11
Trang 12thành lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945 Chính phủ Việt Nam chính thứctuyên bố người Nùng là một trong số 54 nhóm sắc tộc vào 1979 Hầu hết các phương ngữNùng đều được xếp vào nhóm Tai Trung tâm Tuy nhiên Nùng An (và Tráng Long'an tạiQuảng Tây, Trung Quốc) mang cả hai đặc điểm của nhóm Tai Bắc và Tai Trung tâm vềmặt âm vị và từ vựng André Haudricourt xếp phương ngữ Nùng An cùng ba ngôn ngữkhác ở Việt Nam: Yáy (Giáy), Cao Lan, Ts'ưn-wa vào một nhóm riêng mà ông gọi là
"Yáy" Yáy của Haudricourt tương đương với nhóm Tai Bắc được Lý Phương Quế phânloại Pittayawat Pittayaporn (2009) xếp Tráng Long'an (Nùng An tại Việt Nam) vào tiểunhóm M cùng với Tráng Vũ Minh, Yongnan, Fusui… Người Nùng dùng chữ Hán haychữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ 17) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dângian
+ Người Mường là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, là thànhviên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Người Mường nói tiếng Mường, ngôn ngữthuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam
Á Người Mường tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh ThanhHóa Dân số tại Việt Nam theo kết quả Điều tra dân số năm 2009 là 1.268.963 người.Người Mường có quan hệ rất gần với người Kinh Các nhà dân tộc học đưa ra giả thuyếtngười Mường và người Kinh có nguồn gốc chung là người Việt-Mường cổ Thời kỳ ngànnăm bắc thuộc thì bộ phận người cư trú ở miền núi ít bị Hán hóa, bảo tồn lối sống đếnnay là người Mường, còn bộ phận ở trung du và đồng bằng có sự hòa trộn với ngườiphương bắc về văn hóa và nhân chủng thì thành người Kinh Quá trình chia tách Mường -Kinh, xác định theo ngôn ngữ học thì diễn ra từ Tk VII-VIII và kết thúc vào Tk XII, thờiNhà Lý… Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ chi Việt của ngữ
hệ Nam Á Tiếng Mường rất gần với tiếng Việt có thể nói một cách khái quát (nhưngkhông tuyệt đối, khoảng 75%) như sau:
• Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên là thành tiếng mường như: Con, conchim, con voi, ăn, cho, tiêu pha = tiêu pha một số từ khác phụ âm đầu: tay = thay, đi = ti,
đi, con dê = con tê
• Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải = của cải, đểu = đểu, giả =giả
• Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã = đả, những = nhửng
• Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng = nắng (phát âm lại ~ nặng =nắăng, tận = tấn (tấân)
• Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục" thì giữ nguyên không chuyển dấu: đông đặc = đôngđặc
• Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thì thành dấuhuyền: nắng = đằng (ví dụ: trời nắng = trới đằng)
• Một số từ không theo quy luật: cây tre = cân pheo, xưng hô (chú = ô, cháu = xôn), nhìn(ngắm) = hẩu, trông thấy = hẩu kỉa, ở giữa = ở khừa (khá giống phương ngữ Thanh -Nghệ - Tĩnh)
• (Bổ sung một số từ không theo quy luật: Qua một số các cụm từ ngữ âm tiết đã đăng cơbản đều đúng, riêng theo tôi thấy có một số cần bổ sung và chỉnh như sau (vùng NgọcLặc, Thanh Hóa xưng hô): cháu = xôn; em = ùn; chị = ớơi (phát âm là ới sau là ơi (không
12